Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
Liên Trọng nhất Huynh thường bính Phong dũng miền nguyễn quang

Share | 
 

 Nguyễn Đình Chiểu

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5581
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:18 pm

Ngựa Tiêu sương


Tiếng đồn ngàn dặm ngựa Tiêu sương[1],

Lầm đứa gian mưu[2] nghĩ khá thương.

Giậm vó chẳng màng ăn cỏ Tống,

Quày đầu lại hí nhớ tàu Lương.

Chẳng cho chủ khác ngồi lưng cổ,

Thà chịu vua ta nắm khớp cương.

Ngựa nghĩa còn cưu nhà nước cũ,

Làm người bao nỡ phụ quê hương!




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Tiêu sương: ngựa quý của vua nhà Lương, bị vua Tống sai người lén bắt, nhưng ngựa có nghĩa nhớ nước cũ mà bỏ ăn đến chết.
2. Dùng mưu gian.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5581
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:20 pm

Nước lụt thi


Trời mưa từng trận gió từng hồi,

Thế giới bao nhiêu nước khỏa rồi.

Lũ kiến bất tài đòi chỗ bợ,

Đấu bèo vô dụng kết bè trôi.

Lao xao rừng cụm nghe chim chíp,

Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi.

Nỡ để dân đen trên gác yếu,

Này ông Hạ Vũ ở đâu ôi!




Nguyễn Đình Chiểu

(Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.)



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5581
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 3:32 pm

Thảo thử hịch

(Hịch diệt chuột)


1. Tượng mảng:[1] Lẽ trời sinh vật; Vật ấy nhiều loài.

2. Lấy câu thuận tính làm lành; Thấy chữ nghịch-thường mà ngán.

3. Nhỏ là loài ong-kiến, còn biết nghĩa quân-thần; Lớn là loài hổ-lang, cũng niệm tình phụ-tử.

4. Kìa như thước báo tai, cưu báo hỷ[2], đời cũng nhờ lành dữ đem tin; Nọ như khuyển thủ dạ, kê tư thần[3], người còn cậy sớm khuya an giấc.

5. Lò tạo-hóa nhúm-nhen khắp vật, vật nào hay khuấy-rối sự nhà; Thợ hóa-công đúc-nắng nhiều loài, loài nào dám xoi hao mạch nước?

6. Nay có loài chuột: Lông mọc xồm-xàm; Tục kêu xù, lắt.

7. Tính hay ăn vặt; Lòng chẳng kiêng-dè.

8. Chỗ ở-ăn hang lỗ nhiều bề; Đường qua lại đào ra hai ngách.

9. Nghe hơi động vội-vàng chạy mất, nhát quá mẹ cheo; Chờ đêm khuya sẽ lén-lút nhau, liếng hơn cha khỉ.

10. Gọi danh-hiệu: chuột xạ, chuột lắt, chuột xù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên; Tra quán-chỉ[4]: ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở ngòi, bậu-bạn non sông lắm lối.

11. Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu; Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung-lăng đà lắm lúc.

12. Vả sáu-mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm; Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa.

13. Cớ sao lại đem lòng quỷ-quái? Cớ sao còn làm thói gian-tham?

14. Túi Đông-pha thường bữa tha gừng; Ruộng Nam-quách ghe phen cắn lúa.

15. Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang; Nệm mền của chúng che thân, cắn nát lại tha vào lỗ.

16. Hoặc nằm ngửa cắn đuôi tha trứng vịt, gây nên thằng tớ chịu đòn oan; Hoặc leo dây ngóng cổ gặm giò heo, để án con đòi mang tiếng khổ.

17. Vậy cũng gọi mình hay ngũ kỵ[5]; Vậy cũng khoe ngồi trước tam tài[6].

18. Chẳng xét mình vò nuốt dưới cầu; Lại quen lần mò ben vách.

19. Sách Lỗ-sử biên câu thực giác, vì miệng ai nên vua lỗi đạo thờ trời; Thơ Quốc-phong để chữ thực miêu[7], vì miệng ai cho nên dan xa lăng bỏ đất.

20. Ghe phen trách quần hư áo lủng, vì miệng ai cho nên chồng vợ giận nhau; Nhiều chỗ than vách ngã tường xiêu, vì miệng ai cho nên cha con đứt bẩn.

21. Nền xã-tắc[8] là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ, đào hang; Chốn miếu-đường là chỗ thanh-tán, cớ chi ngươi cắn màn, cắn sáo.

22. Kẻ trinh-nữ ghét thằng cuồng-bạo, cũng còn mang tiếng thử dâm; Án Long-đồ[9] tra đứa gian-tà, hãy còn mắc cái câu thử thủ[10].

23. Gối ngõa chú Nghiêu-phu[11] đà đến bể, khen cho quỷ-quái chẳng chừa; Gây phi long Linh-kiết đã tưng-bừng, sao hãy yêu-tinh không gớm.

24. Nham độn mười-hai ngôi tướng, cho hay thần hậu thật tướng gian; Diễn cầm bốn bảy vì sao[12], phải biết hư-nhật là sao dữ.

25. Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử[13] cục cứt ra cũng nhọn hai đầu; Báu xót chi manh áo thử-cầu[14], tấm da lột không đầy ba tấc.

26. Tuy là tướng hữu bì hữu chất[15]; Thật là loài vô lễ vô nghi.

27. Luận tội kia đã đáng phân thi[16]; Thứ tay nọ cũng vì kiêng vật[17].

28. Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương; Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

29. Ngao-ngán bấy cái thân chuột thúi, biết ngày nào ô-thước[18] phanh-phui; Nực cười thay cái bụng chuột tham, uống bao thuở Hoàng-hà ráo cạn.

30. Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm; Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

31. Tội dường ấy đã nên ác quá; Ta tới đây há dễ nhiêu dung.

32. An tiên-phuông nấy gã rắn rồng; Phù tập-hậu sai chim bả-cắc.

33. Sắm-sửa binh sương giáp sắt; Trau-giồi ngựa gió xe trăng.

34. Giống trống sấm xuất binh; Phất cờ lau tập trận.

35. Đuốc Điền Đan sắm sẵn, để phòng khi un-đốt ngạch u-vi; Đèn Lý Bạch đái tùy[19] đặng chờ thuở xét soi hang uất-khúc.

