Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

November 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Lưu Linh
Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quách Tấn
Keywords
những thường Liên Pháp Đường Trọng Hạnh Trần Xương Khuyến Chỉnh nguyễn miền dũng Phong bính quang nhất huyền Huynh

Share | 
 

 Nguyễn Đình Chiểu

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu   Tue Jul 03, 2012 10:06 am

Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888)


I.GIỚI THIỆU VỀ CUỘC ÐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

1.Cuộc đời:

Nguyễn Ðình Chiểu (chữ Hán: 阮庭沼) là người mở đầu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX, tên tuổi ông là tượng trưng cho lòng yêu nước của nhân dân miền Nam, và thơ văn ông là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta.

Nguyễn Ðình Chiểu sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương phủ Tân Bình, Gia Ðịnh và mất ngày 3-7-1888 tại Ba Tri, Bến Tre.

Cuộc đời Nguyễn Ðình Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến và quốc biến hải hùng đã tác động đến nhận thức của ông.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Ðình Chiểu đã theo cha chạy giặc. Từ một cậu ấm con quan, bỗng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn, trả thù, chém giết. Lớn lên, bị bệnh mù mắt, bị gia đình giàu có bội ước, công danh dang dở. Mặc dù cuộc đời Nguyễn Ðình Chiểu gặp nhiều bất hạnh nhưng lúc nào ông cũng gắn bó với nhân dân. Tuy sống trong cảnh mù lòa nhưng Nguyễn Ðình Chiểu đã tiến thân thành danh bằng con đường hành đạo của mình. Ông đã mở lớp dạy học, viết văn và hốt thuốc chữa bệnh cho dân. Lúc nào ông cũng quan tâm lo lắng cho chiến sự. Ở đâu ông cũng làm cùng một lúc ba nhiệm vụ của ba người tri thức để cứu dân, giúp đời.

Nguyễn Ðình Chiểu có nhiều nghị lực và phẩm chất, phải có nghị lực phi thường và khí phách cứng cỏi thì Nguyễn Ðình Chiểu mới vượt qua những bất hạnh của cá nhân và thời cuộc để đứng vững trước cơn binh lửa hãi hùng của lịch sử mà không sờn lòng, nản chí. Nguyễn Ðình Chiểu là hiện thân của nhiều phẩm chất cao đẹp làm người. Trong ứng xử cà nhân, Ðồ Chiểu là tấm gương sáng về đạo hiếu nghĩa nhân từ. Tất cả cô đúc lại thành khí tiết của nhà nho yêu nước Việt Nam tiêu biểu cho giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.

2.Sự nghiệp văn chương:

2.1.Quá trình sáng tác:

Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Ðùnh Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng.

Nguyễn Ðình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hầu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung có thể chia ra thành hai thời kỳ sáng tác:

-Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: Tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay, có tính chất tự truyện.

- Pháp xâm lược Nam Kỳ:

+ Tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu có ý kiến cho rằng tác phẩm được viết trước khi Pháp xâm lược cũng có ý kiến ngược lại, mục đích của tác giả là dạy đạo Khổng cho học trò và sau này được sửa lại cho phù hợp với tình hình.

+ Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp chủ yếu nói về các phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước.

+ Các bài thơ Ðường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc(1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Ðịnh(1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng(1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh(1874), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch đánh chuột chưa xác định thời điểm sáng tác.

Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối các ân tứ. (Có nhiều giai đoạn về thái độ bất hợp tác của Nguyễn Ðình Chiểu với kẻ thù).

Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.

2.2.Quan điểm văn chương:

Nguyễn Ðình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan điểm văn chương riêng. Quan điểm văn dĩ tải đạo của ông khác với quan niệm của nhà nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà nho quan niệm Ðạo là đạo của trời, còn Ðồ Chiểu cũng nghĩ đến nhưng có khác:

Ðạo trời nào phải ở đâu xa
Gẫm ở lòng người mới thấy ra


Trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người đáng quý hơn nhiều. Ðó là quan niệm bao trùm văn chương Ðồ Chiểu.

Quan điểm văn chương Ðồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và tinh thần nhân ái.

II.NỘI DUNG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN ÐÌNH CHIỂU:

1. Tác phẩm Luc Vân Tiên:

1.1. Tóm tắt cốt truyện:

Ðây là câu truyện thơ lục bát dài 2082 câu. Cốt truyện được tóm tắt như sau:

- Lục Vân tiên gặp Kiều Nguyệt Nga (Câu 1-186)

- Lục Vân Tiên bị tai nạn dồn dập và được cứu giúp (Câu 187-1264)

- Kiều Nguyệt Nga bị cống Phiên (Câu 1265-1664)

- Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nên nghĩa vợ chồng (câu 1665-2082)

1.2. Lục Vân Tiên thể hiện Ðạo làm người trong cuộc đời thường:

1. Ðạo đức nhân nghĩa trong tác phẩm Lục Vân Tiên

Khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Ðình Chiểu bắt nguồn từ tư tưởng nhân nghĩa của nho giáo và trong thâm tâm, ông từng khẳng định và ca ngợi đạo nho Theo đường nhân nghĩa chi bằng đạo nho.

Viết tác phẩm Lục Vân Tiên, tác giả có nêu lên những tấm gương về luân lý, đạo đức kiểu Nhị thập tứ hiếu nhằm mục đích giáo huấn, cải tạo xã hội:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.


Quan niệm này xuất hiện rải rác trong toàn bộ tác phẩm thông qua hành động và tính cách các nhân vật (Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu Ðồng…) dễ làm ta nghĩ đến những quan niệm phong kiến Nam nữ thụ thụ bất thân, về lòng trung thành, về chữ trung, chữ tiết phong kiến.

Nhưng trong khi thực hiện đạo đức nhân nghĩa, Nguyễn Ðình Chiểu đã nhào nặn lại tư tưởng của đạo nho, đã tiếp thu một cách sáng tạo phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Trong tác phẩm có đặt ra vấn đề trung, hiếu, tiết, nghĩa nhưng không còn theo lý thuyết nho giáo gò bó, áp đặt, cứng nhắc, cực đoan theo kiểu phong kiến mà được khúc xạ đến mức khó nhận ra.

Các nhân vật không thấy mình bị gò bó bởi một nguyên lý đạo đức nào. Vân Tiên nghe theo lệnh vua đi chống giặc Ô Qua là để cứu dân. Ðó là hành động trung quân hay ái quốc cũng được. Tư tưởng trung quân của Nguyễn Ðình Chiểu là trung quân có điều kiện, trung với lẽ phải, trung với nước. Nhưng đối với những ông vua xấu, vua ác thì ông phê phán:

Quán rằng: ghét việc tầm phào
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm.
Ðể dân đến nỗi sa hầm sẩy hang
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời Ngũ bá phân vân,
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời Thúc quý phân băng,
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng hại dân…


Hành động tự trầm của Nguyệt Nga cũng là thái độ phản kháng đối với chữ trung.

Nghĩa tình nặng cả hai bên.
Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu.


Nguyễn Ðình Chiểu là một nhà nho sống dưới thời nhà Nguyễn là thời kỳ nho giáo được đề cao. Nhưng có được một quan niệm đạo đức như thế rõ ràng là tiến bộ. Như vậy, tuy tác phẩm có đề cao trung , hiếu tiết, hạnh nhưng không phải hoàn toàn thuộc quan niệm phong kiến mà có nhiều yếu tố nhân dân.

Ðứng trên lập trường nhân dân, ông ca ngợi những người hành động vì nhân nghĩa và họ xem đó là một nhu cầu mà không hề nghĩ đến lợi danh, không cần báo đáp.

- Ðó là những người rất hào hiệp, nghĩa khí Giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha Vân Tiên Tả xung hữu đột đánh cướp cứu Nguyệt Nga, Hớn Minh bẻ giò con quan tri huyện để cứu người bị ức hiếp thế cô.

- Họ còn là những người tốt, giàu lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người khác không nghĩ đến thân, quên mình vì nghĩa. Ông Ngư hết lòng chăm sóc cho Vân Tiên trong lúc hoạn nạn:

Hối con vầy lửa một giờ
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.
Ngư rằng: lòng lão chẳng mơ
Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn
Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu nhân nghĩa chi sờn lòng đây.


Tất cả việc làm vì nghĩa của các nhân vật chính diện trong tác phẩm Lục Vân Tiên đều thể hiện được một quan điểm nhất quán của Ðồ Chiểu về cuộc sống, cũng như về đạo đức.

Ðể khẳng định tư tưởng nhân nghĩa, một mặt, ông ca ngợi cái chính nghĩa mặt khác ông phê phán cái phi nghĩa. Các nhân vật trong tác phẩm được sắp xếp thành hai tuyến nhân vật rất rõ. Một bên là những con người chính nghĩa và bên kia là những kẻ bất nhân bất nghĩa như gia đình họ Võ ăn ở hai lòng, như Trịnh Hâm tính tình đố kỵ nhỏ nhen; như Bùi Kiệm dâm ô, dốt nát và hàng loạt những tên lang băm, phù phép, bối toán nhiễu đời, hại dân cùng với những tên sâu dân mọt nước như tên Vua Sở, tên Thái Sư trong truyện. Tất cả những nhân vật phản diện này đều tiêu biểu cho cái xấu, cái ác nên cuối cùng đều bị trừng trị thích đáng.

Cách xử lý của tác giả rất gần với quan niệm của nhân dân Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Ðó cũng chính là đạo lý, là ước mơ của nhân dân.

2. Lục Vân Tiên thể hiện bản chất đạo lý nhân dân:

Vấn đề đạo lý còn được thể hiện qua các quan hệ khác trong tác phẩm: Cha con, chồng vợ, thầy trò, bạn bè… Nguyễn Ðình Chiểu đã đặt ra những tình huống xử thế trong các mối quan hệ đời thường, gia đình và xã hội. Nó rất gần gũi và cần thiết với cuộc sống hàng ngày và bao trùm hơn cả là mối quan hệ giữa con người với con người.

Mối tình Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga được vun đắp từ vấn đề ân nghĩa. Khi nghe tin Vân Tiên mất, nàng kiên quyết thủ tiết thờ chồng. Nỗi đau buồn của nàng khi được lệnh cống Ô qua: Trong dạ như bào, canh chày chẳng ngủ, những thao thức hoài… và lấy cái chết để giữ tình phu phụ. Vân Tiên cảm phục tấm lòng sắt son chung thủy của người yêu nên đã không ngần ngại Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn. Vân Tiên đã làm một việc mà đạo đức phong kiến không cho phép. Cũng giống như Nguyệt Nga, nàng đã vượt qua lễ giáo phong kiến tự ý đính ước với Vân Tiên.