36. Hàng hàng bố liệt thương đao; Nhập sào-huyệt phá hồ lỗ[20] chuột.

37. Phải nghe ta dặn, sắm-sửa đủ đồ: Cuốc xuổng đào hang; Phảng mai chận ngách.

38. Trả, trách, nồi-niêu rửa sạch, thượng kỳ: phù địch khái chi tâm[21]; Tiêu, hành, sả, ớt muối đâm, thứ dĩ: tạ chúng nhân chi khẩu[22].

39. Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành; Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục-tặc.

40. Bốn phương đều ngợi chữ thăng-bình; Thiên-hạ cũng vui câu án đổ.




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Nghe rằng.
2. Chim thước báo điềm dữ, chim cưu báo điềm vui.
3. Chó giữ đêm, gà nhớ sáng.
4. Quán chỉ: Chỗ ở.
5. Ngũ kỵ: Năm nghề (bay, leo, đi dạo, nằm hang, chạy).
6. Tam tài: Ba đạo dựng lên trời, đất và người. Trời sinh ở hội tí.
7. Thực miêu: Cắn phá lúa miêu.
8. Xã tắc: Kinh Lễ, thiên Nguyệt lệnh chép: Con vua Cung Công là Câu Long hay trị viêc đất việc nước nên tế làm thần xã. Con vua Liệt Sơn tên Vãng Trụ, hay trồng lúa, nên sau tế làm thần tắc. Xã tắc nói chung là việc chính trị và sinh hoạt của một nước.
9. Bao Công.
10. Do câu: Thử thủ lưỡng đoạn: Đầu chuột nên hai thế. Tích đời Hán Võ đế, Điền Phân giận Hàn An Quốc làm chứng vụ Trường Nhụ nên nói An Quốc là đầu chuột nên mới hai đầu.
11. Thiệu Khang Tiết
12. Bốn bảy là hăm tám. Tức nhị-thập bát-tú; hăm tám vì tinh-tú.
13. Chuột yêu nghiệt.
14. Áo da chuột.
15. Có da có vóc.
16. Chia xẻ thân-thể.
17. Ném chuột e bể đồ.
18. Quạ diều
19. Mang theo.
30. Giặc cướp.
21. Lấy bộ đồ lòng của kẻ địch.
22. Làm cho thích miệng mọi người.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5581
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:05 pm

Thất Kinh Châu [1]


Ngũ hổ năm anh tướng rất mầu,[2]

Đâu dè đến nỗi thất Kinh Châu.

Thời Lưu chưa đạt hay sao đặng,

Vận Hớn còn suy giỏi mặc dầu.

Tiếc bấy công trình Gia Cát Lượng,

Uổng thay mỏi mệt Hán Đình hầu.[3]

Nghĩ thương cái phận Lưu Huyền Đức,

Nhiều nỗi Đàn Khê dễ sá âu.




Nguyễn Đình Chiểu


1. Bài thơ nói về trận thua của Quan Vân Trường với quân Đông Ngô để mất Kinh Châu. Quan Vân Trường không nghe lời quân sư Gia cát Lượng dặn trước khi giao Kinh Châu cho ông là: "Đông hòa Tôn Quyền bắc cự Tào Tháo". Quan đã cự tuyệt Tôn Quyền khi Tôn cho người đánh tiếng muốn con trai mình lấy con gái của Quan, đã thế Quan còn buông lời mắng cho con mình là hổ còn con của Tôn Quyền là chó. Thế là Tôn quyền bắt tay với quân Tào quyết đánh quân Thục ở Kinh Châu do Quan trấn giữ. Kết quả Quan Vân Trường bị bắt và chặt đầu, Kinh Châu về tay Đông Ngô. (VXTĐ: hậu sinh rất tôn kính bậc trượng nghĩa nhưng thiết nghĩ trước đó Lưu Bị là đại ca của Quan Vũ đã kết duyên với em gái Tôn Quyền, theo tư tưởng thời đó thì Tôn phu nhân cũng là chủ mẫu hoặc trong gia đình là tẩu tẩu của Quan hầu. Thiết nghĩ con của Quan hầu sánh duyên cùng cháu Tôn phu nhân thì cũng rất bình thường. Đằng này ... !!!)
2. Ngũ hổ: Quan Vân Trường là một trong năm đại hổ tướng của Lưu Bị, Quan hầu đứng đầu kế tiếp là: Trương Phi, Triệu Tử Long, Mã Siêu và lão tướng Hoàng Trung.
3. Hán Đình hầu: tên đủ là Hán Thọ Đình hầu là tước tào Tháo ban cho Quan Vân Trường khi ông bị lạc Lưu Bị trong trận chiến ở Từ Châu. Quan chấp nhận tạm thời ở lại với Tào Tháo để tìm tin tức Lưu Bị.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5581
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:18 pm

Thư gửi cho em


Thương tình bào đệ[1],
Gửi bức tâm thư[2].

Nghe em lăm toan việc tóc tơ,
Nên anh mới nhả lời vàng ngọc.

Hễ làm người có học,
Cho biết lễ trong nhà

Chẳng trau mình sao đặng chữ tề gia[3]
Còn nhỏ tuổi gấp chi đàng cầu tự[4]

Ví dù muốn nơi nào thiếp nữ,
Thì hãy giao quyền tại chính thê[5]

Thuận chị em trên dưới gia tề,
Nghịch chồng vợ cửa nhà hư hại.

Trong phép xử gia-môn[6] đặng phải;
Ngoài tiếng đồn phong-hóa[7] mới xinh.

Lẽ cũng cho một gáo múc đôi chình;
Khuyên chớ để đôi rìu cuôi một cội.

Vả đang lúc sự đời bối rối,
Nào xiết lo nghiệp cả bâng-khuâng.

Phận thiếp-thê mà có như Tề nhân[8]
Niềm tử tức[9], thà không như Bá đạo[10]

Em ôi!
May mà có mai cơm chiều cháo,
Hơn là người ăn tuyết nằm sương.

Ở nước loàn há sợ chữ thiên ương[11]
Theo đạo học phải dằn lòng nhân dục[12]

Ham sung sướng chẳng qua nuôi khẩu phúc[13]
E nghiêng nghèo còn nhọc đến thân danh.

Bậc quan quyền, chiếu bông gối dựa mới là vinh.
Hàng dân thứ, quần nhiễu, áo sô sao chẳng nhục.

Trau-giồi lắm cho đẹp con mắt tục,
Ghen-ghét nhiều lại chác cái tai phi[14]

Vậy thà cam hai chữ bố y[15],
Chi nhọc đến một điều mao ốc[16].