Các nhân vật chính diện trong tác phẩm sống rất hồn nhiên, cởi mở. Họ sống có tình, có nghĩa, giản dị, chân chất. Tình thầy trò giữa Tôn Sư và Vân Tiên, tình cảm bạn bè giữa Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh; Tình nghĩa chủ tớ giữa Vân Tiên với Tiểu Ðồng; giữa Nguyệt Nga và Kim Liên được miêu tả giống với cuộc sống và quan niệm của nhân dân. Ðoạn Vân Tiên bày tiệc tế Tiểu Ðồng rất cảm động, nhưng Tiểu Ðồng còn sống, gặp lại nhau tớ thầy vui mừng không xiết:

Trạng nguyên khi ấy mừng vui
Tớ thầy sum hiệp tại nơi Ðại đề
Ðoạn thôi xe trở ra về…


Vân Tiên cùng các bạn là Hớn Minh, Tử Trực vẫn thân thiết như ngày trước:

Hai người gặp lại hai người
Ðều vào một quán vui cười ngả nghiêng.


Bản chất nhân dân còn thể hiện qua đặc điểm tính cách của nhân vật. Quan điểm thương ghét của Ông Quán rất rõ ràng, dứt khoát tiêu biểu cho tính cách của người dân Nam bộ, quan điểm này cũng xuất phát từ tấm lòng thương yêu trìu mến Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Hớn Minh là người nghĩa khí, hành động bẻ giò con quan tri huyện ỷ thế giàu sang làm càng là tiêu biểu cho hào khí của người dân lục tỉnh. Cũng như Tử Trực được miêu tả là một người trực tính, không màng danh lợi, sống có tình có nghĩa, rất mực yêu quý bạn, nghe tin Vân Tiên mất chàng than khóc:

Nghe qua Tử Trực chạnh lòng
Hai hàng nước mắt ròng ròng như mưa.


Nhưng tiêu biểu nhất là nhân vật Lục Vân Tiên, chàng là mẫu ngưỡi lý tưởng nên hội đủ các điều kiện mà nhân dân mơ ước: trọng nghĩa khinh tài, phò đời giúp nước, đối nhân xử thế đều theo quan điểm nhân dân.

1.3. Lục Vân Tiên từ dáng dấp một tự truyện, một giấc mơ đến lý tưởng xã hội:

1.Từ dáng dấp một tự truyện, một giấc mơ:

Lục Vân Tiên là một câu chuyện mang tính chất tự truyện. Tính chất tự truyện thể hiện qua những chi tiết có tính chất bề nổi và bề sâu của tác phẩm. Chính nội dung tự thuật này đã bao quát toàn bộ cốt truyện và thể hiện suốt chiều dài tác phẩm.

Lục Vân Tiên thể hiện giấc mơ Ðồ Chiểu Người thanh niên bị phụ tình đã ước mơ một mối tình chung thủy. Chàng ước mơ những cử chỉ anh hùng, mơ ước trả nợ nước non và tâm sự ấy chàng đã gửi vào Tử Trực, vào Hớn Minh, nhất là vào Vân Tiên. Vân Tiên cũng bị mù nhưng sẽ có thuốc tiên chữa cho sáng mắt ra. Vân Tiên sẽ thực hiện cái chí bình sanh của Nguyễn Ðình Chiểu(*)

Ngoài giấc mơ riêng tư còn là giấc mơ chung về cuộc đời rộng lớn mà tự nó đã thể hiện ý nghĩa xã hội sâu sắc.

2. Ðến một lý tưởng xã hội:

- Lục Vân Tiên là cả một xã hội, tất nhiên là xã hội phong kiến với đầy đủ các hạng người: Vua quan, thứ dân, đứa ở, kẻ sĩ… Một xã hội với đầy đủ những người tốt, kẻ xấu. Nguyễn Ðình Chiểu đã dựng ra cả một cuộc đời để gửi gấm lý tưởng xã hội của mình.

- Nhà thơ đã xây dựng những mẫu người lý tưởng, qua những nhân vật lý tưởng, ông muốn xây dựng một xã hội lý tưởng. Ở đó, cái tốt đẹp được coi trọng và ngưỡng mộ, người tài đức được trọng dụng, các oan khuất được giải minh. Tóm lại, đó là xứ sở của điều thiện, lẽ sống công bằng và lòng nhân ái.

- Bên cạnh đó, nhà thơ phê phán những bất nhân, bất nghĩa. Qua diễn tiến và kết cục của số phận nhân vật phản diện trong tác phẩm, Nguyễn Ðình Chiểu muốn nói lên rằng muốn xây dựng một xã hội lý tưởng phải tiêu diệt những hạng người xấu xa, độc ác.

Cách xử lý này tuy có phần ảo tưởng và thỏa hiệp nhưng có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó thể hiện sự cao thượng và càng làm cho tính cách của nhân vật chính diện càng lý tưởng hơn, thể hiện được tư tưởng lạc quan của nhân dân: Cái ác, cái xấu dẫu được người tha, thì vẫn là Trời không dung, đất không tha.

- Tác phẩm có xây dựng các yếu tố thần kỳ: Giao long, phật bà, du thần, hai đạo bùa… Các yếu tố thần kỳ này đã được sự tiếp tay, tiếp sức cho chính nghĩa, thể hiện khát khao công lý và nhân ái của nhân dân.

1.4. Vài đặc điểm về nghệ thuật:

1. Kết cấu:

Kết cấu không khác mấy so với truyện thơ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX, là vẫn xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập nhau nhưng trong Lục Vân Tiên sự đối lập được thể hiện trong từng cặp nhân vật một: Hớn Minh >< Trịnh Hâm; Tử Trực >< Bùi Kiệm; Kiều Nguyệt Nga >< Võ Thể Loan> xây dựng kiểu kết cấu này giúp tác giả trực tiếp bày tỏ quan điểm của mình.

2. Sự chuyển ý:

Lục Vân Tiên là một tác phẩm được sáng tác để kể hơn là để xem nên cách chuyển ý rất đơn giản và thoải mái. Từng chương, mục trong tác phẩm không đòi hỏi sự liền mạch và nhất quán vì ở mỗi chương, mục là một nội dung, là một câu chuyện riêng. Ta vẫn có có thể đọc từng hồi, từng thứ, từng đoạn nhưng vẫn hiểu mục đích và nội dung của tác phẩm. Chẳng hạn như đoạn thương ghét của ông Quán, sự triết lý của ông Quán, ông Ngư, ông Tiều về sự đời, hay những đoạn chế giễu sự khoác lác, bịp bợm của bọn lang băm, thầy bói, thầy pháp… đều gây ấn tượng mạnh mẽ:

Pháp rằng: Ấn đã cao tay
Lại thêm phù chú xưa nay ai bì
Qua sông cá thấy xếp vi
Vào rừng cọp thấy phải quỳ lại thưa


Cuối cùng cũng lộ rõ mục đích thực dụng của chúng:

Có ba lạng bạc trao sang
Thì Thầy sắm sửa lập đàn chạy cho.


3. Ngôn ngữ:

Tác phẩm này được sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa nên nhiều chỗ còn thô vụng. Tuy nhiên ngôn ngữ trong Lục Vân Tiên phục vụ đắc lực cho việc kể. Phần nhiều là những lời thơ nôm na, mộc mạc, chất phác, dễ nhớ, dễ truyền miệng trong dân gian.

4. Sử dụng thành ngữ, ca dao:

Thành ngữ, ca dao đã tham gia hình thành Lục Vân Tiên khá độc đáo. Thí dụ như đoạn đối đáp của ông quán với Trịnh Hâm…

5. Ðiển cố:

Ðiển cố được lấy từ tích các truyện Tàu, là những điển tích quen thuộc với nhân dân. Ví dụ như đoạn Tử Trực mắng cha con Võ Thể Loan; đoạn thương ghét của ông Quán…

6. Xây dựng tính cách nhân vật:

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên có đoạn nhà thơ đặt chân vào hoàn cảnh có kịch tính, có nhiều chỗ nhân vật cần bộc lộ tâm trạng nhưng nhà thơ chưa thể hiện hết tâm trạng đó. Vì vậy, tâm lý nhân vật còn nhiều khô khan, gò bó, gượng gạo. Ðoạn Lục Vân Tiên cứu Nguyệt Nga, đoạn sum họp.

Lục Vân Tiên là tác phẩm cuối cùng kết thúc một giai đoạn văn học. Tác phẩm đã kế thừa nhiều mặt truyền thống củ văn học nhân gian, của truyện thơ Nôm bình dân, đã thể hiện trữ tình đạo đức và tính nhân dân sâu sắc.

2. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu:

2.1.Ðặc điểm về thơ văn yêu nước chống Pháp:

- Thơ văn yêu nước của Nguyễn Ðình Chiểu thể hiện tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Ðình Chiểu đã kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của cha ông trong kháng chiến chống ngoại xâm. Tiêu biểu là tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.


- Trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Ðình Chiểu, tư tưởng nhân nghĩa được mở rộng thành lời kêu gọi động viên kêu gọi cứu nước:

Mến nghĩa bao đành làm phản nước
Có nhân nào nỡ phụ tình nhà

(Dương Tử-Hà Mậu)

Ông đã từng tâm niệm:

Hễ làm người chớ ở hai lòng
Ðã vì nước phải theo một phía


Và sử dụng thơ văn yêu nước làm vũ khí đấu tranh sắc bén:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm.
Ðâm mấy thằng gian bút chẳng tà


- Nguyễn Ðình Chiểu đã xác định vị trí chiến đấu của mình, vị trí vinh quang gắn liền với truyền thống của người trí thưc Việt Nam. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Ðình Chiểu giữ vị trí tiên phong của thời đại, cả mở đầu lẫn dẫn đầu, cả về chiều sâu lẫn độ cao, độ chín. Ðó là bước phát triển vượt bậc nhưng vẫn nhất quán và liền mạch.

2.2.Các nhân vật chính trong thơ văn yêu nước chống Pháp:

1. Nhân vật là người nông dân đánh Tây:

1.1. Vị trí của người dân trong văn chương:

Trước đây vai trò của người dân chưa được đề cao trong văn chương. Trong giai đoạn trước Nguyễn Ðình Chiểu, người dân cũng giữ vai trò quan trọng nhưng chua quyết định như giai đoạn này. Nhân dân chỉ là lực lượng phục tùng. Số phận của họ được định đoạt dựa vào nhà nước phong kiến.