Bì sao kẻ thế gia vọng tộc[17]
Coi lấy người tiện-sĩ bần nhu[18]

Thời thế nầy thà chịu làm ngu;
Học-hành vậy cũng kêu là trí.

Em sao chẳng nghĩ!
Anh rất đỗi lo!

Bề ở ăn như cá núp trong nò;
Thân đùm đậu như én nằm trên gác.

Cám nỗi phụ-huynh thêm bát-ngát;
Phận làm tử đệ há nguôi ngoai?

Sung-sướng chi mà chồng một vợ hai;
Giàu sang mấy mà quần đôi áo cặp?

Thân rảnh sao chẳng cấp;
Tính xấu cũng nên chừa.

Trời, không lường trưa sớm nắng mưa;
Người, đâu biết hôm mai họa phước.

Chi bằng:
Giữ câu kiệm ước[19],
Lánh bợm phong lưu[20].

Việc...[21] oán hận chẳng nên cưu;
Thói ve vãn ăn chơi đừng bắt chước.

Hàng đi đứng tua dè nước bước;
Lời nói-năng phải giữ miệng môi.

Phận áo cơm đã đủ thì thôi;
Ơn đất nước ngày an cũng tốt.

Bề ăn ở chi bằng đái chốt[22];
Dạ thảo ngay chí dốc keo sơn.

Có nghĩa tình anh Tấn em Tần[23],
Đừng nghe chuyện cha Hồ mẹ Hán[24].

Đọc sách y phương, cho biết án;
Làm thầy nho sĩ, phải theo tài.

Dược trị đau chớ khá học sơ-sài;
Phép dạy trẻ chớ nên oai bẫm trợn.

Nghe nhiều kẻ tiếng đời nhơ bợn;
Muốn cho em mùi đạo thơm tho.

Khá nhớ lời gia giáo[25] dặn dòl
Khuyên chớ để xử thân[26] lầm-lỗi.

Nay gửi vài lời huấn hối
Xưa còn trăm chữ minh châm[27]

Nhớ để lời hôm sớm vịnh ngâm.
Hãy chữ dạ[28] khỏi điều quá thất[29].




Nguyễn Đình Chiểu


Khi ở Tân Thuận, thuộc tỉnh Gia Định, tác giả nghe tin người em trai là Nguyễn Đình Tự (1839-1891), ở lối cầu Bang Ky, cũng thuộc tỉnh ấy, sắp cưới một người thiếp, bèn gửi bức thư này.
1. Em ruột. Em cùng một cha mẹ sinh.
2. Thư viết với những lời xuất tự đáy lòng.
3. Sắp xếp việc cửa nhà cho êm đẹp.
4. Cầu con để nối dõi tông đường.
5. Vợ chính.
6. Cửa nhà, việc trong nhà.
7. Phong tục, giáo hoá, những điều trau giồi cho tốt đẹp.
8. Công chúa nước Tề là Tề Khương, con vua Tề Hoàn công, gả cho Trùng Nhĩ nước Tần. Người có đức hạnh, biết giục giã chồng lo việc lớn.
9. Con và dâu.
10. Đặng Nho tự Bá Đạo, làm quan đời Tấn. Người anh chết đã lâu, chỉ có một đứa con gửi lại Đặng nuôi. Đặng cũng chỉ có một đứa con trai. Phải khi Đặng bị giặc bắt, ép làm quan, Đặng lập kế trốn đi. Trong lúc trốn tránh, không thể dắt trẻ theo nhiều, Đặng bèn bỏ con mình lại, dắt con người anh theo. Vì nghĩ rằng người anh chỉ còn có một trẻ ấy là huyết mạch còn Đặng ắt cũng còn ngày sinh nở. Không dè về sau Đặng tuyệt tự. Nhưng đứa cháu cũng có hiếu nghĩa, thờ Đặng trọn tình.
11. Tai trời. Nạn do trời sinh.
12. Lòng ham muốn của con người.
13. Miệng và bụng.
14. Tai bay vạ gửi.
15. Quần bô áo vải. Phận nghèo ăn chắc mặc dầy, trong sạch.
16. Nhà tranh. Chốn thanh bạch.
17. Con nhà giàu sang rắn rác.
18. Phận trò khó.
19. Tiêu pha tiện tằn dè xẻn.
20. Dáng dấp ưa nhìn.
21. Khuyết mất hai chữ.
22. Chưa rõ là nghĩa gì!
23. Tấn và Tần là hai nước thường giao hiếu với nhau. Ý nói hoà thuận thương yêu.
24. Hán và Hồ là hai nước đời đời thù nghịch. Ý nói tránh sự tin nghe người ta xui giục.
25. Dạy dỗ nơi nhà.
26. Lo liệu lấy thân. Tự sửa mình.
27. Bài minh và bài châm, ghi những điều đạo nghĩa để xem đấy trau giồi thân tâm.
28. Ghi lòng.
29. Lầm lỗi.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:22 pm

Trời bão


Phi liêm xe ngựa đóng phương nao?

Oai gió đưa ra nước bến trào.

Thổi thốc miếu chùa hơi vụt vụt,

Xô nhào cây đá tiếng ào ào.

Ai rằng đầm Lộc mê Ngu Thuấn?

Ta nhớ sông Tuy giải Hán Cao!

Một trận bão rồi bờ cõi sạch,

Trời thu như cũ mãi không xao.




Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Wed Jul 18, 2012 4:29 pm

Từ biệt cố nhân [1]


Vì câu danh nghĩa phải đi ra,

Day mũi thuyền nan dạ xót xa.

Người dễ muốn chi nương đất khách,

Trời đà khiến vậy mến vua ta.

Một phương thà tránh đường gai gốc,

Trăm tuổi cho tròn phận tóc dạ.

Chén rượu ấm lòng xin cạn chén,[2]

Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.




Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.



1. Khi triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước 1862 nhường ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp, nhiều nhà nho tỏ thái độ bất hợp tác bằng cách rủ nhau tị địa. Tị địa, nghĩa là bỏ đất giặc chiếm, đi nơi khác, về ở Ba Tri, Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre). Nguyễn Đình Chiểu là một trong số những nhà nho đó. Những người quen biết đến tiễn chân ông, Nguyễn Đình Chiểu đọc bài thơ này chia tay với bạn bè quen cũ.
2. Có bản chép: "Chén rượu đỏ lòng xin cạn chén".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:28 am

Tứ dân - công


Hoá công máy móc ở đâu nà,

Trăm thợ nhân gian nghẻ ngóc ra.

Sáu tỉnh đua làm nghề khéo léo,

Năm châu sắm đủ của xây xoa.

Mẫu tuồng đơn kép theo hình thế,

Mỗi việc lâu mau tại ý ta

Máy tạo trong tay nào có vụng,

Chi lăm lương đống[1] nước cùng nhà.




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Lương đống: Rường cột, chỉ người có tài.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:38 am

Tứ dân - nông


Trải qua nắng hạ lúc mưa thu,

Cày cấy ghe phen sức dãi dầu.

Ấm lạnh trọn bề vài đám ruộng,

Làm ăn giữ bổn[1] mấy con trâu.

Chuyên nghề Hậu Tắc[2] nhà hằng đủ,

Giỏi việc Mân phong[3] nước chẳng sầu.

Nhờ gặp mùa màng trời đất thuận,

Cứ trăm giống thóc một tay thâu.




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Bổn: Hay "bản", vốn, cái gì thuộc về mình.
2. Hậu Tắc: Con vua Đế Cốc ở Trung Quốc, thời thượng cổ làm thuỷ tổ nhà canh nông.
3. Mân phong: Một thơ trong Kinh thi, nói về sự làm ruộng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:44 am

Tứ dân - sĩ


Lòng hềm kinh sử mấy mươi pho,

Vàng ngọc nào qua báu học trò.

Hoa trái rừng nhu ra sức hái,

Nghê kình biển thánh ráng công mò.

Cẩm văn[1] thêu dệt đời đời chuộng,

Mùi đạo trau giồi bữa bữa no.

Gặp thuở mày xanh siêng đọc sách,

Mỗi câu đều hưởng phúc trời cho




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Cẩm văn: Văn như gấm.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:51 am

Tứ dân - thương


Một câu thế lợi[1] mở muôn nguồn,

Giàu có đua nhau việc bán buôn.

Các chợ sinh tài[2] trăm họ nhóm,

Chiếc thuyền trực hoá[3] bốn phương luồn.

Trái cân Yến tử[4] không rơi dấu

Cuốn sách Đào công[5] chẳng hết tuồng.

Chờ giá rủi may may gặp vận,

Ra vào biết mấy của nghìn muôn.




Nguyễn Đình Chiểu

(Theo Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn),
Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957)



1. Thế lợi: Sự lợi lộc trong đời.
2. Sinh tài: Tiền của sinh sống, các vật bán buôn mưu cuộc sống.
3. Trực hoá: Chở hàng hoá lên đường. Đem các đồ vật đi buôn.
4. Yến tử: Yến Anh, làm đại phu nước Tề. Tề Cảnh công ban nghìn vàng, Yến Anh từ chối đôi ba phen không nhận lãnh. Vua vẫn một mực ép nài. Yến Anh nói "Kẻ hạ thần không nghèo". Ý nói ngay thẳng, thấy của không ham muốn.
5. Đào công: Phạm Lãi sau khi giúp vua Việt là Câu Tiễn khôi phục đất nước, rong thuyền chơi nhởn năm hồ. Đi đến đâu, buôn bán giỏi mà làm giàu. Lấy tên họ khác là Đào Chu. Còn truyền tụng một quyển "Đào công trí phú" dạy cách đi buôn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:54 am

Tú tài Chiểu tự thuật [1]


Đã đành trôi nổi tấm thân bèo,

Mình nghĩ lòng mình dám nói leo.

Đánh xé sau khi cò mổ vọp,

Sụt trồi đâu dám ốc mang rêu.

Cửa rồng muôn dặm may còn nhóm,

Bến Nghé năm canh quạ hãy kêu.

Chén rược xóm riềng cho cũng uổng,

No sau xin để mặt ăn heo.




Nguyễn Đình Chiểu


1. Bài thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được chép trong Thi vận tập thành, công bố nguyên văn trên tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1988.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:57 am

Tự thuật (I)


Mối tơ ai gỡ lúc này xong,

Một dải trời nam biết mấy trùng.

Kẻ ứa gan trung trương mắt ngó,

Người liều dạ sắt múa tay không.

Đến hay trung nghĩa theo tro bụi,

Hoài của giang sơn trút biển Đông.

Ơn nước, nợ nhà đành có thuở,

Biết bao chờ đợi, biết bao trông!




Nguyễn Đình Chiểu

(Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.)



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 7:58 am

Tự thuật (II)


Chiều chiều lại nhớ đến chiều chiều,

Cám cảnh giang sơn biết bấy nhiêu!

Dấu cũ gò bằng nền Hạ Vũ,

Phép xưa khuôn trái luật Đường Nghiêu.

Hứa Do ngơ mắt làm thằng mục,

Sào Phủ nghiêng tai giả chú tiều.

Thế vạy răn mình đừng có vạy,

Cờ mao chống chỏi chớ cho xiêu.




Nguyễn Đình Chiểu

(Nguyễn Đình Chiểu - Tác phẩm chọn lọc, Phạm Văn Ánh
giới thiệu và tuyển chọn, tr. 34, NXB Giáo dục Việt nam, 2009.)



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 8:18 am

Thà đui [1]


Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ
Dầu đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình
Dầu đui mà đặng trọn mình
Còn hơn có mắt đổi hình tóc râu
Sang chi theo thói tha cầu
Dọc ngang chẳng đoái trên đầu có ai
Sáng chi đắm sắc tham tài
Lung lòng nhân dục mang tai họa trời
Sáng chi sàm nịnh theo đòi
Nay vinh mai nhục mang lời thị phi
Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi
Thảo ngay chẳng biết, lỗi nghì thiên luân
Thấy rồi muôn việc trong trần
Xin còn hai chữ “tâm thần” ở ta.



Nguyễn Đình Chiểu


1. VXTĐ: Đây là một trích đoạn trong truyện thơ "Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp", nói lên tâm sự của Thầy thuốc Nhân Sư (nhân vật trong truyện), qua đó cụ Đồ Chiểu gởi trao tâm sự của chính ông trong nhân vật này. Tuy biết là trích đoạn nhưng VXTĐ vẫn đưa lên như 1 bài thơ riêng biệt về cách sống làm người.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 8:48 am

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc [1]


Hỡi ơi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn;[2]
Toan lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung[3];
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.[4]

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên[5], tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc[6] phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;
Mùi tinh chiên[7] vấy vá[8] đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong[9] che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư[10] đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu[11];
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình[12];
Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ[13].

Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ[14], theo dòng[15] ở lính diễn binh[16];
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ[17].

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu[18] bầu ngòi[19];
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu[20] nón gõ[21].

Hoả mai[22] đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà[23] ma ní[24] hồn kinh;
Bọn[25] hè trước, lũ[26] ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm[27] vội bỏ.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh[28], nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ[29].

Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình[30], già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh[31] đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực[32] theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi[33] cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui hào lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tà đạo[34], quăng vùa hương[35], xô bàn độc[36], thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái[37], về theo tổ phụ[38] cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di[39] rất khổ.

Ôi thôi thôi!
Chùa Tân Thạnh[40] năm canh ưng[41] đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa[42] một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc[43] trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ[44] trước ngõ.

Ôi!
Một trận khói tan;
Nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ[45].

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân[46];
Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ[47].

Hỡi ơi!
Có linh xin hưởng.



Nguyễn Đình Chiểu


1. Nghĩa sĩ: Người có chí khí, không quản ngại hi sinh làm việc nghĩa như cứu người, cứu nước. Cần Giuộc: Quận Cần Giuộc, nay thuộc tỉnh Long An.
2. Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp.
3. Trường nhung: Chỗ đánh nhau.
4. Làng hộ: Làng xóm (có bản chép: làng hộ).
5. Khiên: Thứ mộc hình tròn đan bằng mây dùng để đỡ mũi giáo đối phương lúc xung trận.
6. Tiếng phong hạc: Lấy ở câu "phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh", nghĩa gốc là nói sự hồi hộp lo lắng, nghe tiếng gió thổi hạc kêu, thấy cây cỏ cũng tưởng là giặc đuổi đánh. Ở đây, "tiếng phong hạc" có nghĩa là tin kẻ địch đến.
7. Mùi tinh chiên: Tanh hôi, chỉ bọn thực dân Pháp.
8. Vấy vá: Dây dính bậy bạ.
9. Bòng bong: Giống cây dây leo có nhiều râu (tay leo). Ở đây chỉ những lều và buồm vải có nhiều dây của quân Pháp.
10. Xa thư: Cỗ xe và chữ viết, do chữ "xa đồng quỹ, thư đồng văn", nghĩa là xe cộ cùng một đường (quỹ: dấu xe đi), sách viết cùng một thứ chữ, ý nói sự thống nhất hoàn toàn.
11. Chém rắn đuổi hươu: (lấy tích Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần) đến chiếm cướp. Cả vế "một mối ... đuổi hươu" có nghĩa: đất nước ta là một khối thống nhất vĩ đại, không thể nào để kẻ nào đến chiếm cướp.
12. Đoạn kình: Chém cá kình.
13. Bộ hổ: Bắt hổ.
14. Quân vệ: Các loại đơn vị quân đội thời phong kiến.
15. Theo dòng: Dòng dõi cha ông.
16. Diễn binh: Luyện tập việc binh.
17. Chiêu mộ: (chiêu: vời, mời; mộ: cầu, tìm) tuyển trên cơ sở tự nguyện.
18. Bao tấu: Bao đựng kiếm.
19. Bầu ngoài: Bầu đựng ngòi thuốc nổ.
20. Dao tu: Dao dài lưỡi.
21. Nón gõ: Nón của người lính ngày xưa.
22. Hỏa mai: Mồi lửa để bắn súng (ngày xưa).
23. Mã tà: Theo tiếng Malaysia là cảnh sát.
24. Ma ní: Lính của Tây Ban Nha mộ ở Philippin (Mani: thủ đô Philippin).
25 & 26. Bọn, lũ: ngày trước chỉ có nghĩa là nhiều người, ít có nghĩa là coi thường. Ở đây là chỉ các nghĩa quân.
27. Xác phàm: Xác của con người trần tục.
28. Hạnh là may, ý nói may được cứu sống. quy: về, ở đây là chết.
29. Gươm hùm treo mộ: Một nghĩa sĩ thời Chiến Quốc không thoả được chí mình, trước khi chết, dặn con treo gươm trên mộ để tỏ chí khí.
30. Trường Bình: Thuộc Cần Giuộc.
31. Vi binh: Làm lính.
32. Hiệu lực: (hiệu: hết sức) làm hết sức để chuộc tội, hoặc có tội phải đi làm những việc nguy hiểm để chuộc tội.
33. Tài bồi: (tài trồng cây; bồi: vun thêm) vun đắp.
34. Tà đạo: Đạo bất chính, ở đây là chỉ đạo Giatô. Bấy giờ bọn cướp nước lợi dụng đạo Giatô để chia rẽ nhân dân ta và mượn cớ đi truyền đạo để do thám. Các chí sĩ của ta chưa nhận rõ đâu là kẻ theo địch, đâu là người theo đạo nên chủ trương bài đạo nói chung.
35. Vùa hương: Bình hương.
36. Bàn độc: Bàn thờ tổ tiên.
37. Địch khái: Tinh thần chống lại kẻ mình căm giận.
38. Tổ phụ: Ông nội, người sinh ra cha. Ở đây chỉ tổ tiên, ông cha nói chung.
39. Man di: Mọi rợ, ở đây chỉ bọn giặc Pháp.
40. Chùa Tân Thạnh: Một ngôi chùa ở Chợ Lớn (có bản chép: Tôn Hạnh).
41. Ưng: Phải chịu.
42. Đồn Lang Sa: Đồn Pháp.
43. Phận bạc: Phận mỏng.
44. Dật dờ: Vất vơ, vất vưởng.
45. Con đỏ: Chữ Hán là "xích tử", trẻ con mới đẻ còn đỏ hỏn. Nghĩa bóng là nhân dân (cần được chăm sóc như chăm sóc đứa trẻ mới đẻ).
46. Thiên dân: Dân của trời.
47. Vương thổ: Đất của vua.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:12 am

Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh


Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh;
Căm loài dương tặc.

Ngoài sáu tỉnh hãy ngợi câu án đổ, dân nhờ vua đặng lẽ sống vui;
Trong một phương sao mắc chữ lục trầm, người vì nước rủ nhau chết ngặt!

Nhớ các linh xưa:
Tiếng đồn trung nghĩa đến xa;
Thói giữ cương thường làm chắc.

Từ thủa Tây qua cướp đất, xưng tân trào gây nợ oan cừu;
Chẳng qua dân mắc nạn trời, hoài cựu chúa mang lời phản trắc.