Trong thơ văn yêu nước, vai trò người dân nổi bật hơn trước. Họ trở thành người dân mộ nghĩa, thành trang dẹp loạn. Trong số ấy có người là Dân ấp, dân lân, những người nông dân Nam bộ cùng khổ lúc bấy giờ. Họ trở thành nhân vật chính mà sử sách gọi là người nghĩa sĩ nông dân và Nguyễn Ðình Chiểu đã viết về họ như những người anh hùng của thời đại.

1.2.Cái nhìn mới mẻ về người nông dân trong cuộc đấu tranh chống Pháp:

Từ Chạy Tây đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, người dân Nam bộ đã đi những bước thật dài và cái nhìn của Ðồ Chiểu cũng tiến những bước thật dài. Ở Chạy Tây là nhân dân và ở Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là người nông dân.

Nguyễn Ðình Chiểu đã khái quát về thời cuộc và đánh giá khái quát về cuộc đời nhân vật, kể về cuộc đời nhân vật là người nông dân nghèo khổ, chưa quen với việc cung kiếm binh đao bỗng chốc trở thành người nông dân đánh Tây. Họ yêu nước, tự ý thức được nghĩa vụ của mình nên chiến đấu rất dũng cảm kiên cường và lập nên những chiến công hiển hách:

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Khá khen thay! Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo vòng ở lính diễu binh,
chẳng qua là dân ấp, dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Mười tám ban võ nghệ, nào nơi tập rèn, chín chục trận binh thư không chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;
trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xonh nhà dạy đạo kia;
gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô của xông vào liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu chiếc, tàu đồng, súng nổ.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Ngòi bút Nguyễn Ðình Chiểu đã ca ngợi họ và khắc sâu vào tâm trí hình ảnh bất tử của nghĩa quân, nhắc lại quá trình chiến đấu gian khổ mà người nông dân Cần Giuộc đã trải qua. Ðó là con đường của dân tộc đã đi từ bấy đến giờ, rất thực và cũng rất thơ.

1.3.Tấm lòng của nhà thơ:

Tình cảm của nhà thơ đối với người đã mất cũng như đối với người còn sống là rất nhân hậu và thành thực. Nhà thơ đau xót trước sự hy sinh của nghĩa quân và trút trách nhiệm ấy lên bọn vua quan bán nước.

Vì ai khiến dưa chia khăn xé, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồng.
Biết thuở nào cờ phất, trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái


Tác giả thương người còn sống, thương mẹ già, vợ góa, con côi… tình cảm đó được diễn đạt bằng những câu thơ rất não nùng.

Ðau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét ở trong lều.
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ


Nhà thơ còn nghĩa đến quê hương, đến đồng bào trong cơn lửa loạn và nhỏ lệ khóc thương

Binh tướng nó hãy đóng ở sông Bến Nghé làm cho bốn phía mây đen.
Ông cha ta còn ở đất Ðồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ


2. Nhân vật là người sĩ phu kháng Pháp:

Là những lãnh tụ nghĩa binh chống Pháp như Trương Ðịnh, Phan Tòng… Nhà thơ đã ca ngợi, nhắc nhở, ghi công trạng của họ.

Ca ngợi Trương Ðịnh, Phan Tòng Vì nước, giúp đời, xem thường cái chết Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây. Hình ảnh của họ rất hiên ngang, đẹp đẽ, đi vào lịch sử và mang đậm nét bi hùng:

Làm người trung người đáng bia son
Ðứng giữa càng khôn tiếng chẳng mòn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước
Râu mày giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách nghìn thu rỡ núi non

(Ðiếu Phan Tòng)

Có thể nói, qua nguyên mẫu một Trương Ðịnh, Phan Tòng, Nguyễn Ðình Chiểu đã dựng lên hình tượng người sĩ phu tiêu biểu cho cả một tầng lớp kẻ sĩ ưu tú nhất của thời đại lúc bấy giờ.

3.Nhân vật là người trí thức bất hợp tác với kẻ thù:

Hình ảnh Kỳ Nhân Sư trong tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tiêu biểu cho người tri thức bất hợp tác với kẻ thù. Nhân Sư đã tự xông mắt cho mù để khỏi làm sĩ liêu, làm thái y cho giặc (Thà đui mà giữ đạo nhà). Ðây là hành động tự hủy để giữ thân, giữ đạo:

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.


Nhưng Nhân Sư không hề bỏ rơi trách nhiệm của mình, luôn làm điều thiện để thực hiện thiên chức cao cả: Làm thuốc, dạy thuốc chữa bệnh cho dân, tập hợp và giác ngộ những người dân yêu nước, đợi thời cơ ra cứu nước:

Hỡi bạn y lâm ai có hỏi
Ðò xưa bến cũ có ta đây


Từ thái độ của Nhân Sư có thể thấy được thái độ của Nguyễn Ðình Chiểu: Yêu nuớc nhưng bất lực đến dày vò tâm hồn:

Ðã cam chút phận dở dang
Trí quân hai chữ mơ màng năm canh


Mặc dù bất lực nhưng tác phẩm vẫn thể hiện được niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai dân tộc:

Bao giờ nhật nguyệt dày gương sáng
Bốn bể câu ca hiệp một nhà


Và điều cảm động là tấm lòng của nhà thơ trước sau cũng đều thuộc về dân, về nước, thủy chung, son sắt:

Mắt nhìn trong tiết thanh minh,
U Yên đất cũ cảnh tình trêu ngươi.
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương.
Cỏ cây đưa nhánh đón đường,
Như tuồng nếu hỏi: Ðông hoàng ở đâu?
Bên non đá cụm cuối đầu,
Như tuồng oan khuất lạy cầu cứu sinh.
Líu lo chim nói trên cành,
Như tuồng kẻ mách tình hình dân đau.
Ngày xuân mà cảnh chẳng xuân,
Mưa sầu, gió tủi biết chừng nào thanh!


Có thể thấy ba nhân vật chính đã trở thành văn chương. Ba nhân vật nhưng cùng mộ tấm lòng, một thái độ. Tấm lòng đối với dân và thái độ đối với kẻ thù. Ðó cũng là mẫu người và cách sống cao đẹp nhất mà khuôn khổ lúc bấy giờ quy định và cho phép.

III. KẾT LUẬN:

Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tiên của nhân dân Nam bộ có tiếng vang và được đón nhận mang tầm cả nước và đến thơ văn yêu nước, Nguyễn Ðình Chiểu không chỉ đứng đầu và mở đầu của v ăn chương yêu nước mà còn đưa ông lên hàng tác gia lớn của văn chương cả nước trong dòng chủ lưu này.

Nguyễn Ðình Chiểu xứng đáng là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội miền Nam nửa sau thế kỷ XIX và trong thực tế ông là lá cờ đầu trong của dòng văn học yêu nước Nguyễn Ðình Chiểu là người trí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta và sự nghiệp của Nguyễn Ðình Chiểu là tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng (Phạm Văn Ðồng)

Nguồn: Chép lại từ tư liệu của bạn Co Kiem Hung
(Không thấy Co Kiem Hung ghi lại từ sách nào).
www.nhanmonquan.net

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 8:41 am

Thư Mục
  • Hoa sen lỗi thì
  • Hoàng trùng trập khởi
  • Làm thuốc
  • Lăng mẫu tống sứ
  • Mưa dầm thi
  • Ngựa Tiêu sương
  • Nước lụt thi
  • Thảo thử hịch
  • Thất Kinh Châu
  • Thư gửi cho em
  • Trời bão
  • Từ biệt cố nhân
  • Tứ dân - công
  • Tứ dân - nông
  • Tứ dân - sĩ
  • Tứ dân - thương
  • Tú tài Chiểu tự thuật
  • Tự thuật (I)
  • Tự thuật (II)
  • Thà đui
  • Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
  • Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh
  • Văn tế Trương Định
  • Viếng cụ Phan Thanh Giản bài 1
  • Viếng cụ Phan Thanh Giản bài 2
  • Vương Lăng biếm Trần Bình
  • Xem bói
  • Xúc cảnh
  • TRUYỆN THƠ


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 8:54 am

    Chạnh tưởng Khổng Tử [1]


    Biết ơn phụ tử[2] nghĩa quân thần,[3]

    Nhờ có trời sinh đức thánh nhân.

    Nét mực tu kinh[4] ngăn đứa loạn

    Dấu xe hành đạo[5] rạch trong trần.

    Trong đời còn cám lời than phụng,[6]

    Muôn thuở đều thương tiếng khóc lân.[7]

    Phải đặng bút Châu biên sách Hán,

    Mọi nào dám tới cạo đần dân.





    Nguyễn Đình Chiểu

    1. Khổng Khưu tự Trọng Ni, xướng ra đạo Nho, được người đời suy tôn là phụ tử, tổ đạo Nho.
    2. Cha con.
    3. Vua tôi.
    4. San định lại các kinh sách, để làm mực thước cho đời sau.
    5. Đem đạo học truyền bá ra.
    6. Đời Chu Văn vương, thái bình, có chim phụng gáy ở non Kỳ. Đến đời suy chẳng còn thấy những giống vật linh xuất hiện, Khổng Tử chạnh than khóc lân phụng: "Đường Ngu chi thế hề lân phụng du. Kim phi kỳ thì hề lai hà câu. Lân hề lân hề ngã tâm ưu". (Đời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn thì có lân, có phụng ra chơi. Nay chẳng phải thời kỳ ấy ra làm gì! Lân ơi! Lân ơi! lòng ta sầu.)
    7. Tương truyền khi Khổng Tử sinh, có kỳ lân ra đời. Khi Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu, nghe người ta bắn què con lân, thì vứt bút mà than (xem nghĩa chú thích trên) và ngậm ngùi nói: "Ngô đạo cùng hỷ" (Đạo ta cùng rồi). Bèn dừng kinh Xuân Thu không soạn nữa.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 8:57 am

    Chạy Tây [1]


    Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

    Một bàn cờ thế phút sa tay.

    Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

    Mất ổ bầy chim dáo dác bay.

    Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

    Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

    Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

    Nỡ để dân đen mắc nạn này?





    Nguyễn Đình Chiểu

    1. Chạy Tây (có sách ghi là Chạy giặc) là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỷ 19
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:03 am

    Chúng tử tế mẫu văn [1]


    Hỡi ôi!

    1. Dấu hạc xa miền; Tiếng quyên não tức.

    2. Sách nói hoa phút bay thời nước cũng chảy, đổi dời theo phận, máy trời đất khéo xoay; Ai rằng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, ngơ ngác nỗi mình, tình mẹ con vội đứt.

    Nhớ linh xưa:

    3. Trọn đạo tam tòng; Giữ phần tứ đức.

    4. Ở ruộng nương theo nghề ruộng, dư lúa dư tiền; Lấy chồng lo việc nhà chồng, hết lòng hết sức.

    5. Khi[2] tuổi trẻ cười cay nói đắng, mấy lần sinh sản, đám dây dưa rậm rạp trước sân; Lối mình già đứt thúng vỡ chình, chút phận quả sương, chiếu thuyền bách linh đình giữa vực.

    6. Ngàn muôn việc nhọc nhằn đã lắm nỗi, nhắm bề ăn ở ước ngỡ lâu còn; Bẩy mươi năm sung sướng đã mấy hồi, coi chứng bịnh đau ai dè vội mất.

    7. Hốt thuốc thương hàm hay lắm, thầy Hương có thầy ba cũng có, trên giường thiếp thiếp, lẽ hơn thua chưa trối lại vài lời; Nghe tin báo bổ trông hoài, con trai xa con gái cũng[3] xa[4], hơi thở chừng chừng, lòng thương nhớ thẩy đều trong một giấc.

    8. Những tưởng mất cha còn mẹ, lúc nghiêng nghèo cho trẻ đặng nhở hơi; Há đành bỏ cháu giã[5] con đi, cơn ly loạn sao già đành nhắm mắt.

    9. Nào thủa trước miệng nhai cơm, lưỡi lừa cá chắt chiu bé lớn, đều nuôi cho nên vóc nên vai; Đến bây giờ đầu đội vải, lưng vấn rơm, kêu khóc trong ngoài, biết đâu đặng thấy mày thấy mặt.

    10. Cám là cám ba năm bồng ẵm, công so bốn bể chứa đầy; Thương là thương mười tháng cưu mang, ơn vì năm non đè chặt. Nghĩ lại:

    11. Nhau rún còn chôn làng Long Đức[6] , Mẹ về đâu mà lá cỏ ngọn cây rầu rầu; Xương thịt đành gửi đất Thanh Ba[7] mẹ về đâu mà tiếng gió tiếng trăng vặc vặc.

    12. Cậu còn đó, dì còn đó, bà con bên ngoại đều còn đó, mẹ đi đâu mà nhà sau cửa trước quạnh hiu; Chú ở đây, cô ở đây, họ hàng bên nội cũng ở đây, mẹ đi đâu[8] mà chiếu trải giường thờ lạnh ngắt.

    13. Cháu nội có, cháu ngoại có, bầy chát cũng có, hết trông bà miếng ngon miếng ngọt dành cho; Dâu lớn kia, dâu nhỏ kia, mấy rể còn kia, hết trông mẹ bề dại bề khôn vẻ nhắc.

    14. Muốn tron thảo dâng cơm dâng nước, ôi mẹ ôi rày còn chi nữa của sắm mà nuôi; Những trông khi nương cửa nương nhà, ý cha chả nói tới chừng nào ruột đau như cắt.

    15. Đội mũ mẫn than thân là gái, lấy chi đền[9] chín chữ cù lao; Chống gậy vông tủi phận là trai, lấy chi trả một câu võng cực.

    16. Đã biết không trở lại, âm dương hai ngả, mẹ lìa con vọi vọi chín tầng trời; Phần thương mất cũng như còn, hiếu kính một lòng, con xa mẹ sùn sùn ba thước đất.

    17. Sống gặp nhà nghèo; Thác nhằm buổi giặc.

    18. Mơ màng phách quế lúc năm canh; Thấp thoáng hồn hoa cơn sáu khắc.

    19. Từ đây rồi[10] phận trai đứa theo làng đứa theo lính, bơ vơ non Dĩ sương tản khói tan; Từ rồi đây phận gái đứa theo chồng đứa theo con, vắng vẻ nhà huyên đèn lờ hương tắt.

    20. Ba câu điện tửu, gọi là bầy nghĩa báo thân; Một tiệp sơ ngu, ngõ đặng nhờ ơn âm chất.

    Hỡi ôi thương thay! Có linh xin hưởng!



    Nguyễn Đình Chiểu

    1. Được chép trong một tập sách Hán Nôm do Phòng Bảo tồn bảo tàng Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Long An sưu tầm được. Cao Tự Thanh phiên âm và đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1988.
    2. Nguyên bản chép là ca, có lẽ lầm từ chữ khi. Đây tạm đính lại như trên.
    3. Nguyên bản có chữ ở chỗ này, đây tạm lược.
    4. Nguyên bản có chữ tấc ở chữ này, đây tạm lược.
    5. Nguyên bản không có chữ này, đây tạm thêm vào.
    6. Tên làng, nay thuộc xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc.
    7. Tên làng này thuộc xa Mỹ Lộc huyện Cần Giuộc, quê vợ Nguyễn Đình Chiểu.
    8. Nguyên bản không có ba chữ này, đây tạm thêm vào.
    9. Nguyên bản không có chữ này, đây tạm thêm vào.
    10. Nguyên bản không có chữ thời ở chữ này, đây tạm lược.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:13 am

    Con dê thi


    Ngọn roi Tô Vũ[1] dấu vừa qua,

    Dê của ai nuôi lại thả ra.

    Bờ cõi mấy năm từng dọn dẹp,

    Râu ria một lũ tới xông pha.

    Nằm cao đầu chẳng kiêng thần miếu,

    Ăn bậy sao không sợ chủ nhà.

    Phải đặng lưỡi gươm người Hứa Chử,[2]

    Be be đâu dám giẫm vườn ta.




    Nguyễn Đình Chiểu

    1. Tô Vũ (蘇武) là một nhà ngoại giao đời vua Hán Vũ Đế (140 TCN-87 TCN), nổi tiếng qua điển tích Tô Vũ chăn dê.
    2. Hứa Chử hay Hứa Trử (許褚), tên tự là Trọng Khang, là công thần khai quốc nhà Tào Ngụy thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông là tướng hầu cận bên Tào Tháo, nổi tiếng không chỉ với sức khỏe phi thường mà còn với sự trung thành, tận tụy, hết lòng vì chủ.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:19 am

    Đạo Trời


    Đạo trời nào phải ở đâu xa,[1]

    Gội tấm lòng người có giải ra.

    Mến nghĩa bao đành làm phản nước,

    Có nhân nào nỡ phụ tình nhà.

    Xưa nay đều chọn đường trung hiếu,

    Sách vở còn ghi lẽ chánh tà.

    Năm phẩm rừng nhu[2] săn sóc lấy,

    Ấy là đạo vị[3] ở mình ta.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Do câu "Đạo bất viễn nhân" (Đạo chẳng xa người).
    2. Tức ngũ kinh, năm pho sách trọng yếu của người học đạo nho: Thi, Thư, Lễ nhạc, Dịch, Xuân Thu.
    3. Mùi đạo.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:24 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 01 [1]


    Thương ôi! người ngọc ở Bình Đông

    Lớn nhỏ trong làng thảy mến trông.

    Biết đạo khác bầy con mắt tục

    Dạy dân nắm giữ tấm lòng công.

    Đặng danh vừa rạng bề nhà cửa,

    Vì nghĩa riêng đền nợ núi sông.

    Một trận trải gan trời đất thấy,

    So xưa nào thẹn tiếng anh hùng.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Phan Công Tòng: Người làng Bình Đông, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tử trận năm Mậu Thìn 1868 ở Giồng Gạch, cách chợ Ba Tri 2 cây số.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:35 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 02


    Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây

    Một giấc sa trường phận cũng may.

    Viên đạn nghịch thần treo trước mắt,

    Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay.

    Đầu tang ba tháng trời riêng đội,

    Lòng giận nghìn thu đất nổi dày.

    Tiếc mới một sồng ra đặt trụm.

    Cài xên, con rã, nghĩ thương thay!




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:38 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 03


    Thương thay! Tạo vật khuấy người ta,

    Năm đổi làm Tây, chính lại tà.

    Trống nghĩa bảo an theo sấm rạp,

    Cờ thù công tử guộng mây qua.

    Én vào nhà khác toan nào kịp,[1]

    Hươu thác tay ai vọi hỡi xa![2]

    Trong số nên hư từng trước mắt,

    Người ôi! trời vậy tính sao ra.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Lấy ý ở câu thơ của Lưu vũ Tích đời Đường: "Cựu thì Vương, Tạ đường tiền yến, Phi nhập tầm thường bách tính gia" (Thần xưa Vương, Tạ năm nào, Ngậm ngùi chiếc én bay vào nhà dân), ý nói ngậm ngùi cuộc đổi thay.
    2. Lấy lý ở câu: "Nhà Tần mất con hươu, thiên hạ đua nhau tranh". Con hươu chỉ về non nước.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:44 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 04


    Sao ra nhảy nhót giữa vòng danh,

    Son đóng chưa khô ấn đốc binh.

    Đuốc gió nhẹ xao đường thủy thạch,[1]

    Cỏ hoa ngùi đọng cửa trâm anh,[2]

    Trên giồng lửa cháy cờ tam sắc,[3]

    Dưới gảnh đèn lờ bản thất tinh.[4]

    Dẫu khiến nghe can vùng đất hiểm,

    Chờ trời nào đến tủi vong linh![5]




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Thủy thành thạch: một thứ đá bởi hoá thành thạch bị nước dội nát ra tụ lại một chỗ lâu ngày mà thành ra. Ý nói chốn êm ái.
    2. Trâm anh: trâm cài mũ buộc, nhà quan sang.
    3. Tam sắc: ba màu, cờ Pháp.
    4. Thất tinh bản: tấm ván đục bảy vì sao là ngôi sao Bắc Đẩu, lót trong săng người chết.
    5. Vong linh: Linh hồn người chết.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:49 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 05


    Vong linh sớm gặp buổi đời suy

    Trăm nét cân đo ít lỗi nghì.

    Bóng bọt hình hài vừa lố thấy,

    Ngút mây phú quý bỗng tan đi.

    Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy,

    Quan bảy tám ngày sướng ích chi.

    E nỗi dạ đài[1] quan lớn hỏi,

    Cớ sao xếu mếu cỏi Ba Tri.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Dạ đài: đài là đền đài; dạ là đêm. Chỉ về cõi âm, chỗ người chết ở.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:55 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 06


    Ba Tri từ vắng tiếng hơi chàng,

    Gió thảm mưa sầu khá xiết than.

    Vường luống trông xuân hoa ủ dột,

    Ruộng riêng buồn chủ lúa khô khan.

    Bầy ma bất hạnh[1] duồng làm nghiệt,

    Lũ chó vô cô[2] cũng mắc nàn.

    Người ấy vì ai ra cớ ấy,

    Chạnh lòng trăm họ khóc quan Phan.[3]




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Bất hạnh: chẳng may.
    2. Vô cô: tức vô cố, không có cớ gì.
    3. Quan Phan: tức Phan Thanh Giản.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 9:59 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 07


    Quan Phan thác trọn chữ trung thần,

    Ôm tiếng như người cũng nghĩa dân.

    Làng đế đành theo ông hữu đạo,[1]

    Cõi phàm hổ ngó lũ vô quân.[2]

    Lòng son xin có hai vần tạc,

    Giồng Gạch thà không một tấm thân.

    Ai khiến cuộc hòa ra cuộc chiến,

    Người qua An Lái luống bâng khuâng.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Hữu đạo: có đạo đức.
    2. Vô quân: không có phép tắc, dọc ngang chẳng kể trên đầu có ai.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:18 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 08


    Bâng khuâng ngày xế cả than trời,

    Ai đổ cho người gánh nạn đời.

    Nếm mật Cối Kê[1] đâu chẳng giận,

    Cắp dùi Bác Lãng[2] há rằng chơi.

    Một sòng cung kiếm rồi vay trả.

    Sáu ải[3] tang thương mặt đổi dời.

    Thôi! mất cũng cam, còn cũng khổ,

    Nay Kim mai Tống[4] thẹn làm người.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Nếm mật Cối Kê: Vua Việt là Câu Tiễn bị vua Ngô phù Sai đánh lấy nước, quản thúc ở Cối Kê, hằng nếm mật đắng để tự nhủ chẳng được quên thù.
    2. Cắp dùi Bác Lãng: Trương Lương người nước Hàn, đau lòng vì bị nước Tần đánh lấy nước mình, bèn mướn người lực sĩ cắp dùi đồng rình đập vua Tần Thuỷ Hoàng ở bãi Bác Lãng. Vua Tần may mắn thoát khỏi. Trương uất ức bỏ nước ra đi sau giúp nhà Hán đánh dứt được nhà Tần, trả thù cho nước cũ.
    3. Sáu ải: Đây nói về sáu tỉnh Nam Việt.
    4. Nay Kim mai Tống: Nước Kim thường xâm phạm nhà Tống, hai bên cừu địch. Kẻ nay Kim mai Tống, là nói con người phản bội, quên đất tổ.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:28 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 09


    Làm người trung nghĩa đáng bia son,

    Đứng giữa càn khôn[1] tiếng chẳng mòn.

    Cơm áo đền bồi ơn đất nước,

    Râu mày giữ vẹn phận tôi con.

    Tinh thần hai chữ phao sương tuyết,

    Khí phách nghìn thu rỡ núi non.

    Gẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,[2]

    Lòng đây tưởng đó mất như còn.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Càn khôn: Theo như Dịch học, càn tượng trời, khôn tượng đất. Càn khôn nói về khắp vũ trụ.
    2. Ngựa Hồ chim Việt: Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi (Ngựa hồ động lòng nhớ gió bắc, chim Việt làm tổ cành nam).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:35 am

    Điếu Phan Công Tòng bài 10


    Như còn chẳng gọi thế rằng cô,

    Cái chuyện hoa vi trước họa đồ.

    Sở hỡi trót ghi cừu họ Ngũ,[1]

    Hán đâu khỏi trả hận thằng Nô.[2]

    Vàng tơ sử Mã[3] giồi đường sứ,

    Búa vớt kinh lân[4] lấp dấu hồ.

    Ngày khác xa thư[5] về một mối,

    Danh thơm ngươi tới cõi hoàng đô.[6]




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Họ Ngũ: Vua Bình vương nước Sở giết Ngũ Xa. Con Ngũ Xa là Ngũ Viên tự Tử Tư quyết chí báo thù. Sau, Ngũ Viên giúp Ngô đem binh Ngô về đánh Sở.
    2. Thằng Nô: Hung Nô thường xâm phạm nhà Hán, dân Hán đều oán giận.
    3. Sử Mã: Tư Mã Thiên soạn bộ "Sử ký" nổi tiếng.
    4. Búa vớt kinh lân: Khổng Tử soạn Xuân Thu, chấm dứt tứ sau khi nghe dân chúng bắn què một con lân. Người sau bèn gọi kinh Xuân Thu là kinh lân.
    5. Xa thư: Xe và sách. Do cầu sách "Trung dung": "Nay ở gầm trời, xe chung đường, sách chung chữ". Ý nói thiên hạ thông đồng.
    6. Hoàng đô: đồ vua, triều đình.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:43 am

    Điếu Trương Định bài 01


    Trong Nam tên họ nổi như cồn,

    Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn.

    Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ,[1]

    Hơi gươm thêm rạng thể hoàng môn.[2]

    Ngọn cờ ứng nghĩa[3] trời chưa bẻ,

    Cái ấn bình tây[4] đất vội chôn.

    Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy,

    Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Bạch quỷ: Quỷ trắng, ám chỉ quân Pháp.
    2. Hoàng môn: Chức quan giữ việc chầu chực bảo vệ vua.
    3. Ứng nghĩa: Vì nghĩa mà đứng lên đáp lời non núi.
    4. Ấn bình tây: Trương Định được ban ấn bình tây.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:51 am

    Điếu Trương Định bài 02


    Linh hồn nay đã tách theo thần,

    Sáu tỉnh còn roi dấu tướng quân.

    Mực sở lãnh binh lờ mắt giặc,

    Son bằng[1] ứng nghĩa thắm lòng dân.

    Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,[2]

    Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần.[3]

    Ốc[4] ngỡ tướng tinh[5] rày trổ mặt,

    Giúp xong nhà nước buổi gian truân.[6]




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Son bằng: Các văn bằng đóng dấu son phát cho dân quê ứng nghĩa.
    2. Nam tử: Kẻ trai tráng.
    3. Nghịch thần: Kẻ bề tôi phản nghịch.
    4. Ốc: In trí.
    5. Tướng tinh: Vì sao bản mệnh của võ tướng.
    6. Gian truân: Vất vả.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 10:55 am

    Điếu Trương Định bài 03


    Gian truân kể xiết mấy nhiêu lần,

    Vì nước đành trao một tấm thân.

    Nghe chốn Lý Nhân người sảng sốt,

    Nhìn cồn Đa Phước kiểng[1] bâng khuâng.

    Bát cơm Kê Lữ chi sờn buổi,

    Mảnh áo Mông Nhung chẳng nệ phần.

    Chí dốc ra tay nâng vạc ngã,

    Trước sau cho trọn chữ quân thần.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Kiểng: Do chữ cảnh đọc trại ra. Cũng như thị thành đọc trại là thị thiềng, cá kiểng cũng như cá cảnh.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 1:46 pm

    Điếu Trương Định bài 04


    Quân thần còn gánh nặng hai vai,

    Lỡ dở công trình hệ bởi ai?

    Trăm đám mộ binh vầy lớn nhỏ,

    Một gò cô lũy[1] chống hôm mai.

    Lương tiền nhà ruộng ba mùa trước,

    Thuốc đạn ghe buôn bốn bể ngoài.

    May rủi phải chăng trời cũng biết,

    Một tay chống chỏi mấy năm dài.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Cô lũy: Đồn lẻ loi.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 1:49 pm

    Điếu Trương Định bài 05


    Năm dài những mảng ngóng tin vua,

    Nín nhục thầm toan lẽ được thua.

    U kế năm hàng còn chỗ đoái,

    Ngô, Tôn[1] trăm chước đợi ngày đua.

    Bày lòng thần tử[2] vài lời sớ,

    Giữ mối giang san mấy điệu bùa.

    Phải đặng tuổi trời cho mượn số

    Cuộc nầy ngay vạy có phân bua.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Ngô Khởi và Tôn Vũ, hai nhân vật thiện cầm binh, có làm ra sách binh pháp. Ngô Khởi là người nước Vệ, giúp nước Lỗ có danh. Tôn Vũ thì giúp Ngô; đến nay "Binh thư Tôn Tử" vẫn được truyền tụng, và các danh tướng thế giới đều dùng làm sách gối đầu giường.
    2. Thần tử: tôi con. Lòng cung kính đối với vua.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 1:51 pm

    Điếu Trương Định bài 06


    Phân bua trời đất biết cho lòng,

    Công việc đâu đâu cũng muốn xong.

    Cám nỗi nhà nghiên lăm chống cột,

    Nài bao bóng xế luống day đòng.

    Đồng Nai, chợ Mỹ lo nhiều phía,

    Bến Nghé, Sài Gòn kể mấy đông.

    Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiểm,

    Chẳng đành xa bỏ cõi Gò Công.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 1:59 pm

    Điếu Trương Định bài 07


    Gò Công binh giáp ngó chàng ràng,

    Đoái bắc trông nam luống thở than.

    Trên trại Đồn Đàn hoa khóc chủ,

    Dưới vàm Bao Ngược sóng kêu quan.

    Mây giăng Truông Cóc đường quân vắng,

    Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan.

    Mấy dặm non sông đều xửng vững,

    Nạn dân ách nước để ai toan?




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:03 pm

    Điếu Trương Định bài 08


    Ai toan cho thấu máy trời sâu,

    Sự thế nghe thôi đá lắc đầu.[1]

    Giặc cỏ om sòm mưa lại nhóm,

    Binh sương lác đác nắng liền thâu.

    Cờ lau đã xếp trên Giồng Cát,

    Trống sấm còn gầm dưới Cửa Khâu.

    Cảnh ấy những mơ người ấy lại,

    Hội nầy nào thấy tướng quân đâu?




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Người học trò giỏi của sư Cưu Ma La Thập đi truyền giáo, đời không ai buồn để ý, bèn vào núi Hổ Khưu, sắp các hòn đá ở xung quanh làm thính giả, rồi ung dung giảng kinh Niết Bàn. Nhà sư bèn hỏi lời giảng có hợp với lòng Phật không, thì các hòn đá đều gật đầu.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:06 pm

    Điếu Trương Định bài 09


    Tướng quân đâu hỡi có hay chăng?

    Sáu ải cơ đồ nửa đã ngăn.[1]

    Cám nỗi kiến ong ra sức dẹp,

    Quản bao sâu mọt chịu lời nhăng.

    Đá kêu rêu mọc bia Dương Nghiệp,[2]

    Cỏ úa hoa tàn mả Lý Lăng.[3]

    Thôi vậy thì vậy thôi cũng vậy,

    Anh hùng đến thế dễ ai dằn.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Sáu tỉnh Nam Việt đã bị Pháp chiếm hết ba.
    2. Dương Nghiệp: Một danh tướng đời Tống.
    3. Lý Lăng: Tướng đời Hán Vũ Đế, năm 99 TCN đánh Hung Nô, kiệt lực phải quy hàng.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:12 pm

    Điếu Trương Định bài 10


    Dễ ai dằn thúc lối sau nầy,

    Trời bởi chưa cho vội đổi xây.

    Thà buổi trường sa da ngựa bọc,

    Khỏi nơi Đạo Chích tiếng muồng rầy.

    Lục lâm mấy chặng hoa sầu bạn,

    Thủy hử vì đâu nhạn rẽ bầy.

    Hay vậy cõi biên rong vó ký,[1]

    Náu nương chờ vận có đâu vầy.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1.Ký: là ngựa tốt, ngựa chạy một ngày hằng nghìn dặm (thiên lý mã). Ký túc: tức vó ngựa ký, nói người tài giỏi.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:15 pm

    Điếu Trương Định bài 11


    Đâu vầy sấm chớp nổ thình lình,

    Gió bặt thêm buồn mấy đạo binh.

    Ngựa trạm xăng văng miền bắc khuyết,[1]

    Xe nhung ngơ ngẩn cõi Tây Ninh.

    Bài văn phá lỗ[2] cờ chưa tế,

    Tấm bảng phong thần gió đã kinh.

    Trong cuộc còn nhiều tay tướng tá,

    Lời nguyền trung nghĩa há làm thinh.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Bắc khuyết: Cửa phía Bắc, cửa nhà vua. Triều Lê, vua ngồi hướng về nam, các quan chầu vua quay mặt về bắc, nên gọi cửa nhà vua là bắc khuyết.
    2. Phá lỗ: Đánh giặc.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:22 pm

    Điếu Trương Định bài 12


    Làm thinh hổ đứng giữa hai ngôi,[1]

    Nếm mật[2] từ đây khó nỗi ngồi.

    Mũi giáo Thi Toàn[3] đừng để sét,

    Lưỡi gươm Dự Nhượng[4] phải toan giồi.

    Đánh Kim chi sá thằng Lưu Dự,[5]

    Giúp Tống xin phò gã Nhạc Lôi.[6]

    Vâng hộ nước Nam về một mối,

    Nghìn năm miễu tặng rạng công tôi.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Người cùng với trời và đất là ba ngôi gọi là tam tài. Đây nói hổ đứng giữa trời đất.
    2. Nếm mất: truyện Vua Câu Tiễn nước Việt bị Ngô Phù Sai đánh lấy nước, thân bị giam lỏng ở Cối Kê, thời thường nằm trên gai và nếm mật đắng, để tự nhắc phải sớm liệu báo thù.
    3. Thi Toàn: Một viên tướng giỏi kết nghĩa anh em với Nhạc Phi đời Tống. Nhạc Phi bị gian thần Tần Cối mưu giết chết. Thi Toàn đón đường ám sát Tần Cối chẳng may bại lộ bị giết.
    4. Dự Nhượng: Người đời Chiến Quốc, hết lòng trả thù cho chủ.
    5. Lưu Dự: Một tên phản thần đời Tống.
    6. Nhạc Lôi: Con Nhạc Phi.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:32 pm

    Đơn đao phó hội [1]


    Hiểm nguy đâu núng chí anh hào,

    Phó hội mình đeo một lưỡi đao.

    Chén rượu vội vàng khi tiếp rước,

    Ngọn gươm thong thả lúc ra vào.

    Oai hùm gặp gió đưa hơi mạnh,

    Lũ chó rùng mình nép trí cao.

    Theo gót Kinh Châu nên nghiệp cả,

    Nghìn năm còn để tiếng vườn đào.




    Nguyễn Đình Chiểu


    1. Tích ca ngợi Quan Vân Trường thời Tam Quốc, một mình một đao sang Đông Ngô dự tiệc trong hoàn cảnh hai nước đang nghi kỵ nhau nặng nề về tranh chấp lãnh địa.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:37 pm

    Hoa sen lỗi thì


    Sen hỡi là sen! tiếng chẳng hèn.

    Thấy sen lỡ vận tiếc cho sen.

    Ngậm cười gió hạ thơm nhiều thuở[1]

    Đua nở hồ thu trót mấy phen.[2]

    Gương mặt bất phàm đâu đặng biết.

    Bèo tai vô dụng gọi rằng quen.

    Phải mà sinh gặp nơi tiên cảnh

    Lá rộng cao che khắp các bèn.




    Nguyễn Đình Chiểu


    1. Câu này có bản chép là: "Ngậm cười gió hạ hèn cùng thưởng"
    2. Câu này có bản chép là: "Đua nở mùa thu, tốt mấy khen."

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 2:56 pm

    Hoàng trùng trập khởi
    (Cào cào dấy lên phá lúa)


    Quái dữ a! Thế sự gẫm ngán trân, người trong cõi dần lân tân khổ[1]; Cuộc đời xem lãng nhách, kẻ dưới trần lạch ạch gian lung[2].

    Năm Giáp Thìn hồng thuỷ[3] phát trùng trùng, người thất lạc chẳng còn hoài sự nghiệp; Cơn Ất Tị cào cào sinh điệp điệp, kẻ nông tang đà hết tưởng điền trù[4].

    Hoạ đâu mà hoạ phát tu du[5]; Tai chi có tai sinh bất cập[6].

    Gò Công cập điền vi vạn thập[7], mạ đang xanh, lúa đang nở, cắn một hồi bông trái xơ rơ; Khổng tước giao địa quản thiên dư[8], cây đang trổ, lá đang đơm, ăn một lát ngọn ngành trụi lủi.

    Người chung cuộc gẫm âu may rủi; Vật vô tri xét cũng phước phần.

    Hay là trời khiến cuộc gian truân[9]; Hay là trời làm cho bỏ ghét.

    Ôi! Ghét chi bấy ghét xuôi ghét ngược, hết trận nầy sang trận khác, vậy chớ dân ai sinh ra mà chẳng nghĩ tấm lòng thương; Á! Giận chi mà giận đắng giận cay, rồi nỗi nọ tới nỗi nầy, vậy chớ ai sắm mà không đem lời chiếu cố.

    Phải tận số thì làm cho ra bề tận số, sống trăm năm mệt xác, có thầm than thì chắc lưỡi lắc đầu; Phải mãn căn thì làm cho đến kiếp mãn căn, chất muôn tuổi trên đầu, có thương trách lại nặng hơi mỏi cổ.

    Gặp lúc khổ phải cam lòng chịu khổ, khổ làm sao mà tự gót chi đầu; Nhằm hồi vui ưng để cho vui, vui làm sao mà cắn răng nhăn mặt.

    Cào cào thật loài trùng rất ngặt, gọi chung tư thật uổng chữ thánh hiền; Cào cào là giống độc hằng niên, tri bản tính thật khinh khi nhân vật.

    Kìa như tàm thổ ty[10], phong nhưỡng mật[11], người hãy còn trân trọng, miệng ăn trôn ỉa mà lợi bủa muôn nhà; Nọ như thước cố thực[12], thử xuyên gia[13] chúng đâu có yêu vì, mắt ngó mỏ xoi mà hư không đà mấy chỗ.

    Có chữ rằng: Nhược phục nhất lũ, tu tư chức nữ chi lao[14]; Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ.[15]

    Chớ như bây: Ăn muốn ăn cho tiệt, của ông cha gì sắm để mà nghĩ tình dãi nắng dầm mưa; Phá muốn phá cho tiêu, vật mồ tổ chi sẵn dành mà đoái sức cày sâu cuốc cạn.

    Trăm họ ai ai đều kết oán, giết mỏi tay, rượt mỏi cẳng, giống bây sinh quá lẹ, một đêm rồi coi thế cũng như; Nghìn người ai chẳng bị hư, xô hết sức, đuổi hết hơi, loài bây ở vô nghì, giây phút lại càng thấy y lệ.

    Trống thúc mõ hồi đâu kể, bấu đầu ăn ai đói mặc ai; Chà quơ chổi đập chi sờn, đua miệng cắn thế nào thì thế.

    Thật giống sinh khó dễ; Quả vật phát dị kỳ.

    Cõi Nam Kỳ mấy tỉnh gian nguy, vì miệng đó xúm chùm lại hư hại; Chốn trần thế muôn nhà đồi bại, vì miệng bây hùa hạp phá tan hoang.

    Nhọc nhằn thay! mấy hạt chịu tai nàn, ôm bụng đói mai đưa chiều rước; Thương hại ẻ! một niêm đeo bi thảm, mói lòng trong sớm ngớt tối châm.

    Bấy nhiêu hồi ruột thắc gan bầm, ngày cực thấu những đêm, thân bao quản gối sương nằm vát; Xiết mấy bữa lưng rùng cánh mỏi, sáng mệt cho đến tối, dạ không cùng ngậm oán trêu hờn.

    Gẫm nợ đời lúa thóc ai vay; Mà khiến nỗi ruộng trâu lo trả.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Tân khổ: Chịu những nỗi cay đắng.
    2. Gian lung: Lúng túng trong vòng.
    3. Hồng thuỷ: Nước lớn, nạn lụt.
    4. Kẻ làm ruộng chăn tằm đà hết tưởng ruộng nương.
    5. Tu du: Chốc lát.
    6. Tai nạn sinh ra chẳng kịp ngừa.
    7. Ruộng dư muôn.
    8. Cõi Gò Công đất đai gồm dư nghìn mẫu.
    9. Vất vả.
    10. Tàm thổ ty: Tằm nhả tơ.
    11. Phong nhưỡng mật: Ong gây mật.
    12. Thước cố thực: Quạ tham ăn.
    13. Thử xuyên gia: Chuột phá hoại.
    14. Mặc manh vải tua nhớ đến công cô gái dệt.
    15. Ngày ăn ba bữa, hằng nghĩ nỗi khổ của con nhà làm ruộng.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:01 pm

    Làm thuốc


    Trời đông sụt sùi gió mưa tây,[1]

    Đau ốm lòng dân cậy có thầy.

    Phương cũ vua tôi[2] gìn trước mắt,

    Mạng nay già trẻ gởi trong tay.

    Trận đồ tám quẻ[3] còn roi dấu,

    Binh pháp năm mùi[4] sẵn cỏ cây.

    Hỡi bạn Y lâm![5] ai muốn hỏi,

    Đò xưa, bến cũ, có ta đây.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Lúc trái thời tiết.
    2. Y học phương đông chia các vị thuốc bắc ra làm quân-thần (vua-tôi), tùy tính cách của vị thuốc công phạt hay tán trợ với nhau.
    3. Y lý phương đông cũng lấy kinh Dịch làm căn cứ chia phương mà trị tuỳ sự sinh khắc, như các hào quẻ trong kinh Dịch.
    4. Mặn, ngọt, cay, chua, đắng, có ảnh hưởng đến năm tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận của con người. Cỏ cây làm thuốc cũng có đủ tính chất ấy để điều trị bệnh hoạn do âm dương khí hoá gây nên là ôn (ôn hoà), lương (mát), hàn (lạnh), thử (nóng), thấp (ẩm ướt).
    5. Rừng y, những người yêu chuộng nghề thuốc.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:11 pm

    Lăng mẫu tống sứ [1]


    Hoàng hoa mấy dặm điệp tin qua,

    Xin nhắn Vương Lăng bỏ chuyện nhà.

    Đầu đội trời Lưu[2] thờ kẻ lớn,

    Hơn về đất Hạng[3] thấy đàn bà.

    Thảo ngay khuyên chớ hai lòng trẻ,

    Còn mất màng chi một phận già.

    Ngựa trạm riêng đưa lời thiết gửi,

    Trong quân hùm hổ khó lân la.




    Nguyễn Đình Chiểu


    1. Bài thơ tả việc mẹ Vương Lăng (lúc ấy bà bị Hạng Võ bắt giam để dụ con bà ra hàng) đã bảo sứ giả của con hãy vững lòng thờ Hán. Sau đó bà dùng gươm tự tử cho con yên lòng.
    2. Tức Lưu Bang (劉邦), Hán Cao Tổ nhà Hán.
    3. Tức Hạng Vũ ((項羽), còn gọi Tây Sở Bá Vương. Ông tranh chấp thiên hạ với Hán Cao Tổ (Lưu Bang) đầu thời nhà Hán nhưng bị thua, tự tử chết trên sông Ô Giang.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:15 pm

    Mưa dầm thi


    Văng vẳng vừa nghe tiếng sét ầm,

    Giang sơn mấy dặm mắc mưa dầm.

    Lá cây luống chịu màu sương nhuộm,

    Hoa cỏ từng rơi nước mắt thầm.

    Chắp cánh lên cây nghe quạ ó,

    Vảnh râu trong miếu thấy dê nằm.

    Trời cao khôn hỏi ngày nào tạnh,

    Để nỗi dân đen chịu ướt dầm.




    Nguyễn Đình Chiểu

    Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
    giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:18 pm

    Ngựa Tiêu sương


    Tiếng đồn ngàn dặm ngựa Tiêu sương[1],

    Lầm đứa gian mưu[2] nghĩ khá thương.

    Giậm vó chẳng màng ăn cỏ Tống,

    Quày đầu lại hí nhớ tàu Lương.

    Chẳng cho chủ khác ngồi lưng cổ,

    Thà chịu vua ta nắm khớp cương.

    Ngựa nghĩa còn cưu nhà nước cũ,

    Làm người bao nỡ phụ quê hương!




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Tiêu sương: ngựa quý của vua nhà Lương, bị vua Tống sai người lén bắt, nhưng ngựa có nghĩa nhớ nước cũ mà bỏ ăn đến chết.
    2. Dùng mưu gian.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:20 pm

    Nước lụt thi


    Trời mưa từng trận gió từng hồi,

    Thế giới bao nhiêu nước khỏa rồi.

    Lũ kiến bất tài đòi chỗ bợ,

    Đấu bèo vô dụng kết bè trôi.

    Lao xao rừng cụm nghe chim chíp,

    Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi.

    Nỡ để dân đen trên gác yếu,

    Này ông Hạ Vũ ở đâu ôi!




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
    giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.)



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:32 pm

    Thảo thử hịch

    (Hịch diệt chuột)


    1. Tượng mảng:[1] Lẽ trời sinh vật; Vật ấy nhiều loài.

    2. Lấy câu thuận tính làm lành; Thấy chữ nghịch-thường mà ngán.

    3. Nhỏ là loài ong-kiến, còn biết nghĩa quân-thần; Lớn là loài hổ-lang, cũng niệm tình phụ-tử.

    4. Kìa như thước báo tai, cưu báo hỷ[2], đời cũng nhờ lành dữ đem tin; Nọ như khuyển thủ dạ, kê tư thần[3], người còn cậy sớm khuya an giấc.

    5. Lò tạo-hóa nhúm-nhen khắp vật, vật nào hay khuấy-rối sự nhà; Thợ hóa-công đúc-nắng nhiều loài, loài nào dám xoi hao mạch nước?

    6. Nay có loài chuột: Lông mọc xồm-xàm; Tục kêu xù, lắt.

    7. Tính hay ăn vặt; Lòng chẳng kiêng-dè.

    8. Chỗ ở-ăn hang lỗ nhiều bề; Đường qua lại đào ra hai ngách.

    9. Nghe hơi động vội-vàng chạy mất, nhát quá mẹ cheo; Chờ đêm khuya sẽ lén-lút nhau, liếng hơn cha khỉ.

    10. Gọi danh-hiệu: chuột xạ, chuột lắt, chuột xù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên; Tra quán-chỉ[4]: ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở ngòi, bậu-bạn non sông lắm lối.

    11. Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu; Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung-lăng đà lắm lúc.

    12. Vả sáu-mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm; Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa.

    13. Cớ sao lại đem lòng quỷ-quái? Cớ sao còn làm thói gian-tham?

    14. Túi Đông-pha thường bữa tha gừng; Ruộng Nam-quách ghe phen cắn lúa.

    15. Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang; Nệm mền của chúng che thân, cắn nát lại tha vào lỗ.

    16. Hoặc nằm ngửa cắn đuôi tha trứng vịt, gây nên thằng tớ chịu đòn oan; Hoặc leo dây ngóng cổ gặm giò heo, để án con đòi mang tiếng khổ.

    17. Vậy cũng gọi mình hay ngũ kỵ[5]; Vậy cũng khoe ngồi trước tam tài[6].

    18. Chẳng xét mình vò nuốt dưới cầu; Lại quen lần mò ben vách.

    19. Sách Lỗ-sử biên câu thực giác, vì miệng ai nên vua lỗi đạo thờ trời; Thơ Quốc-phong để chữ thực miêu[7], vì miệng ai cho nên dan xa lăng bỏ đất.

    20. Ghe phen trách quần hư áo lủng, vì miệng ai cho nên chồng vợ giận nhau; Nhiều chỗ than vách ngã tường xiêu, vì miệng ai cho nên cha con đứt bẩn.

    21. Nền xã-tắc[8] là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ, đào hang; Chốn miếu-đường là chỗ thanh-tán, cớ chi ngươi cắn màn, cắn sáo.

    22. Kẻ trinh-nữ ghét thằng cuồng-bạo, cũng còn mang tiếng thử dâm; Án Long-đồ[9] tra đứa gian-tà, hãy còn mắc cái câu thử thủ[10].

    23. Gối ngõa chú Nghiêu-phu[11] đà đến bể, khen cho quỷ-quái chẳng chừa; Gây phi long Linh-kiết đã tưng-bừng, sao hãy yêu-tinh không gớm.

    24. Nham độn mười-hai ngôi tướng, cho hay thần hậu thật tướng gian; Diễn cầm bốn bảy vì sao[12], phải biết hư-nhật là sao dữ.

    25. Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử[13] cục cứt ra cũng nhọn hai đầu; Báu xót chi manh áo thử-cầu[14], tấm da lột không đầy ba tấc.

    26. Tuy là tướng hữu bì hữu chất[15]; Thật là loài vô lễ vô nghi.

    27. Luận tội kia đã đáng phân thi[16]; Thứ tay nọ cũng vì kiêng vật[17].

    28. Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương; Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

    29. Ngao-ngán bấy cái thân chuột thúi, biết ngày nào ô-thước[18] phanh-phui; Nực cười thay cái bụng chuột tham, uống bao thuở Hoàng-hà ráo cạn.

    30. Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm; Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

    31. Tội dường ấy đã nên ác quá; Ta tới đây há dễ nhiêu dung.

    32. An tiên-phuông nấy gã rắn rồng; Phù tập-hậu sai chim bả-cắc.

    33. Sắm-sửa binh sương giáp sắt; Trau-giồi ngựa gió xe trăng.

    34. Giống trống sấm xuất binh; Phất cờ lau tập trận.

    35. Đuốc Điền Đan sắm sẵn, để phòng khi un-đốt ngạch u-vi; Đèn Lý Bạch đái tùy[19] đặng chờ thuở xét soi hang uất-khúc.

    36. Hàng hàng bố liệt thương đao; Nhập sào-huyệt phá hồ lỗ[20] chuột.

    37. Phải nghe ta dặn, sắm-sửa đủ đồ: Cuốc xuổng đào hang; Phảng mai chận ngách.

    38. Trả, trách, nồi-niêu rửa sạch, thượng kỳ: phù địch khái chi tâm[21]; Tiêu, hành, sả, ớt muối đâm, thứ dĩ: tạ chúng nhân chi khẩu[22].

    39. Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành; Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục-tặc.

    40. Bốn phương đều ngợi chữ thăng-bình; Thiên-hạ cũng vui câu án đổ.




    Nguyễn Đình Chiểu

    (Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
    Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



    1. Nghe rằng.
    2. Chim thước báo điềm dữ, chim cưu báo điềm vui.
    3. Chó giữ đêm, gà nhớ sáng.
    4. Quán chỉ: Chỗ ở.
    5. Ngũ kỵ: Năm nghề (bay, leo, đi dạo, nằm hang, chạy).
    6. Tam tài: Ba đạo dựng lên trời, đất và người. Trời sinh ở hội tí.
    7. Thực miêu: Cắn phá lúa miêu.
    8. Xã tắc: Kinh Lễ, thiên Nguyệt lệnh chép: Con vua Cung Công là Câu Long hay trị viêc đất việc nước nên tế làm thần xã. Con vua Liệt Sơn tên Vãng Trụ, hay trồng lúa, nên sau tế làm thần tắc. Xã tắc nói chung là việc chính trị và sinh hoạt của một nước.
    9. Bao Công.
    10. Do câu: Thử thủ lưỡng đoạn: Đầu chuột nên hai thế. Tích đời Hán Võ đế, Điền Phân giận Hàn An Quốc làm chứng vụ Trường Nhụ nên nói An Quốc là đầu chuột nên mới hai đầu.
    11. Thiệu Khang Tiết
    12. Bốn bảy là hăm tám. Tức nhị-thập bát-tú; hăm tám vì tinh-tú.
    13. Chuột yêu nghiệt.
    14. Áo da chuột.
    15. Có da có vóc.
    16. Chia xẻ thân-thể.
    17. Ném chuột e bể đồ.
    18. Quạ diều
    19. Mang theo.
    30. Giặc cướp.
    21. Lấy bộ đồ lòng của kẻ địch.
    22. Làm cho thích miệng mọi người.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:05 pm

    Thất Kinh Châu [1]


    Ngũ hổ năm anh tướng rất mầu,[2]

    Đâu dè đến nỗi thất Kinh Châu.

    Thời Lưu chưa đạt hay sao đặng,

    Vận Hớn còn suy giỏi mặc dầu.

    Tiếc bấy công trình Gia Cát Lượng,

    Uổng thay mỏi mệt Hán Đình hầu.[3]

    Nghĩ thương cái phận Lưu Huyền Đức,

    Nhiều nỗi Đàn Khê dễ sá âu.




    Nguyễn Đình Chiểu


    1. Bài thơ nói về trận thua của Quan Vân Trường với quân Đông Ngô để mất Kinh Châu. Quan Vân Trường không nghe lời quân sư Gia cát Lượng dặn trước khi giao Kinh Châu cho ông là: "Đông hòa Tôn Quyền bắc cự Tào Tháo". Quan đã cự tuyệt Tôn Quyền khi Tôn cho người đánh tiếng muốn con trai mình lấy con gái của Quan, đã thế Quan còn buông lời mắng cho con mình là hổ còn con của Tôn Quyền là chó. Thế là Tôn quyền bắt tay với quân Tào quyết đánh quân Thục ở Kinh Châu do Quan trấn giữ. Kết quả Quan Vân Trường bị bắt và chặt đầu, Kinh Châu về tay Đông Ngô. (VXTĐ: hậu sinh rất tôn kính bậc trượng nghĩa nhưng thiết nghĩ trước đó Lưu Bị là đại ca của Quan Vũ đã kết duyên với em gái Tôn Quyền, theo tư tưởng thời đó thì Tôn phu nhân cũng là chủ mẫu hoặc trong gia đình là tẩu tẩu của Quan hầu. Thiết nghĩ con của Quan hầu sánh duyên cùng cháu Tôn phu nhân thì cũng rất bình thường. Đằng này ... !!!)
    2. Ngũ hổ: Quan Vân Trường là một trong năm đại hổ tướng của Lưu Bị, Quan hầu đứng đầu kế tiếp là: Trương Phi, Triệu Tử Long, Mã Siêu và lão tướng Hoàng Trung.
    3. Hán Đình hầu: tên đủ là Hán Thọ Đình hầu là tước tào Tháo ban cho Quan Vân Trường khi ông bị lạc Lưu Bị trong trận chiến ở Từ Châu. Quan chấp nhận tạm thời ở lại với Tào Tháo để tìm tin tức Lưu Bị.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:18 pm

    Thư gửi cho em


    Thương tình bào đệ[1],
    Gửi bức tâm thư[2].

    Nghe em lăm toan việc tóc tơ,
    Nên anh mới nhả lời vàng ngọc.

    Hễ làm người có học,
    Cho biết lễ trong nhà

    Chẳng trau mình sao đặng chữ tề gia[3]
    Còn nhỏ tuổi gấp chi đàng cầu tự[4]

    Ví dù muốn nơi nào thiếp nữ,
    Thì hãy giao quyền tại chính thê[5]

    Thuận chị em trên dưới gia tề,
    Nghịch chồng vợ cửa nhà hư hại.

    Trong phép xử gia-môn[6] đặng phải;
    Ngoài tiếng đồn phong-hóa[7] mới xinh.

    Lẽ cũng cho một gáo múc đôi chình;
    Khuyên chớ để đôi rìu cuôi một cội.

    Vả đang lúc sự đời bối rối,
    Nào xiết lo nghiệp cả bâng-khuâng.

    Phận thiếp-thê mà có như Tề nhân[8]
    Niềm tử tức[9], thà không như Bá đạo[10]

    Em ôi!
    May mà có mai cơm chiều cháo,
    Hơn là người ăn tuyết nằm sương.

    Ở nước loàn há sợ chữ thiên ương[11]
    Theo đạo học phải dằn lòng nhân dục[12]

    Ham sung sướng chẳng qua nuôi khẩu phúc[13]
    E nghiêng nghèo còn nhọc đến thân danh.

    Bậc quan quyền, chiếu bông gối dựa mới là vinh.
    Hàng dân thứ, quần nhiễu, áo sô sao chẳng nhục.

    Trau-giồi lắm cho đẹp con mắt tục,
    Ghen-ghét nhiều lại chác cái tai phi[14]

    Vậy thà cam hai chữ bố y[15],
    Chi nhọc đến một điều mao ốc[16].

    Bì sao kẻ thế gia vọng tộc[17]
    Coi lấy người tiện-sĩ bần nhu[18]

    Thời thế nầy thà chịu làm ngu;
    Học-hành vậy cũng kêu là trí.

    Em sao chẳng nghĩ!
    Anh rất đỗi lo!

    Bề ở ăn như cá núp trong nò;
    Thân đùm đậu như én nằm trên gác.

    Cám nỗi phụ-huynh thêm bát-ngát;
    Phận làm tử đệ há nguôi ngoai?

    Sung-sướng chi mà chồng một vợ hai;
    Giàu sang mấy mà quần đôi áo cặp?

    Thân rảnh sao chẳng cấp;
    Tính xấu cũng nên chừa.

    Trời, không lường trưa sớm nắng mưa;
    Người, đâu biết hôm mai họa phước.

    Chi bằng:
    Giữ câu kiệm ước[19],
    Lánh bợm phong lưu[20].

    Việc...[21] oán hận chẳng nên cưu;
    Thói ve vãn ăn chơi đừng bắt chước.

    Hàng đi đứng tua dè nước bước;
    Lời nói-năng phải giữ miệng môi.

    Phận áo cơm đã đủ thì thôi;
    Ơn đất nước ngày an cũng tốt.

    Bề ăn ở chi bằng đái chốt[22];
    Dạ thảo ngay chí dốc keo sơn.

    Có nghĩa tình anh Tấn em Tần[23],
    Đừng nghe chuyện cha Hồ mẹ Hán[24].

    Đọc sách y phương, cho biết án;
    Làm thầy nho sĩ, phải theo tài.

    Dược trị đau chớ khá học sơ-sài;
    Phép dạy trẻ chớ nên oai bẫm trợn.

    Nghe nhiều kẻ tiếng đời nhơ bợn;
    Muốn cho em mùi đạo thơm tho.

    Khá nhớ lời gia giáo[25] dặn dòl
    Khuyên chớ để xử thân[26] lầm-lỗi.

    Nay gửi vài lời huấn hối
    Xưa còn trăm chữ minh châm[27]

    Nhớ để lời hôm sớm vịnh ngâm.
    Hãy chữ dạ[28] khỏi điều quá thất[29].




    Nguyễn Đình Chiểu


    Khi ở Tân Thuận, thuộc tỉnh Gia Định, tác giả nghe tin người em trai là Nguyễn Đình Tự (1839-1891), ở lối cầu Bang Ky, cũng thuộc tỉnh ấy, sắp cưới một người thiếp, bèn gửi bức thư này.
    1. Em ruột. Em cùng một cha mẹ sinh.
    2. Thư viết với những lời xuất tự đáy lòng.
    3. Sắp xếp việc cửa nhà cho êm đẹp.
    4. Cầu con để nối dõi tông đường.
    5. Vợ chính.
    6. Cửa nhà, việc trong nhà.
    7. Phong tục, giáo hoá, những điều trau giồi cho tốt đẹp.
    8. Công chúa nước Tề là Tề Khương, con vua Tề Hoàn công, gả cho Trùng Nhĩ nước Tần. Người có đức hạnh, biết giục giã chồng lo việc lớn.
    9. Con và dâu.
    10. Đặng Nho tự Bá Đạo, làm quan đời Tấn. Người anh chết đã lâu, chỉ có một đứa con gửi lại Đặng nuôi. Đặng cũng chỉ có một đứa con trai. Phải khi Đặng bị giặc bắt, ép làm quan, Đặng lập kế trốn đi. Trong lúc trốn tránh, không thể dắt trẻ theo nhiều, Đặng bèn bỏ con mình lại, dắt con người anh theo. Vì nghĩ rằng người anh chỉ còn có một trẻ ấy là huyết mạch còn Đặng ắt cũng còn ngày sinh nở. Không dè về sau Đặng tuyệt tự. Nhưng đứa cháu cũng có hiếu nghĩa, thờ Đặng trọn tình.
    11. Tai trời. Nạn do trời sinh.
    12. Lòng ham muốn của con người.
    13. Miệng và bụng.
    14. Tai bay vạ gửi.
    15. Quần bô áo vải. Phận nghèo ăn chắc mặc dầy, trong sạch.
    16. Nhà tranh. Chốn thanh bạch.
    17. Con nhà giàu sang rắn rác.
    18. Phận trò khó.
    19. Tiêu pha tiện tằn dè xẻn.
    20. Dáng dấp ưa nhìn.
    21. Khuyết mất hai chữ.
    22. Chưa rõ là nghĩa gì!
    23. Tấn và Tần là hai nước thường giao hiếu với nhau. Ý nói hoà thuận thương yêu.
    24. Hán và Hồ là hai nước đời đời thù nghịch. Ý nói tránh sự tin nghe người ta xui giục.
    25. Dạy dỗ nơi nhà.
    26. Lo liệu lấy thân. Tự sửa mình.
    27. Bài minh và bài châm, ghi những điều đạo nghĩa để xem đấy trau giồi thân tâm.
    28. Ghi lòng.
    29. Lầm lỗi.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Sponsored content




    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   

    Về Đầu Trang Go down
     
    Nguyễn Đình Chiểu
    Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next
     Similar topics
    -
    » Con Lưu Ngọc Tuấn, Lê Hữu Sang, và Phan Nguyễn quốc Tú
    » Cây si trên tàu- Gửi Phan Nguyễn Quốc Tú
    » Hướng dẫn đổi hộ chiếu phổ thông và hộ chiếu thuyền viên sắp hết hạn
    » Trung tâm làm sổ thuyền viên,hộ chiếu thuyền & chứng chỉ trực ca cho thuyền viên
    » Tài liệu Điều động tàu của thầy Nguyễn Viết Thành

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
     :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
    Chuyển đến