Các bậc sĩ nông công cổ, liền mang tai với núi song tâm;
Mấy nơi tổng lý xã thôn, đều mắc hại cùng cờ tam sắc.

Bọn tam giáo quen theo đường cũ, riêng than bất hạnh mang nghèo;
Bầy cửu lưu cứ nối nghề xưa, thầm tủi vô cô chịu cực.

Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo;
tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.

Trải mười mấy năm trầy khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên;
Đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông hoặc biển hoặc núi hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.

Khá thương thay!
Dân sa nước lửa chầy ngày;
Giặc ép mỡ giàu hết sức.

Đành những kẻ cha thù anh oán, nhảy vòng báo ứng đã cam;
Cực cho người vợ goá con côi, gây đoạn thảm sầu khôn dứt.

Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời;
Phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất.

Nghĩ nỗi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào mấy kẻ khóc than;
Tưởng câu danh lợi tuồng đời, trường khối lỗi mặc dầu ai náo nức.

Trời hỡi trời!
Lòng nghĩa dân phải với ngô quân;
Tiếng nghịch đảng lỗi cùng địch vức.

Gần Côn Lôn xa đại hải, máu thây trôi nổi ai nhìn;
Hàng cai đội bậc quản cơ, xương thịt rã rời ai cất?

Sống thời chịu nắng sương trời một góc, khó đem sừng ngựa hẹn quy kỳ;
Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng, khôn mượn thư nhàn đưa tin tức.

Thấp thoáng hồn hoa phách quế, lòng cố hương gửi lại bóng trăng thu;
Bơ vơ nước quỷ non ma, hơi âm sát về theo luồng gió bấc.

Như vậy thì:
Số dẩu theo sáu nẻo luân hồi;
Khi sau để trăm năm uất ức.

Trời Gia Định ngày chiều ráng bắn, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ;
Đất Biên Hoà đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn trời hiu hắt.

An Hà quận đang khi bạch trú, gió cây vụt thổi cát xoáy bay con trốt dậy bên thành;
Long Tường Giang mỗi lúc hoàng hôn, khói nước sông mù, lửa huỳnh nháng binh ma chèo dưới vực.

Nhìn mất chặng cờ lau trống sấm, mỉa mai trận nghĩa gửi binh tình;
Thảm đòi ngàn ngựa gió xe mây, mường tượng vong linh về chiến lật.

Thôi!
Người lạc phách theo miền giang hải, cung ngao lẩn thẩn, dành một câu thân thế phù trầm;
Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, luỹ kiến đồn ong, còn bốn chữ "âm dung phảng phất".

Ôi!
Sống muốn cho an;
Thác sao rằng bức?

Dẫu sớm thấy ngọn cờ điếu phạt, phận thần dân đâu chẳng toan còn;
Chưa kịp nghe tiếng trống an hương, nghĩa quân phụ nào dè chết mất.

Hoặc là sợ như đất triêu Tần mộ Sở, cuộc can qua sông cũng ở ghê mình;
Hoặc là e như trời nam Tống bắc Kim, đường binh cách thác đi cho khuất mặt.

Tiếc non nước ấy nhân dân dường ấy, gây sự này nào thấy phép tẩy oan;
Biết cha mẹ đâu tộc loại ở đâu, chạnh tình đó mới ra ơn điếu tuất.

Tuy uổng mệnh hãy chờ khi sách mệnh, sẵn vòng quả báo vấn vương;
Song oan hồn chưa có kẻ chiêu hồn, khiến tấm linh đài bực tức.

Nhớ phận áo cơm đất nước, trọn mấy năm ngóng cổ trông quan;
So bề mồ mả ông cha, còn hơn đứa đành lòng theo giặc.

Đến nay:
Cám cảnh Nam Trung;
Trách lòng tạo vật.

Ví như sĩ sinh đời Đông Tấn, nay đánh Hồ mai dẹp Yết, thời phơi gan trong đám tinh chiên;
Nào phải dân ở cõi U Yên, sớm đầu Hạ, tối về Liêu, mà trây máu bên đường kinh cức.

Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh;
Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc.

Muôn dặm giang sơn triều thánh đố, gian sơn còn hơi chính đều còn;
Nghìn năm hồn phách nạn dân này, hồn phách mất tiếng oan nào mất.

Dẫu đặng ơn nhuần khô cốt, cơn trị bình mới thấy đạo vương;
Muốn cho phép vớt linh hồn, buổi ly loạn khôn cầu kinh Phật.

Ôi!
Trời xuống nàn quỷ trắng mấy năm;
Người uống giận suối vào vàng lắm bực.

Cảnh Nam thổ phơi màu hoa thảo, đọng tình oan nửa úa nửa tươi;
Cõi Tây thiên treo bức vân hà, kết hơi oán chặng thưa chặng nhặt.

Ngày gió thổi lao xao tin dã man, thoắt nhóm thoắt tan thoắt lui thoắt tới, như tuồng bán dạng linh tinh;
Đêm trăng lời giéo giắt tiếng đề quyên, dường hờn dường mến dường khóc dường than, đòi đoạn tỏ tình oan khuất.

Xưa nghe có bến sông Vị Thuỷ, lấy lễ nhân đầu tế lũ hồn oan;
Nay biết đâu bãi cát Trường Sa, mượn của âm phù độ bè quỉ ức.

Đốt lọn nhang trầm trời đất chứng, chút gọi là làm lễ vãn vong;
Đọc bài văn tế quỉ thần soi, xin hộ đó theo đường âm chất.

Hỡi ôi! Thương thay! Có linh xin hưởng.



Nguyễn Đình Chiểu
(1874)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:25 am

Văn tế Trương Định


Hỡi ơi!
Giặc cỏ bò lan;
Tướng quân mắc hại.

Ngọn khói Tây bang[1] đóng đó, cõi biên còn trống đánh sơn lâm[2];
Bóng sao Võ khúc[3] về đâu, đêm thu vắng tiếng canh dinh trại.

Nhớ tướng quân xưa:
Gặp thuở bình cư[4];
Làm người chí đại[5].

Từ thuở ở hàng viên lữ[6], pháp binh trăm trận đã làu;
Đến khi ra quản đồn điền, võ nghệ mấy ban cũng trải.

Lối giặc đánh, tới theo quan tổng, trường thi, mô súng, trọn mấy năm ra sức tranh tiên[7];
Lúc cuộc tan, về huyện Tân Hòa, đắp lũy đồn binh, giữ một góc bày lòng địch khái[8].

Chợt thấy cánh buồm lai sứ, việc giảng hòa những tưởng rằng xong[9];
Đã đành tấm giấy tựu phong, phận thần tử há đâu dám cãi.

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên-tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền[10];
Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại[11].

Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa[12], sĩ phu[13] lắm kẻ xui theo;
Tóm muôn dân gầy sổ mộ binh, luật lệnh mấy ai dám trái.

Văn thì nhờ tham biện, thương biện, giúp các cơ bàn bạc nhung-công;
Võ thì dùng tổng binh, đốc binh, coi các đạo sửa sang khí giái.

Khá thương ôi!
Tiền vàng ơn chúa, trót đã rỡ ràng;
An bạc mưu binh, nào từng trễ nải.

Chí lăm dốc cờ xuê lộ bố[14], chói sắc giữa trào;
Ai muốn đem gươm báu Can tương chôn hơi ngoài ải.

Há chẳng thấy:
Sức giặc Lang sa;
Nhiều phương quỷ quái.

Giăng dưới nước tàu đồng tàu sắt, súng nổ quá bắp rang;
Kéo trên bờ ma ní, ma tà, đạn bắn như mưa vãi.

Dầu những đại đồn thuở trước, cũng khó toan đè trứng nghìn cân;
Huống chi cô lũy ngày nay, đâu dám chắc treo mành một giải.

Nhưng vậy mà:
Vì nước tấm thân đã nấy, còn mất cũng cam;
Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại.

Rạch Lá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh;
Cửa Khâu, Trại Cá khắp nơi, ai nghe chẳng hãi.

Nào nhọc sức họ tào biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên;
Nào nhọc quan võ khố bình cân, thuốc đạn ghe buôn, quyền bốn chữ giao thương đạo tải.

Núi đất nửa năm ngăn giặc, nào thành đồng lũy sắt các nơi;
Giáo tre ngàn dặm đánh Tây, là ngựa giáp xe nhung mấy cái.

Ôi!
Chí dốc đem về non nước cũ, ghe phen hoạn nạn, cây thương phá lỗ[15] chưa lìa;
Nào hay trở lại cảnh quê xưa, nhắm mắt lâm chung, tấm bảng phong thần vội quải[16].

Chạnh lòng tướng sĩ, thương quan tướng, nhắc quan tướng, chiu chít như gà;
Bậc trí, nhân dân, giận thằng tà, mắng thằng tà, om sòm như nhái.

Ôi!
Sự thế hỡi bên Hồ bên Hán, bao giờ về một mối xa thư[17]?
Phong cương còn nửa Tống nửa Liêu, đâu nỡ hại một tay tướng-soái.

Nào phải kẻ tán sư[18] đầu giặc, mà để nhục miễu đường;
Nào phải người kiểu chiếu[19] đánh phiên, mà gây thù biên tái[20].

Hoặc là chuộng một lời hòa nghị, giận Nam phiên phải bắt Nhạc Phi về;
Hoặc là do trăm họ hoành la[21], hờn U địa chẳng cho Dương Nghiệp lại.

Vì ai khiến dưa chia[22] khăn xé, nhìn giang san ba tỉnh luống thêm buồn;
Biết thuở nào cờ phất trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái.

Còn chi nữa! cõi cô thế riêng than người khóc tượng, nhắm mắt rồi, may rủi một trường không;
Thôi đã đành! bóng tà dương gấm ghé kẻ day đòng, quày gót lại, hơn thua trăm trận bãi.

Ôi!
Làm ra cớ ấy, tạo hóa ghét nhau chi?
Nhắc tới đoạn nào, anh hùng rơi lụy mãi.

Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước, nào hờn tiếng thị tiếng phi[23];
Cõi Yên hà một chức chịu lãnh binh, lây lất theo thời, chưa chắc đâu thành đâu bại!.

Khóc là khóc nước nhà cơn bấn-loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nôi;
Than là than bờ cõi lúc qua phân[24], ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại.

Tướng quân còn đó, các nơi đạo tặc thảy kiêng dè;
Tướng quân mất rồi, mấy chỗ nghĩa binh thêm bái xái.

Nào đã đặng mấy hồi nơi thích lý, màn hùm[25] che mặt rằng xuê;
Thà chẳng may một giấc chốn trường sa, da ngựa bọc thây mới phải.

Ôi!
Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp lúc gian truân;
Đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng trung ái.

Xưa còn làm tướng, dốc rạng giồi hai chữ bình Tây;
Nay thác theo thần, nên dâng hộ một câu phúc thái.



Nguyễn Đình Chiểu


1. Ý nói chiến hạm của quân Pháp chiếm đóng.
2. Cõi biên thùy, nghĩa-quân còn hăm hở náu mình nơi rừng rú, kháng chiến.
3. Vì sao bản mệnh của viên tướng tài.
4. Lúc ở yên.
5. Nuôi chí lớn.
6. Chỗ quân sĩ đóng.
7. Tranh tiên: Giành xông xáo trước.
8. Địch khái: Chống kẻ căm giận đối với dân nước mình.
9. Sứ bộ Phan Thanh Giản trở về, nhưng việc giảng hòa chưa kết quả.
10. Mã tiền: trước ngựa.
11. Khổn ngoại: Ngoài cửa buồn. Phần việc ngoài biên của võ tướng.
12. Phấn nghĩa: Dấy lòng nghĩa khí.
13. Sĩ phu: Bậc người có giá trị.
14. Lộ bố: Tờ không niêm phong để cho mọi người biết (báo thắng trận).
15. Lỗ: Đứa giặc. Giặc giã.
16. Quải: Treo.
17. Xa thư: Xe và sách. Do câu sách Trung Dung: "Kim thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn". Nghĩa: Nay ở gầm trời, xe chung đường, sách chung chữ. Ý nói thiên hạ thông đồng.
18. Tán sư: Giải tán binh đội.
19. Kiểu chiếu: Làm tờ chiếu giả.
20. Biên tái: Cõi biên thùy.
21. Hoành la: Mắc lưới. Lâm cảnh khổ.
22. Do chữ qua phân: Quả dưa bổ ra. Nghĩa bóng là chia cắt đất cát.
23. Thị phi: Phải và trái.
24. Qua phân: Quả dưa bổ ra. Ý nói đất nước bị chia xẻ.
25. Do chữ hổ tướng: Chỗ các viên tướng hội họp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:38 am

Viếng cụ Phan Thanh Giản bài 1 [1]


Non nước tan tành hệ bởi đâu?

Dàu dàu mây bạc[2] cõi Ngao Châu.[3]

Ba triều[4] công cán vài hàng sớ[5],

Sáu tỉnh[6] cương thường một gánh thâu.

Ải bắc ngày trông tin nhạn vắng[7],

Thành nam đêm quạnh tiếng quyên[8] sầu.

Minh tinh chín chữ[9] lòng son tạc,

Trời đất từ đây mặc gió thu.




Nguyễn Đình Chiểu


1. Tên bài ghi theo GS. Dương Quảng Hàm (Văn học Việt Nam, Trung tâm học liệu Sài Gòn, xuất bản theo bản in năm 1939, tr. 144). Tuy nhiên, trong "Nguyễn Đình Chiểu toàn tập" (Nxb ĐH&THCN, 1982, tr. 38-39), thì bài này và một bài nữa có tên chung là "Điếu Đông các đại học sĩ Phan công nhị thủ".
2. Ý nói người chết.
3. Ngao Châu: Hay Bãi Ngao, ở tỉnh Bến Tre, là quê hương cụ Phan.
4. Cụ làm quan trong ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
5. Ý đây nói đến bản sớ cụ dâng lên vua Tự Đức sau khi nộp thành trì cho người Pháp, để nhận tội.
6. Sáu tỉnh cũ xứ Nam-kỳ khi còn thuộc quyền nhà vua.
7. Câu này ý nói ngày ngày trông mong tin tức ở kinh đô tới mà không thấy gì cả.
8. Quyên: Tên một loài chim tức là con cuốc.
9. Minh tinh chín chữ: Mảnh lụa mảnh vải hay mảnh giấy trên đề danh hiệu và chức tước người chết trong khi đám ma. Lúc cụ Phan sắp mất, dặn con đề trên minh tinh chín chữ này: "Hải nhai thư sinh Phan Lương Khê chi cữu" (quan tài của người học trò ở góc bể họ Phan hiệu Lương Khê) chứ không đề chức phẩm gì cả.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:40 am

Viếng cụ Phan Thanh Giản bài 2


Lịch sĩ tam triều độc khiết thân,

Vi công thuỳ tán nhất phương dân.

Long hồ uổng phụ thư sinh lão,

Phụng các không vi học sĩ thần.

Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật,

Tận trung hà hận rủ Trương Tuần.

Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự,

Nam đắc thung dung tựu nghĩa thần.




Nguyễn Đình Chiểu


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:46 am

Vương Lăng biếm Trần Bình


Chín đời còn thấy vận Cao hoàng,

Mặt mũi đâu mà vội dở dang.

Dưới suối há ngờ Lưu Cao Đế,

Trong thù nào có Lã ma vương.

Tranh tranh Hán thất gương còn để,

Phủ việt Xuân thu tội ắt mang.

Muôn một cũng liều thân với nước,

Cớ sao mà chịu ấn nương nương.




Nguyễn Đình Chiểu


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:53 am

Xem bói


Trải xem thường chuộng báo thi quy,[1]

Nồng nực mùi hương chúa Phục Hy.[2]

Tám quẻ[3] bố ra đường bí yếu[4] ,

Sáu hào[5] xây để máy u vi[6] .

Kiết hung[7] muôn việc vài lời đoán,

Thời vận nghìn năm một lẽ suy.

Bày vẽ khắp trời đường hoạ phúc,

Nào con mắt tục mấy người tri[8] .




Nguyễn Đình Chiểu


1. Thi: Cỏ thi. Đời xưa hái cọng cỏ thi để bói; Quy: Rùa. Bói dùng mai rùa.
2. Người đời thượng cổ, xướng xuất tám quẻ (bát quái) làm nền tảng cho kinh Dịch.
3. Tức bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi quẻ có tính cách riêng, theo pháp tượng tự nhiên mà hình thành, và lấy đó mà giải thích các hiện tượng trong trời đất.
4. Bí yếu: Những điều cốt, gốc phải dùng công phu nhiều mới rõ.
5. Mỗi quẻ có sáu hào, ba hào dưới gọi là quẻ nội, ba hào trên gọi là quẻ ngoại.
6. U vi:Nhiệm nhặt, sâu kín.
7. Kiết: Lành tốt; hung: xấu, dữ.
8. Tri: Hay, biết.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   Thu Jul 19, 2012 9:57 am

Xúc cảnh [1]


Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông[2],

Chúa xuân[3] đâu hỡi, có hay không?

Mây giăng ải bắc[4] trông tin nhạn,

Ngày xế non nam[5] bặt tiếng hồng.

Bờ cõi xưa đà chia đất khác,

Nắng sương nay há đội trời chung.

Chừng nào thánh đế[6]] ân soi thấu,

Một trận mưa nhuần rửa núi sông.




Nguyễn Đình Chiểu


1. Bài này nằm trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp.
2. Gió từ phương đông tới, tức gió mùa xuân
3. Mùa xuân đưa lại sức sống mới cho muôn loài, cho con người. Do đó nó được gọi là Chúa xuân. Ở đây ý nói Tổ quốc độc lập (vì Tổ quốc độc lập thì mọi người dân có hạnh phúc)
4. Ải vốn có nghĩa chỗ đất hiểm trở, chật hẹp, quạnh hiu. Ải cũng có nghĩa chỗ giáp giới giữa hai nước. Ở đây, ải bắc có nghĩa là phương bắc xa xôi
5. Núi ở phương nam. Ở đây, non nam là phương nam (cũng có thể nói là Nam Bộ lúc này đã bị chiếm đóng hoàn toàn)
6. Vị vua đáng tôn kính. Trong điều kiện ý thức hệ phong kiến còn thống trị, Nguyễn Đình Chiểu không thể không nói đến thánh đế, nhưng đó là vị vua lý tưởng mà ông ước mơ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Đình Chiểu   

Về Đầu Trang Go down
 
Nguyễn Đình Chiểu
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2
 Similar topics
-
» Con Lưu Ngọc Tuấn, Lê Hữu Sang, và Phan Nguyễn quốc Tú
» Cây si trên tàu- Gửi Phan Nguyễn Quốc Tú
» Hướng dẫn đổi hộ chiếu phổ thông và hộ chiếu thuyền viên sắp hết hạn
» Trung tâm làm sổ thuyền viên,hộ chiếu thuyền & chứng chỉ trực ca cho thuyền viên
» Tài liệu Điều động tàu của thầy Nguyễn Viết Thành

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến