Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
miền Huynh Liên

Share | 
 

 Điển hay Tích lạ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4
Tác giảThông điệp
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu


Tổng số bài gửi : 1056
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:24 am

Chim Việt, ngựa Hồ


Cổ thi có câu:

Hồ mã tê Bắc phong,
Việt điểu sào Nam chi.


Nghĩa là:

Ngựa Hồ hí gió Bắc,
Chim Việt ở cành Nam.


Chim Việt là loài chim sinh ở đất Việt, thuộc phía nam nước Tàu. Mỗi năm cứ đến buổi đầu thu, từng đàn chim Việt bay sang phương Bắc để kiếm ăn. Vì khi thu sang, phương Bắc có nhiều chỗ có giống lúa mới vừa chín, lại thêm có nhiều hoa quả. Trái lại ở phương nam vì mới giao mùa, lúa vừa đọng sữa, cây trái hiếm. Do đó, chim Việt phải đổ sang đấy kiếm ăn.

Tuy sang phương Bắc nhưng đàn chim Việt vẫn nhớ quê hương. Muốn làm ổ, chúng chọn cành cây chĩa về phương Nam, tức là phương của quê nhà mà chim sinh trưởng.

Chim Việt (Việt điểu) để chỉ chim nhớ quê hương cố quốc.

Ngựa Hồ là ngựa ở nước Hồ. Nước này ở về phương bắc nước Tàu mà ngày xưa người Tàu thường cho là nước man rợ hay cũng gọi là Phiên quốc. Ngựa Hồ cao lớn, leo núi rất giỏi, chạy rất nhanh. Người Trung Quốc thường mua về làm ngựa chiến trận. Nước Hồ vốn là xứ lạnh. Khi đông về, gió bấc thổi, tuyết rơi lả tả, gió lạnh tê tái.

Ngựa Hồ tuy về Trung Quốc, là nơi tương đối ấm áp nhưng vẫn nhớ đến đất Hồ tê lạnh, mỗi độ đông về. Vì thế khi có gió bấc là gió phương bắc thổi đến, tuyết rơi lả tả nơi đất Trung nguyên thì ngựa cất tiếng hí lên thê thảm tỏ lòng nhớ cố quốc.

Có sách lại chép: nước Hồ đem ngựa cống vua Hán ở Trung nguyên. Ngựa được nhốt vào chuồng cho ăn uống thật ngon và được chăm sóc rất kỹ. Nhưng khi gió bấc thổi đến thì ngựa lại bỏ cả ăn uống, ngóng về phương bắc hí vang lên những tiếng bi thảm.

"Chim Việt ngựa Hồ" trở nên thành ngữ, có nghĩa bóng là không quên nơi quê hương cố quốc dù ở nơi đất khách quê người.

Trong tác phẩm "Trinh thử" của Hồ Huyền Qui có câu: "Chỉ con chim Việt đỗ rày cành Nam".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu


Tổng số bài gửi : 1056
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:26 am

Lễ hôn


Ở Việt Nam, những nghi lễ về cưới gả vốn của Trung Hoa truyền sang từ thời Bắc thuộc (111 trước D.L.) do hai quan thái thú Tích Quang và Nhâm Diên.

Hẳn vào thời kỳ xa xưa, người Việt Nam xây dựng hôn nhân có lẽ giản dị lắm. Thế nên quan lại Trung Hoa sang cai trị đất Giao Chỉ phải dạy dân cưới gả theo nghi lễ phiền phức của họ.

Theo cổ tục, hôn lễ có 6 lễ:
1/ Nạp thái: lễ coi mắt, chọn lựa.
2/ Vấn danh: lễ hỏi tên họ, tuổi.
3/ Nạp kiết: lễ bói xem hai tuổi có hợp nhau không.
4/ Nạp trưng: nạp sính lễ như tiền bạc, quần áo, nữ trang...
5/ Thỉnh kỳ: định ngày cưới.
6/ Thân nghinh: lễ rước dâu.


Tuy kết hôn theo kiểu Tàu nhưng người Việt Nam đã bỏ bớt một số nghi lễ phiền phức mà chỉ còn giữ ba lễ chính:

1/ Lễ vấn danh (lễ giạm) là lễ do nhà trai nhờ mối (mai) đến hỏi tên tuổi người con gái để so hai tuổi trai gái xem có hợp nhau không (sung khắc hoặc tương hợp theo số tử vi).
2/ Lễ nạp trưng (lễ hỏi) là lễ đem đồ sính lễ đến nhà gái.
3/ Lễ thân nghinh là lễ họ nhà trai đến nhà gái rước dâu về.

Việc hôn nhân do cha mẹ định đoạt (phụ mẫu chi mạng) hay do lời nói của người mối lái (môi chước chi ngôn). Con cái không có quyền định đoạt mối lương duyên của mình.

Khi cha mẹ ưng ý một người con gái nào hoặc vì nết na, đảm đang, hoặc vì địa vị gia đình (môn đăng hộ đối) thì nhờ người mối (băng nhân) đến điều đình. Nếu nhà gái thuận thì người mối đem lễ đến nhà gái xin "lộc mạng" hay "bát tự", tức là giấy ghi chép giờ, ngày, tháng, năm sinh của người con gái. Nếu thấy số so tuổi hai người trai gái được tương hợp thì nhà trai cùng người mối đem lễ vật đến nhà gái để sính ước. Lễ này gọi là lễ nạp trưng, lễ nạp lệ hay cũng gọi là lễ hỏi.

Từ đấy, cứ đến ngày nhà gái có giỗ, người con trai phải đến cúng. Và theo những ngày lễ tết trong một năm, phải đem đồ lễ tết đến nhà vợ chưa cưới. Lễ tết dài trong bao nhiêu năm không chừng. Vì người Nam có tục hỏi vợ cho con ngay từ lúc con còn nhỏ, đợi đến gần tuổi trưởng thành mới cưới hẳn, hoặc bị tang chế phải đợi.

Cũng có tục bắt con trai đến nhà gái làm giúp đỡ công việc trước khi cưới, tục gọi làm rể hay giữ rể. Nhưng thường con trai nhà nghèo mới chịu cách này.

Sau lễ hỏi, nhà gái đem trầu cau biếu người trong họ, bằng hữu để báo tin mừng. Nếu đôi trai gái đã trưởng thành mà lỡ gặp người trong họ chết thì có thể hỏi cưới ngay để tránh sự ngăn trở bởi tang chế. Như vậy tục gọi là cưới chạy tang.

Trước ngày cưới (lễ nghinh thân) nhà trai cho mối đến điều đình về món tiền và lễ vật cưới. Đến ngày đón dâu, chú rể cùng họ hàng khăn áo tốt đẹp chỉnh tề, họp thành một đoàn, chọn giờ hoàng đạo, kéo đến nhà gái do một người chủ hôn đi đầu hướng dẫn. Người chủ hôn (thường chọn người cao tuổi, vợ chồng song toàn có con cháu đông đúc) mặc lễ phục, bưng quả hộp đựng trầu cưới và tư trang của cô dâu, mở lối, rồi đến các người dẫn lễ, sau đến chú rể cùng hai người phù rể, sau là cha mẹ và họ hàng đàng trai.

Tất cả lễ vật cũng như số người đều không được lẻ mà phải đủ đôi đủ cặp.

Trong khi đến nhà gái, dọc đường, họ nhà trai thường gặp những đám giăng dây. Phải nộp tiền, họ mới mở lối cho đi. Nếu lấy vợ ở làng khác, lệ giăng dây còn sinh ra nhiều phiền nhiễu. Vì mỗi ngõ phải qua, họ nhà trai thường gặp nhiều đám giăng dây. Có đám bày cả hương án với đỉnh trầm, đèn nến, giá hương, độc bình, trên giăng một sợi dây điều kèm một cây kéo cắm trong bình hương do tuần tráng bầy ra. Khi họ đàng trai nạp tiền rồi mới cắt dây cho đi. Đó là một thứ tiền phụ, còn có số tiền nộp cheo phải trả cho làng để làng công nhận việc hôn thú.

Nhiều khi, trong họ nhà gái, có người ra đón tại cổng để lấy tiền nhà trai rồi mới mở cổng cho vào. Hoặc chính người em hay người cháu đích trưởng nhà gái đóng cả cửa từ đường lại để đòi tiền rồi mới mở ra. Những tục lệ này không được phổ thông bằng tục lệ giăng dây.

Bấy giờ vị chủ nhân họ nhà trai (hay mai nhân) đem đồ nữ trang và đôi đèn cầy đi thẳng lại bàn thờ để khai hộp giữa bàn. Hai ông sui trai gái, mỗi người lãnh lấy một cây đèn cắm vô chưn đèn rồi đốt lên. Mai nhân họ nhà trai trình cho mai nhân họ nhà gái những lễ cưới. Đoạn chú rể cô dâu làm lễ từ đường, rồi lạy cha mẹ, mai dong, thân tộc. Bà con họ hàng muốn cho tiền thì cho ngay lúc cô dâu chú rể đương lạy mình.

Lễ xong, nhà họ gái đãi trà mứt rồi tiệc rượu. Trong lúc này cũng như trong họ nhà trai đến, họ thường đốt pháo để cảnh thêm tưng bừng vui vẻ.

Ăn uống xong đoạn rước dâu về.

Khi đưa dâu, họ nhà gái chọn người cao tuổi cầm bó hương đi trước. Rồi họ hàng dẫn cô dâu theo sau. Có hai cô phù dâu đi cạnh hai bên cô dâu.

Về đến nhà trai, cô dâu chú rể đến bàn thờ làm lễ gia tiên, rồi lạy cha mẹ, mai dong, thân tộc như bên nhà gái, đoạn làm lễ nhập phòng. Trước khi vào phòng, cô dâu phải bước qua cái hỏa lò than hồng để xua đuổi tà khí.

Trong phòng cưới có đặt sẵn một mâm trầu rượu gọi là "mâm tơ hồng". Người chồng lấy trầu lễ tơ hồng trao một nửa cho vợ lại rót một chén rượu, uống một nửa trao cho vợ uống. Đó là lễ Hợp Cẩn hay lễ Giao Bôi.

Ba hôm sau, hai vợ chồng cùng trở về nhà vợ làm lễ từ hỉ hay "lại mặt" hay cũng gọi là lễ "giở mâm trầu". Rồi vợ chồng cùng đi chào họ hàng nhà vợ. Sau lễ cuối cùng này, hai vợ chồng lại trở về nhà chồng. Từ đấy, người vợ không còn quan hệ mật thiết đến gia tộc mình nữa (nữ nhân ngoại tộc).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu


Tổng số bài gửi : 1056
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:32 am

Hỏa ngưu trận


Tướng nước Yên là nhạc Nghị đem quân đánh nước Tề. Trong vòng 6 tháng mà hạ được 70 thành của Tề. Chỉ còn hai thành thôi là Cử Châu và Tứ c Mặc đương hấp hối trước lực lượng của Yên. Riêng thành Tức Mặc bị bao vây rất ngặt.

Tướng giữ thành Tức Mặc chết. Điền Đan được cử lên thay. Hàng ngày, Điền Đan tay cầm ván, thuổng cùng sĩ tốt làm việc. Họ hàng thê thiếp đều ghép vào hàng ngũ cả. Người trong thành đều sợ mà được yên.

Nhạc Nghị vây suốt ba năm mà không hạ được thành, bèn rút quân lui ra 9 dặm, đắp lũy để giữ. Lại hạ lịnh rằng: Dân trong thành Tức Mặc nếu có ai ra kiếm củi thì cứ cho ra tự do, ai đói thì cho cơm ăn, ai rét thì cho áo mặc. Ý muốn cho dân trong thành cảm phục mến đức mà qui hàng.

Quan đại phu nước Yên là Kỵ Kiếp gièm pha với vua Yên là Nhạc Nghị không muốn hạ thành Tức Mặc sớm, cố kéo dài để xem ân uy kết chặt lòng dân Tề, mục đích sẽ tự lập làm vua Tề vậy. Dò được tin đó, Điền Đàn liền bí mật cho người sang Yên đồn đãi lên rằng: người Tề chỉ sợ nhất là Nhạc Nghị đến, thì thành Tức Mặc sẽ bị phá, Nghị hoãn thành là để chờ cơ hội lên làm vua.

Yên Huệ vương đã sẵn nghi Nhạc Nghị nay nghe lời đồn đãi hợp với lời nói của Kỵ Kiếp nên sai Kỵ Kiếp thay Nhạc Nghị và rút Nghị về nước. Nghị sợ bị giết, nghĩ mình vốn người nước Triệu nên bỏ trốn về Triệu.

Kỵ Kiếp được thay quyền làm tướng, vừa đến lũy được ba ngày liền đem quân đánh Tức Mặc, bao vây thành mấy vòng, tưởng con kiến con ong cũng khó chui ra.

Trong thành phòng giữ rất vững. Tuy vậy quân sĩ cũng lấy làm lo.

Một buổi sáng, Điền Đan sớm dậy nói với người trong thành:

- Đêm hôm ta nằm mộng thấy Thượng đế bảo ta rằng Tề sẽ thắng, Yên phải thua. Ngày nào đây sẽ có thần nhân làm quân sư cho ta, đánh trận nào thắng trận nấy.

Giữa lúc ấy có một tên lính đứng thập thò bên cột trông vẻ ngớ ngẩn, Điền Đan liền bước đến chụp lấy tay nó, nói với mọi người:

- Đây rồi. Vị thần nhân mà ta thấy đêm hôm chính là người này.

Đoạn, Đan kính cẩn mời nó vào trướng. Tên lính ngẩn ngơ, không biết ất giáp gì, sợ tái mặt lập cập thưa:

- Tôi thực không có tài gì, xin tướng quân tha cho.

Điền Đan nghiêm nghị bảo:

- Mày bôi mặt đỏ, mặc áo đỏ, đội mũ đỏ, mang hia đỏ, ngồi trên cái ghế cao kia để tao lạy mày nghe chưa?

- Không dám.

Điền Đan trợn mắt, quát:

- Không dám thì tao đập đầu mày vỡ như cám. Mày phải vâng lời, nghe chưa?

Tên quân hoảng sợ:

- Dạ, xin nghe.

Đan lại bảo:

- Mày tự xưng là "Tướng nhà Trời" do Ngọc Hoàng Thượng đế sai xuống để cứu nước Tề đây, nghe chưa?

- Dạ!

- Rồi mày ngồi yên lặng trên ghế cao đó, để cho tao lạy mày và các tướng sĩ lạy mày. Mày nghe chưa?

- Dạ!

- Rồi mày nói to lên: "Các tướng sĩ hãy lui ra hết, một mình tướng quân ở lại đây nghe ta truyền mật lịnh để cứu nước Tề". Mày nghe chưa?

- Dạ!

- Xong rồi, mày làm thinh, đừng nói gì nữa hết, nghe chưa?

- Dạ!

- Nếu mày không làm đúng như lời tao dặn, tao sẽ chém đầu mày cho mày chết không kịp ngáp. Nghe chưa?

- Dạ!

Tên lính ngờ nghệch ấy răm rắp tuân lịnh, bôi mặt đỏ, mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ rồi trèo lên chiếc ghế cao ngồi chóc ngóc trên đó.

Tướng Điền Đan liền truyền lịnh cho tất cả tướng sĩ tụ họp vào trong dinh để nghe lịnh của "Tướng nhà Trời". Hàng ngàn tướng sĩ đến nơi thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ dị: chủ tướng Điền Đan mình đang mặc cẩm bào đương sụp lạy một hình người mặt đỏ, áo đỏ, mũi đỏ, hia đỏ, ngồi chót vót trên ghế cao. Bỗng hình người phán:

- Ta là tướng nhà Trời do Ngọc Hoàng Thượng đế sai xuống để cứu nước Tề đây, nghe chưa?

Điền Đan cúi đầu cung kính đáp:

- Dạ!

Đoạn sụp xuống lạy "Tướng nhà Trời".

Toàn thể tướng sĩ lúc bấy giờ không ai bảo ai, cũng răm rắp một loạt lên tiếng:

- Dạ!

Rồi sụp xuống lạy.

"Tướng nhà Trời" lại bảo:

- Các tướng sĩ hãy lui ra hết, một mình tướng quân ở lại đây nghe ta truyền mật lịnh để cứu nước Tề. Nghe chưa?

- Dạ!

Nghe "Tướng nhà Trời" truyền dạy như thế nên tất cả mọi người lạy 3 lạy rồi lui ra, chỉ để Điền Đan ở lại lãnh mật lịnh. Bấy giờ ai cũng sợ sệt nhưng rất mừng vì tin tưởng có Tướng nhà Trời làm quân sư thì nước Tề sẽ thắng trận và được hưng vượng. Tin "Tướng nhà Trời" được loan truyền ra tận ngoài thành đến dinh Yên. Nhưng quân Yên chưa tin.

Điền Đan truyền lịnh của Tướng nhà Trời cho dân chúng trong thành: ngày 2 buổi, trước bữa ăn phải đem hoa quả thực phẩm bày ra sân để tế tổ tiên. Như thế sẽ được tổ tiên phò hộ cho. Dân chúng đều triệt để tuân theo. Những chim chóc bay ngang thấy có đồ tế liền sà cách xuống đớp mỗi ngày hai buổi. Chúng lượn đi lượn lại rợp trời rợp đất. Được mồi ngon, chúng lại kêu hót líu lo, cực kỳ vui thích.

Quân Yên bao vây bên thành trông thấy lấy làm lạ lùng quái dị, chuyến này tin chắc là có hẳn tướng nhà Trời. Chúng hoang mang vô cùng. Đã có Trời giúp thì làm sao địch nổi. Nếu địch lại thì trái mạng Trời. Nếu trái mạng trời thì phải toi mạng.

Quân Yên bấy giờ cực kỳ hoang mang, tinh thần bắt đầu giao động.

Điền Đan lại cho thám tử lẻn qua trại Yên đồn đãi rằng: "Nhạc Nghị trước kia hiền quá, bắt được người Tề không giết, nên người trong thành không sợ. Nếu thẻo mũi đi thì người Tề trong thành Tức Mặc kinh khủng mà đầu hàng". Kỵ Kiếp nghe thế liền truyền đem những quân lính Tề bị bắt trước kia, cả đến những quân lính hàng đều thẻo mũi cả.

Người trong thành nghe thế vừa sợ vừa tức, bảo nhau nhứt quyết giữ thành. Nếu lôi thôi, chẳng may thành hạ thì họ bị bắt, dù có đầu hàng cũng bị địch bắt thẻo mũi.

Điền Đan lại cho người đồn đãi qua trại Yên. Dân chúng ở trong thành nhưng mồ mả tổ tiên của họ đều xây đắp ở ngoài thành. Nếu quân sĩ nước Yên đào những mồ mả ấy thì người nước Tề vì sợ cái nạn quật mồ tổ tiên mà đầu hàng hết. Kỵ Kiếp liền sai quân lính đào hết mồ mả ở ngoài thành, đốt thây người chết, quăng bỏ hài cốt.

Dân chúng trong thành nhìn thấy đều khóc nức nở, căm thù quân Yên cực độ, quyết một phen rửa hận và nguyện uống máu ăn gan của quân bạo tàn man rợ. Họ cùng kéo nhau đến quân môn, yên cầu Điền Đan cho họ ra đánh một trận để báo thù cho tổ tông. Thấy lòng căm phẫn của dân đã đến cực độ, Điền Đan mừng thầm cho là quân lính đã đến lúc dùng được. Nhưng Đan chưa cho đánh vội.

Đan sai sứ đưa lễ sang quân Yên bảo rằng lương thực trong thành đã hết, và định ngày đầu hàng. Kỵ Kiếp tự đắc hỏi các tướng sĩ:

- Ta sánh với Nhạc Nghị thế nào?

Các tướng đều nói:

- Thật tài hơn Nghị vạn bội.

Rồi chúng lại nhảy nhót, vui mừng, tung hô vạn tuế.

Điền Đan thu trong dân chúng được hơn ngàn vàng, sai những nhà giàu đem biếu riêng các tướng Yên, yêu cầu trong ngày hạ thành, họ bảo toàn gia quyến cho. Các tướng Yên cả mừng, nhận vàng rồi giao cho mỗi nhà một lá cờ nhỏ, cắm ở trước cửa để làm dấu hiệu. Chúng rất tin chắc, không phòng bị, chờ ngày Điền Đan khai thành đầu hàng.

Điền Đan liền chuẩn bị tổng phản công.

Đan sung công tất cả trâu của dân chúng. Trâu đực, trâu cái, trâu mẹ, trâu con, trâu già, trâu nghé ... có hơn ngàn con đều được tập trung ở một khu đất trống trong thành. Đan lại tuyên bố đây là mưu kế củaTướng nhà Trời bày ra cho ông để tiêu diệt quân Yên mà đem thắng lợi cho nước Tề.

Tất cả một ngàn con trâu đều mang một lớp áo đỏ vào thân, vẽ thêm màu sắc lòe loẹt. Gươm, giáo, mác cột chặt vào sừng trâu đưa mũi nhọn sắc ra trước. Mỗi đuôi trâu lại buộc một nùi cỏ khô tẩm dầu chai.

Người ta không hiểu để làm gì.

Hoàng hôn xuống. Điền Đan liền cho giết một con trâu làm tiệc. Đoạn cho năm trăm quân cường tráng ăn uống no say, vẽ 5 màu sắc vào mặt, mặc y phục đỏ, cầm k hí giới và chạy theo sau trâu.

Trời đã khuya. Giờ khởi binh đã điểm. Tức thì cửa thành mở hoác, lùa trâu ra. Đồng thời đốt bó cỏ buộc ở đuôi trâu. Lửa cháy, trâu bị nóng quá, rống lên đâm đầu chạy xông qua dinh Yên. Năm trăm tráng quân cắm cổ chạy theo.

Quân Yên cứ tin chắc là hôm sau, quân Tề đầu hàng, sẽ kéo vào thành nên đang đêm chỏng cẳng ngủ thẳng. Thốt nhiên có tiếng ầm ầm như đất lở trời đổ, chúng giựt mình tỉnh dậy, trông ra thấy có hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực như ban ngày. Những con vật kỳ quái xồng xộc băng băng chạy đến, lại rống lên những tiếng rùng rợn. Theo sau đó, một đoàn người dị thường hung hăng xông theo. Quân Yên hồn bay phách tán tưởng như một đoàn mãnh thú quái dị và lũ quỷ sứ mặt ngũ sắc của tướng Trời chỉ huy.

Hàng ngũ quân Yên rối loạn. Chạy đâu cũng không thoát. Những cặp sừng húc vào đâu thì người bị thương toi mạng, ruột gan lòng thòng, máu chảy dẫy đầy. Năm trăm tráng quân chẳng nói chẳng rằng, tay cầm dao lớn búa to cứ gặp người là chém, là bửa. Năm trăm người mà khí thế bằng mấy vạn quân.

Khủng khiếp quá, quân Yên mặt mày không còn một hột máu, tiểu đại xổ ra một lần. Nhưng nào thoát mạng được.
Điền Đan lại thân xuất người trong thành reo hò chạy đổ đến. Những kẻ già yếu và phụ nữ đều cầm dùi đánh vào những đồ đồng, đồ thiếc, tiếng vang dội khắp trời đất. Quân Yên càng khiếp đảm, chạy tán loạn, đạp nhau chết vô số. Thây nằm ngổn ngang như rạ, máu đổ lan mặt đất như nước sông.

Tướng Kỵ Kiếp ôm đầu lủi chạy, bị Điền Đan đâm một giáo chết không kịp la.

Quân Yên đại bại.

Thừa thắng, Điền Đan cử một cuộc tấn công, đánh thẳng đến sông Hoàng Hà, phía bắc nước Tề, khôi phục hơn 70 thành. Các thành ấy nghe quân Tề đắc thắng đều phản Yên mà trở lại với Tề.

Thật là một trận giặc trâu kinh khủng trong lịch sử thế giới.

Trong bài "Con trâu" của Học Lạc (Nguyễn Văn Lạc) có câu:

Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy,
Làm lễ bôi chuông dớn dác sầu.


Cụ Huỳnh Mẫn Đạt , trong bài "Trâu già" cũng có câu:

Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hỏa,
Tai điếc buồn nghe Ninh Thích ca.


"Đốt đít" và "Điền Đan hỏa" là do điển tích trên.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu


Tổng số bài gửi : 1056
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:35 am

Tam bành, lục tặc


Đạo gia (tức Đạo giáo, theo học thuyết của Lão Tử) cho rằng cái Thần (tinh thần) của con người ở vào ba nơi. Một ở óc, hai ở minh đường (quả tim), ba ở dạ dày. Theo sách "Chư chân huyền ảo" thì cái Thần ấy có thể làm hại người. Ba nơi chư Thần ấy, Đạo giáo gọi là Tam thi.

Theo sách "Thái thượng tam thi trung kính" thì: thượng thi tên Bành Cứ vốn ở đầu con người; trung thi tên Bành Chất vốn ở bụng người; hạ thi tên Bành Kiêu ở chân người. Ba thần này gọi là thần Tam Bành hay xúi giục người làm bậy. Đến ngày Canh Thân, ba vị thần này lén tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho người mau chết để khỏi phải theo dõi nữa. Người ta tin rằng những sự giận dữ, nóng nảy là do thần Tam Bành xúi giục gây ra để cho người dễ làm bậy. Vì giận dữ, nóng nảy dễ làm cho người làm những điều sai lầm. Nhiều việc không thành, đổ vỡ vì giận giỗi, nóng nảy.

Cũng như tục ngữ ta có câu: "No mất ngon, giận mất khôn".

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn Tú Bà nghe Kiều đã lấy Mã Giám Sinh (chồng bình phong của mụ), mụ ghen tức, có câu:

Mụ nghe nàng nói hay tình
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên.


Nghĩa là mụ nghe Kiều nói rõ sự tình (tình hình, tình trạng về việc nàng đã thất thân với Mã Giám Sinh, coi Giám Sinh là chồng rồi) tức thì mụ mới nổi giận lên đùng đùng.

"Lục tặc" là sáu thứ hại.

Theo Phật giáo thì sáu thứ hại cho sự tu hành là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc đẹp, tiếng thanh tao, mùi thơm, vị ngọt, ấm áp, êm ái dễ làm lòng người giao động xao xuyến. Chúng như có một ma lực huyền bí để quyế rũ, hấp dẫn lôi cuốn người vào bến mê, đọa lạc. Bởi vậy, người tu hành mắt không xem sắc đẹp, tai không nghe tiếng thanh, mũi không ngửi mùi thơm, miệng không nếm vị ngọt, thân thể xa kẻ khác, lòng không tưởng điều tà vậy.

Con người, một khi để Tam Bành, Lục Tặc dậy lên thì tất nguy khốn cho thân mạng, cho cuộc đời. Người nào giết được Tam Bành, Lục Tặc tức là một vị chân tu vậy.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu


Tổng số bài gửi : 1056
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:37 am

Suối vàng hay chín suối


Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Thúy Kiều cùng hai em đi dự hội đạp thanh và lễ thanh minh thấy mộ của Đạm Tiên vắng lạnh hoang tàn, Kiều động lòng thương xót hỏi thăm. Được Vương Quan kể lại cuộc đời bi thảm của nàng ca nhi nằm dưới mộ, Kiều ngậm ngùi khóc, có câu:

Đã không kẻ đoái, người hoài,
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.


"Suối vàng" do chữ "Huỳnh tuyền" tức là suối nước màu vàng. Người Tàu ngày xưa tin rằng ở dưới âm phủ có chín cái suối nước vàng, nên có chữ "Cửu tuyền" tức là "Chín suối". Huỳnh tuyền hay Cửu tuyền, Suối vàng hay Chín suối đều chỉ chỗ ở của người chết.

Đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), chúa nước Trịnh là Trịnh Trang công tên Ngộ Sinh rất có hiếu với mẹ. Vì mẹ bất chính nên Trang công có lời thề rằng: "Chẳng phải chốn suối vàng thì chẳng nhìn nhau" (Bất cập huỳnh tuyền vô tương kiến dã).

Nguyên vợ của Trịnh Vũ công là Khương thị sinh được hai con. Con trưởng là Ngộ Sinh, con thứ tên là Đoạn. Cái tên Ngộ Sinh là do sự đẻ thình lình làm cho Khương thị chịu nhiều đau đớn. Vì đó mà Khương thị đâm ra ghét Ngộ Sinh, thương Đoạn. Lại Đoạn người khôi ngô, thông minh, mặt trắng như dồi phấn, môi đỏ như son, sức khỏe lạ thường, thêm tài kỵ xạ. Khương thị rất mực thương yêu, muốn sau này được nối ngôi nên thường khoe Đoạn là người hiền trước mặt chồng và tỏ ý muốn Đoạn được nối ngôi thế tử. Trịnh Vũ công bảo:

- Anh em có thứ bực, không nên xáo trộn đạo lý. Hơn nữa Ngộ Sinh không có tội lỗi gì, sao lại bỏ trưởng mà lập thứ được.

Trịnh Vũ công lập Ngộ Sinh làm thế tử. Còn Đoạn thì đem đất Cung phong cho. Khương thị càng bất bình.

Vũ công mất, Ngộ Sinh lên kế vị tức là Trịnh Trang công. Khương thị rất buồn bả, bảo Trịnh Trang công:

- Con nối ngôi cha làm chủ nước Trịnh, đất rộng ngoài mấy trăm dặm mà chỉ để cho người em ruột thịt một chỗ đất nhỏ bé không đủ dung thân, sao yên lòng được?

- Vậy xin mẫu thân dạy cho biết ý muốn?

- Sao con không lấy đất Chế Ấp mà phong cho em con.

- Chế Ấp là một nơi hiểm yếu, tiên vương ngày xưa có di mạng cấm phong cho bất cứ ai. Vậy trừ đất ấy, mẫu thân muốn chỗ nào, con sẽ vâng lời.

- Nếu vậy phong cho Đoạn ở Kinh Thành.

Trịnh Trang công im lặng, không nói gì. Khương thị thấy thế nổi giận, nói:

- Nếu con không nhận như vậy thì cứ đuổi Đoạn đi sang nước khác, để nó kiếm cách gì làm ăn được thì nó làm!

Trịnh Trang công thở dài:

- Con đâu lại làm thế được!

Hôm sau, Trang công vời Đoạn vào phong cho đất Kinh Thành.

Đại phu là Sái Túc can rằng:

- Kinh Thành là một ấp lớn, đất rộng, người đông. Nếu đem phong cho Đoạn thì mai hậu người tất cậy thế chuyên quyền.

Trang công nói:

- Mẫu thân ta muốn như vậy thì ta phải làm theo vậy.

Đoạn được phong đất Kinh Thành, vào cáo biệt mẹ. Khương thị đuổi kẻ hầu cận rồi bảo Đoạn:

- Anh mày không nghĩ đến tình ruột thịt, đãi mày lắm điều bạc. Nhờ ta ba lần khẩn khoản, nó mới phong đất Kinh Thành cho mày, ấy là vị nể chưa chắc thành thật. Con về Kinh Thanh nên lo luyện tập binh mã, phòng bị sẵn sàng, nếu có cơ hội thì đem quân lại đánh, ta sẽ nội ứng cho mà chiếm lấy nước Trịnh. Nếu con đoạt được ngôi của Ngộ Sinh thì ta có chết cũng được hả dạ.

Đoạn lãnh lịnh mẹ rồi ra đóng ở đất Kinh Thành.

Từ đấy, Đoạn giả cách đi săn bắn mà luyện tập binh mã, tìm kiếm mưu mô chiếm lấy nước Trịnh. Đoạn lại chiếm luôn cả hai ấp gần đó. Quan ấp tể trốn vào Trịnh kêu cứu. Trịnh Trang công không nói gì chỉ cười lạt mà thôi.

Đại phu Sái Túc và quan thượng khanh là công tử Lữ nằng nằng tâu xin Trang công cho đem quân đi dẹp. Trang công nói:

- Đoạn dẫu vô đạo nhưng chưa rõ tội lỗi. Nếu ta đem quân đánh thì quốc mẫu ắt tìm cách ngăn cản. Người ngoài không biết lại bảo ta bất hữu, bất hiếu. Chi bằng cứ để thế, Đoạn tất làm càn, không hề kiêng nể, lúc ấy ta sẽ kể tội trạng đem quân đi đánh thì người trong nước chẳng ai giúp Đoạn, mà đến mẫu thân ta cũng không trách oán gì được.

Công tử Lữ nói:

- Mặc dù vậy nhưng tôi sợ thế lực Đoạn ngày một to, lan ra như cỏ mọc, cắt không hết được thì mới làm sao? Chúa công nên mưu cách gì cho Đoạn phản nghịch, nổi loạn sớm thì đánh hắn mới chắc được.

Trang công cho là phải. Bấy giờ cả hai mới tính kế nhau.

Sáng hôm sau, Trang công ra lịnh giao việc quốc chính cho Sái Túc để vào triều nhà Chu. Khương thị nghe biết mừng lắm, cho là có dịp cướp được nước, vội vã viết thư sai người tâm phúc đem đến Kinh Thành, hẹn với Đoạn chiếm lấy nước Trịnh. Nhưng công tử Lữ đã cho người đón đường, giết tên đưa thư và đoạt lấy thư. Trang công xem xong niêm lại, rồi sai kẻ tâm phúc giả làm người của Khương thị đem thư sang đưa cho Đoạn và lấy thư trả lời về. Thư của Đoạn hẹn đến ngày mùng 5 tháng 5 thì khởi sự.

Trang công tiếp được thư, mừng nói:

- Tờ cung chiêu của Đoạn sẵn có đây rồi. Mẫu thân hẳn không còn binh vực thế nào được.

Đoạn từ khi tiếp được thư mẹ liền sai con là Hoạt sang nước Vệ mượn binh; rồi phao tin rằng mình về Trịnh phụng mạng coi việc quốc chính và mở cửa thành tiến quân. Công tử Lữ sai quân giả dạng lái buôn vào thành, đợi khi Đoạn cất quân thì đốt lửa làm hiệu cho Lữ biết mà đem quân đến, trong thành sẽ mở cửa đón.

Lữ vào được thành liền kể tội trạng của Đoạn và đem những đức tính của Trang công yết cho nhân dâng biết. Đoạn biết cớ sự không thành, rút quân về Cung Thanh. Trịnh Trang công đem quân tiến đánh. Đoạn tự tử.

Trang công vào thành, ôm thây Đoạn than khóc, lại đem tất cả thư từ của mẹ gởi cho Đoạn và thư của Đoạn gởi cho mẹ gói làm một gói, truyền Sái Túc trao lại cho Khương thị. Trong lúc buồn tức, Trang công truyền an trí mẹ ở Đỉnh Ấp và thề rằng: "Chỉ đến khi xuống suối vàng, mẹ con mới gặp mặt được".

Khương thị trông thấy cả hai bức thu, lấy làm hổ thẹn, tự nghĩ không còn mặt mũi nào nhìn thấy Trang công nữa nên theo lịnh an trí ở Đỉnh Ấp.

Trang công về cung, thấy vắng mẹ, lòng chua xót than thở: "Ta buộc lòng mà để em chết, nay nỡ tình nào lìa mẹ nữa. Ta thật có tội với luân lý." Nhà vua rất lấy làm hối nhưng đã lỡ thề rồi. Quan trấn Đỉnh Ấp là Đĩnh Khảo Thúc biết ý Trang công nên mới bày cách giải lời thề là cho người đào đất đến tận mạch nước, rồi làm một cái nhà dưới hầm bên cạnh suối đem Khương thị xuống ở, đặt thang dài để Trang công xuống gặp mẹ. Trang công sụp lạy mẹ, nói:

- Ngộ Sinh này bất hiếu, lâu nay thiếu sự phụng thờ mẹ, xin mẹ tha tội cho.

Khương thị nói:

- Đó là lỗi của mẹ, con không có tội gì.

Đoạn đỡ Trang công dậy, mẹ con khóc lên não ruột. Trang công liền dắt mẹ lên thang rồi ngồi xe, và tự tay cầm cương đưa mẹ về cung.

Hình thức đào đất tận mạch nước suối để xuống tận nơi gặp mẹ cho đúng lời thề "gặp nhau ở suối vàng".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:40 am

Cơm Phiếu mẫu, trôn Ác Thiểu


Hàn Tín người đất Hoài Âm nước Sở đời Tây Hán, thuở hàn vi thường câu cá ở sông Hoài. Có khi cả ngày tìm không được một bữa cơm. Phiếu mẫu thương thình thường cho cơm ăn. Tín tạ ơn, nói:

- Tôi ngày sau được đắc đạo sẽ xin báo đáp.

Một hôm, Hàn Tín đem cá ra chợ bán, gặp đứa tiểu nhân tên Ác Thiểu đón đường làm nhục, bảo:

- Chà, bán cá mà còn đeo gươm cho oai, nhưng có dám đâm ta không?

Tín ngẩn ngơ. Tên Ác Thiểu lại tiếp:

- Nếu không dám thì hãy chui dưới trôn của ta đây mà qua ...

Tín không do dự, cúi mình chui dưới trôn của nó mà đi. Người ở chợ đều cười ồ lên, cho Tín quá hèn nhát. Có người tên Hứa Phụ vốn xem tướng giỏi, nói với Tín:

- Tướng ngươi sang lắm, hưởng đến tước vương hầu, oai danh thiên hạ.

Hàn Tín phì cười:

- Một ngày chẳng có một bữa cơm no, còn trông giàu sang sao được.

Khi Hạng Lương khởi binh đánh Tần Thủy Hoàng, Hàn Tín đến đầu mong lập công, nhưng Lương khinh Tín, chỉ cho làm chức Chấp kích lang để dùng hầu hạ nơi trướng mà thôi. Sau Hạng Lương chết, cháu là Hạng Võ lên thay cầm quân, vẫn khinh thường Tín, cho Tín là tên "lòn trôn", hèn nhát nên không dùng vào việc lớn.

Trương Lương là quân sư của Hán Lưu Bang, biết Hàn Tín là người có tài kinh bang tế thế nên tìm đến, yêu cầu Tín bỏ Sở sang giúp Hán. Tín bằng lòng.

Hàn Tín được Hán Lưu Bang đăng đàn bái tướng phong chức Nguyên nhung, cầm quân đánh Sở. Đánh được nhiều trận thắng lợi to, cuối cùng hạ được Sở Hạng Võ, gồm thâu thiên hạ, thống nhứt đất nước, giúp Lưu Bang lập nên cơ nghiệp Hán triều, Tín được phong làm Sở vương.

Về quê cũ cai trị, Hàn Tín cho người tìm Phiếu mẫu và Ác Thiểu đến. Cả hai phủ phục, gầm đầu không dám nhìn lên. Hàn Tín sai người lấy ngàn vàng thưởng cho Phiếu mẫu gọi là đền đáp ơn ngày xưa. Phiếu mẫu lạy tạ ra về. Đoạn Tín lại phong cho Ác Thiểu làm chức Trung húy.

Ác Thiểu cực kỳ ngạc nhiên, thờ thẫn một lúc mới nói:

- Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, chẳng biết đại nhân mà xúc phạm uy nghiêm, nay tội ấy được tha chết là may, còn dám mong đâu được ban chức tước.

Hàn Tín ôn hòa bảo:

- Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng cừu hận. Hành động đối xử của nhà ngươi ngày xưa xem qua tuy có vẻ quá đáng nhưng cũng là một bài học luyện chí cho ta. Vậy nhà ngươi đừng tị hiềm, mà hãy nhận lấy chức ta ban.

Ác Thiểu cảm mến lạy tạ ra về. Hàn Tín lại nói với kẻ tả hữu:

- Tráng sĩ đó trước kia làm nhục ta. Lúc ta còn hàn vi, không thế lực gì, nếu ta chống cự, giết nó đi thì chưa chắc ta được như ngày hôm nay. Nhờ ta biết nhẫn nhục nên mới yên thân mà giúp được nước lập nên công danh. Nó giúp ta đấy, nên ta mới phong thưởng chớ không phải là việc vô cớ.

Cổ thi có câu: "Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân".

Mang ơn người, đền đáp ơn âu cũng một lẽ thường. Bị người làm nhục mà cũng đền đáp, cho là công ơn "mạ nhân như giáo nhân", thật là thái độ của một sĩ quân tử.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:47 am

Mấy cành Dương Quan


Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Kiều tiễn Thúc Sinh trở về quê cũ huyện Vô Tích, tỉnh Giang Tô với vợ cả là Hoạn Thư, có câu:

Tiễn đưa một chén quan hà,
Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sông Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu, mấy cành Dương Quan.


"Xuân đình", "Cao đình" chưa từng tìm được nguyên ngữ, nhưng theo Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu thì tạm cho rằng đại khái "Xuân đình" là chỗ hợp vui; "Cao đình" là chỗ chia rẽ. Cổ thi có câu: "Cao đình tương biệt xứ" nghĩa là: "Chỗ ở biệt nhau ở cao đình".

Ông Hồ Đắc Hàm cho rằng: "Núi Cao đình" ở tại tỉnh Chiết Giang, phía đông bắc Hàng Châu, chính là một chỗ người ta thường qua lại nghỉ chân và làm nơi tiễn biệt nhau. Đường phú có câu: "Đình cao hề mộc diệp lạc", nghĩa là "Chốn Cao đình kia lá xanh rụng".

Thời xưa, người ta tiễn nhau thường bẻ cành liễu đưa cho người đi. Dương Quan là một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây. Đường thi có bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" của Vương Duy là một bài thơ tiễn biệt rất đặc sắc. Vua Đường Huyền Tông lấy vào Nhạc phủ phổ thành một bài hát gọi là "Khúc Dương Quan tam điệp" (ba dịp Dương Quan) dùng để hát khi tiễn biệt nhau.

Dưới đây là bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" (Đưa Nguyên Nhị đi sứ An Tây) của thi hào Vương Duy:

Vị thành chiêu vũ ấy khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân!
Khuyến quân khánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.


Nghĩa:

Trời mai mưa ướt Vị Thành,
Xanh xanh trước quán, mấy cành liễu non.
Khuyên người hãy cạn chén son,
Dương Quan tới đó không còn ai quen.


(Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Dương Quan là tên một cửa ải nhưng dùng nghĩa bóng là chỉ nơi tiễn biệt. Trong kinh Thi cũng có câu:

Trường đoạn Dương Quan,
Chiêm vọng phất cập
Trữ lập dĩ khấp.


Nghĩa:

Dương Quan đứt ruột
Khuất bóng người đi,
Dừng chân ứa lệ.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 9:52 am

Đuốc hoa, hoa đèn


Đuốc hoa do chữ "hoa chúc" là đèn cầy, nến đốt trong phòng của vợ chồng đêm tân hôn. Tiếng "chúc" thời cổ là "đuốc" tức bó đóm to. Ngày nay gọi là "Hỏa bả".

Bó đuốc chưa đốt gọi là "tiêu". Đuốc châm lửa cầm tay gọi là "chúc". Đuốc lớn đóng cọc xuống đất mà đốt gọi là "đình liệu". Lệ xưa bên Tàu đời nhà Chu, khi đầu canh năm, vua sắp ra thị triều, thì ở trước điện đình, bày hai hàng hoặc sáp, hoặc đuốc để sáng đường cho bá quan vào triều.

Từ đời Lục triều, Đường, Tống có tục đốt hoa chúc trong lễ kết hôn. Về sau này, để nói việc chính thức kết hôn, người ta thường dùng hai chữ "Hoa chúc".

Hoa chúc đời Lục triều và đời Đường không biết phải là bó đuốc có kết hoa ở ngoài cho đẹp không? Riêng về đời Tống thì "Hoa chúc" vừa là đuốc hoa, lại vừa là nến sáp hoa. Sách "Mộng lương lục" đời Tống có chép: "Cô dâu xuống xe, mấy con hát cầm đuốc làm bằng cuống hoa sen đi trước đưa đường". Sách "Qui điền lục" của Âu Dương Tu đời Tống có chép rằng: Ở Đằng Châu có thứ hoa lạp chúc (thứ nến làm bằng sáp hoa) nổi tiếng nhứt, ở Kinh đô cũng không chế nổi.

Điều chắc chắn là từ thời cận kim, người Trung Hoa đều hiểu "chúc" là nến, chớ không hiểu là đuốc như thời cổ.

Và, từ nghĩa đuốc hoa, hoa chúc dần dần biến nghĩa thành nến hoa, đèn hoa.

Ta có câu:

Động phòng hoa chúc dạ,
Kim bảng quải danh thì.


"Động phòng hoa chúc" là những chữ thường được dùng để chỉ đêm động phòng đầu tiên của cô dâu chú rể. Trong phòng kín có đèn nến đốt trong đêm tân hôn. Dũ Tín, một thi hào đời Nam Bắc triều cũng có câu: "Động phòng hoa chúc minh", nghĩa là: "Phòng kín đuốc hoa sáng".
Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả hành động cục xúc lỗ mãng, ghẻ lạnh của tên Mã Giám Sinh đối với Kiều, sau cuộc truy hoan, có câu:

Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã mở đường đi lối về!
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ.


Mặc dù họ Mã không dám nhận Kiều là vợ vì sợ Tú Bà, nhưng Kiều là gái mới lớn lên, đêm này là đêm đầu tiên, để thay đổi con người của nàng sang một giai đoạn khác, mà nàng coi đó là đêm bắt đầu làm công việc vợ chồng với người đã bỏ tiền ra mua nàng. Có lẽ do đó mới có tiếng "đuốc hoa".
Cũng như khi Kiều được đoàn tụ gia đình sau 15 năm lưu lạc, Kim Trọng xin Kiều cùng chàng xe tơ kết tóc, Kiều từ chối bằng những câu:

Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!


Vì:

Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.
Bấy chầy gió táp mưa sa,
Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!
Còn chi là cái hồng nhan,
Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào?


Cho nên nàng:

Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
Đã hay chàng nặng vì tình,
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?
Từ nay khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là!


"Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa", và "Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?", ý Kiều đã cho rằng dù Kim Trọng còn nặng lòng yêu nàng, nhưng nếu nàng bằng lòng lấy chàng, thì rồi đây đêm động phòng, nhìn đuốc hoa hay hoa đèn (đèn hoa) kia chẳng là hổ thẹn lắm. Vì nàng đã cùng ai ở dưới hoa đèn...; cũng như hoa đèn đã chứng kiến... thì khi nàng nhìn hoa đèn (đuốc hoa) làm sao lại khỏi thẹn với lòng mình!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:01 am

Ma Rồng gặp Trâu Bồ Tát


Đời nhà Đường (618-907), triều Lý Thái Tông (Lý Thế Dân), niên hiệu Trinh Quán năm thứ 13, gần thành Trường An có con sông Kinh, nước trong vắt. Bên sông có nhà ông chài tên Trương Lão, cạnh rừng có nhà ông tiều tên Lý Định. Cả hai vốn bạn thân và đều học giỏi, nhưng không thích chuộng công danh mà chỉ lấy nghiệp ngư tiều làm thú.

Một hôm, cả hai ra chợ người bán củi, kẻ bán cá tôm vào quán đối ẩm. Xong, cùng dắt nhau về. Dọc đường, Trương nói với Lý:

- Này anh Lý! Tôi nghĩ kẻ giành danh vì danh bỏ mạng, người cướp lợi bởi lợi liều mình. Mang ơn vua như bọc rắn mà đi, ăn lộc chúa như ôm hùm mà ngủ. Kể ra thì họ đều thua chúng ta cả. Non xanh nước biếc, thong thả thảnh thơi, lạt lẽo qua ngày tuy không vinh mà khỏi nhục.

Lý Định cười, tán thành nói:

- Anh Trương phân phải lắm. Tuy vậy nước biếc còn thua núi xanh đây.

Trương Lão mỉm cười đáp lại:

- Nhưng tôi lại xem non xanh chưa bằng nước biếc đấy!

Cả hai nhìn nhau cất tiếng cười. Rượu bấy giờ thấm say, hồn thơ bắt đầu nhóm dậy, Lý Định vui vẻ bảo Trương Lão:

- Chúng mình cũng đã theo đòi nghiên bút, hôm nay lại đồng cảm hứng về cuộc sống của con người, vậy thiết nghĩ, mình cũng nên làm thơ liên vịnh thử nào?

Trương Lão gật gù:

- Được. Vậy là hay lắm.

Hai người vừa đi vừa ngâm. Đến ngã tẻ, cả hai bái nhau từ giã. Trương Lão khôi hài, nói:

- Anh Lý ơi! Đi lên rừng phải coi chừng hùm cọp cho lắm. Nếu anh có mạng hệ nào, thì ắt là tôi: ngày mai đầu chợ thiếu bằng hữu đó anh.

Lý Định nghe nói phát giận nhưng bật cười nói:

- Chú thật độc ác. Bằng hữu tốt, người ta còn chết thế cho nhau, sao chú lại nỡ rủa tôi như vậy? Tôi nói cho mà giữ hồn; nếu hùm dữ ăn tôi thì sóng thần nhận chú.

- Sóng thần nào nhận tôi được?

- Biết chừng đâu. Trời khi nắng khi mưa, người khi phúc khi họa. Sao chú chắc là không chìm xuống đáy sông?

- Anh nói vậy chớ không chắc gì. Thật ra nghề làm ăn của tôi vững lắm.

Lý Định xì một tiếng, nói:

- Chú làm ăn chân trời mặt nước, hiểm nghèo quá đỗi, mạng có ba phân, sao chú gọi là vững?

Trương Lão nghiêm nghị đáp:

- Anh không hiểu. Tôi xin nói anh nghe. Nguyên phía tây chợ Trường An có một ông thày bói linh lắm. Mỗi ngày đem cho ông một con cá chài vàng thì coi một quẻ. Ông sẽ chỉ hướng nào cá nhiều, vãi trăm chài không sai một. Bữa nay tôi đi coi quẻ. Ông bảo tôi bủa lưới phía đông trên ngọn sông Kinh, rồi qua phía tây vãi chài thì trúng. Quả như lời nói, chở tôm cá khẳm ghe.

Tục có câu: "Nhà có mạch, vách có tai", câu chuyện giữa hai người bỗng có kẻ nghe được. Nguyên có quỷ Dạ Xoa ở sông Kinh đi tuần dưới nước, nghe ông chài nói "Vãi trăm chài không sai một" thì hoảng kinh hối hả trở về thủy cung báo với vua Rồng về lời của lão chài nói. Đoạn hắn lại kết luận:

- Vãi trăm chài không sai một, nếu mãi như vậy thì dưới thủy cung này hết binh tướng, lấy ai mà giúp việc vua.

Vua Rồng nghe nói nổi giận, xách gươm toan đi, quyết đến Trường An hạ sát thày bói giỏi. Nhưng Rồng con, Rồng cháu, tướng Chạch, quan Cua, quân sư Cháy, thừa tướng Chài ... đồng ra quỳ tâu:

- Xin chúa công bớt giận, lời huyễn chớ khá nghe. Nếu chúa công xuống chợ, nổi dông tố mây mưa, sợ dân Trường An khốn hại. Trời sẽ bắt tội chẳng dung. Vậy nên giả tú tài, đến chợ Trường An xem thử. Nếu thực như lời thì giết, dối thì thôi.

Vua Rồng nhận lời, lên bờ giả làm tú tài áo trắng, thẳng đến chợ Trường An thấy thiên hạ đương bao vây ông thày xin xem quẻ. Ông thày bói tên Viên Thủ Thành, người cốt cách thanh kỳ. Tú tài áo trắng chen vào. Thày bói đãi trà xong, hỏi bói chuyện gì? Tú tài áo trắng bảo:

- Xin bói chừng nào mưa?

Thày bói gieo quẻ đoán:

Mây che đỉnh núi,
Mù tỏa non đoài,
Hỏi thăm mưa rưới,
Ắt tại ngày mai.


Tú tài áo trắng lại hỏi tiếp:

- Mai mưa giờ nào? Nước dâng lên bao nhiêu?

Thày bói đáp:

- Giờ thìn kéo mây, giờ tỵ nổi sấm, giờ ngọ mưa, cuối giờ mùi tạnh. Nước dâng 3 thước 3 tấc, có lẽ 48 giọt tức 4 phân 8 ly.

Tú tài áo trắng cười, bảo:

- Lời này không phải nói chơi, nếu ngày mai y như lời đoán thì ta thưởng 50 lượng bạc. Bằng không mưa hay mưa sai giờ, thiếu nước thì ta sẽ phá nhà thày, đuổi khỏi chợ Trường An, không cho ở đây gạt chúng nữa.

Thày bói họ Viên vui vẻ:

- Được. Được. Tôi rất đồng ý, xin cuộc với ông.

Tú tài áo trắng từ tạ ra về.

Tại thủy cung, vua Rồng đương thuật chuyện lại cho quần thần nghe. Ai cũng vui cười hỉ hả, cho rằng thế nào tên thày bói cũng bại cuộc. Vì mưa nhiều ít là do ở nhiệm vụ của vua Rồng. Bỗng có tiếng gọi:

- Long vương mau ra tiếp chiếu trời.

Vua Rồng cùng quần thần giựt nảy mình, vội chạy ra quỳ tiếp chiếu chỉ, đoạn mở ra xem:

Rồng tám sông vâng lịnh,
Y theo giờ khắc ban.
Ngày mai không được trễ
Mưa tại thành Trường An.
Giờ thìn kéo mây,
Giờ tỵ nổi sấm,
Giờ ngọ mưa,
Cuối giờ mùi tạnh.
Nước dâng 3 thước 3 tấc,
Có lẽ 48 giọt tức 4 phân 8 ly.


Vua Rồng hoảng hốt nói với quần thần:

- Trên đời sao có người tài thông trời thấu đất? Thế này chắc ta phải chịu thua.

Quân sư Cháy tâu rằng:

- Xin chúa công đừng lo. Muốn thắng nó cũng không khó. Tôi dùng một kế, nó sẽ cứng họng đi.

Vua Rồng dồn dập hỏi kế chi? Quân sư Cháy tâu:

- Chúa công là vị thần coi 8 sông này, mưa đúng hay sai là ý của chúa công. Vậy ta mưa không đúng giờ và bớt nước lại, không đứng lời đoán tất nó thua ngay.

Vua Rồng cho là thượng sách. Hôm sau tập trung Thiên Lôi, Điển Mẩu, Vân Đồng... kéo đến Trường An, ra lịnh giờ tỵ kéo mây, giờ ngọ nổi sấm, giờ mùi mưa, giờ thân tạnh, nước lên 3 thức 4 phân...
Vua Rồng lại giả làm tú tài áo trắng như trước, đến nhà thày bói họ Viên. Chẳng nói chẳng rằng, hắn một mạch đập phá đồ đạc, xé tấm bảng treo. Thày bói họ Viên vẫn ngồi trên sập, nghiễm nhiên như không có việc gì xảy ra.

Càng trêu tức, tú tài áo trắng phát cáu, đùng đùng nổi giận, tay xách tấm ván cửa dóa vào mặt thày bói họ Viên, quát:

- Mày là đồ mị gạt chúng ăn tiền, coi quẻ không linh đặt điều nói bậy. Đoán sai giờ sai nước, vậy mà còn ngồi làm tỉnh. Cút đi mau, kẻo ta đập chết.

Thày bói họ Viên cười ha hả:

- Không sợ. Không sợ. Tôi không phạm tội chết, e cho ai chết kìa. Ông gạt ai chớ gạt tôi sao được. Ông không phải là tú tài áo trắng mà là Rồng Bạch sông Kinh. Ông dám cải lịnh trời tráo giờ bớt nước, phạm tội chết chém lại còn dám hành hung với tôi sao?

Vua Rồng nghe nói rởn tóc gáy, vỡ mật tan hồn, buông tấm ván cửa, xốc áo quỳ lạy xin cứu mạng. Thày bói họ Viên nói:

- Tôi cứu ông không được, nhưng chỉ chỗ cho ông cầu khẩn họa may. Giờ ngọ mai, ông sẽ bị Ngụy Trưng xử trảm, mà Ngụy Trưng đương là tướng của hoàng đế bây giờ. Ông cầu hoàng đế nói giúp, may ra cứu được.

Vua Rồng lau nước mắt từ tạ ra đi.

Bấy giờ trời đổ tối, trăng thượng tuần lố mọc, vua Rồng không về phủ, lững thững nửa lừng, chờ đến canh ba, hiện vào cung cấm. Thấy vía vua Thái Tông đi dạo, vua Rồng đến phủ phục, thuật lại sự tình rồi cầu xin cứu mạng. Nhà vua thương tình chấp thuận lời yêu cầu.

Sáng lại, nhà vua mời Ngụy Trưng vào cung đánh cờ, cố ý trì hoãn cho mãn ngày để Ngụy Trưng không rảnh mà giết vua Rồng có tội. Nhưng giữa lúc Ngụy Trưng và nhà vua say sưa trước bàn cờ, thì Ngụy Trưng bỗng gục đầu xuống bàn ngáy pho pho. Thái Tông cho thừa tướng mệt mỏi nên vẫn để yên...

Giữa lúc ấy, bỗng có người xách đầu Rồng Bạch, máu chảy đầm đề, vào quỳ tại sân chầu, báo cho nhà vua biết là đầu Rồng từ trên trời sa xuống tại ngã tư, thật là điềm lạ. Ngụy Trưng lúc ấy cũng vừa tỉnh dậy, nhà vua đem chuyện đầu Rồng thình lình rớt xuống rồi hỏi duyên cớ. Ngụy Trưng tâu rõ sự tình. Nguyên đêm hôm rồi, Ngụy Trưng tiếp được chiếu của Ngọc Hoàng ra lịnh giờ ngọ ngày mai phải chém Rồng Bạch phạm tội tại sông Kinh. Vì thiên cơ bất khả lậu, nên trong lúc hầu cờ phải giả ngủ để xuất hồn đi chém...

Vua Thái Tông đã chót hứa mà không cứu được vua Rồng nên lấy làm không vui.

Vua Rồng bị xử tử, lấy làm tức giận, cho Lý Thái Tông sai lời hứa, nên tay vịn đầu máu me lênh láng, rồi đêm đến, đột nhập vào cung, kêu Thái Tông đòi thường mạng. Đồng thời xuống Diêm vương đầu cáo.

Truyện trên đây thuật theo quyển "Tây du ký" của Ngô Thừa Ân. Theo "Tây du ký" của họ Ngô thì ma Rồng xuống âm phủ kiện vua Lý Thái Tông, Diêm vương phải mời hồn Thái Tông xuống để đối chất. Chuyện còn dài ... Người đọc truyện "Tây du diễn nghĩa" đều biết.

Nhưng tiếp theo câu chuyện trên, có người viết khác

"Bấy giờ trăng thượng tuần vàng vọt chiếu trên dải đồng xanh, ma Rồng nương theo gió lơ lửng trên không, thẳng đường tiến xuống địa phủ. Nhưng thình lình hắn dừng lại, lấy làm ngạc nhiên vì nhìn thấy một con trâu đương cặm cụi kéo chiếc cày to, theo sau là một thằng bé đương đẩy cày. Trâu có ừ mệt nhọc, vậy mà còn bị thằng bé dùng roi tre to đập vào mông, vào đít đôm đốp. Cho là kỳ lạ, ma Rồng bước đến.

Thằng bé nông dân trông thấy một vật hình thù kỳ quái, người chẳng ra người, vật chẳng ra vật, lù lù tiến đến gần thì đâm hoảng, ba hồn bảy vía tan mất, rồi ba chân bốn cẳng ù té chạy.

Ma Rồng đến gần trâu, bảo:

- Này Ngưu thần! Nhà ngươi to lớn, có một sức mạnh hơn người lại có cả một cặp võ khí dài nhọn hoắc lợi hại, vậy mà để cho một thằng bé đánh đập tàn nhẫn trong khi phải làm việc vất vả cho nó như thế? Có phải nhà ngươi quá dại dột lắm ư?

Trâu mỉm cười, bảo:

- Tại sao đại huynh lại bảo tiểu đệ dại dột? Đại huynh không biết tiểu đệ đã phạm tội ở thiên tào nên nay phải đền tội hay sao?

Nghe Trâu nhắc, Rồng mới nhớ lại Trâu vớn là vị Bồ Tát ở thiên đình, vâng lịnh Ngọc Đế đem một nắm lúa và một nắm cỏ rải xuống trần gian. Vì thực hành sai lời dặn, không rải lúa trước mà lại rải cỏ trước, làm cho thế gian mọc cỏ dẫy đầy, không còn đất trống để rải lúa nữa. Ngọc Đế bắt tội lơ đễnh nên đày xuống trần gian làm kiếp trâu cày đất tạo lúa cho người, và chừng nào ăn hết cỏ kia thì mới được hóa kiếp... Ma Rồng nghĩ đến đó, thở dài, lẩm bẩm:

- Mình cũng bị tội chắc cũng phải đền tội!

Nhìn thấy vua Rồng tay xách đầu, máu nhỏ giọt lênh láng, Trâu hỏi:

- Vừa rồi, tiểu đệ được nghe đầu Rồng rớt tại thành Trường An vì bị thừa tướng Ngụy Trưng ngủ thiếp chém Rồng. Vậy có phải là đại huynh đây không?

Ma Rồng ngậm ngùi, đáp:

- Chính thế.

Đoạn thuật cả lại sự việc xảy ra cho Trâu nghe rồi tiếp:

- Thật cả giận cho vua Đường, đã hứa lại sai lời. Giờ đây ta quyết xuống âm phủ đầu cáo hắn, vì hắn mà ta chết.

Trâu mỉm cười, ôn tồn nói:

- Lúc nãy, đại huynh nóng nảy nên cho tiểu đệ là ngu muội, nhưng xét ra đại huynh lại ngu muội hơn. Tại sao đại huynh dám cải lịnh Trời? Trời đã sinh ra nhân loại tất phải chăm lo phụng sự nhân loại. Trời đã phân 4 mùa 8 tiết để cho nhân loại sống hạnh phúc, cây cỏ hoa màu tốt tươi. Dân mong ước như thế tất Trời phải làm như thế. Ý Dân là ý Trời. Đại huynh mưa sai giờ bớt nước, không đủ cung cấp vật cần thiết cho muôn dân tất là trái ý Dân, trái ý Trời. "Thiên thính tự ngã dân thính; thiên thị tự ngã dân thị", vậy Trời không vì Dân mà bắt tội đại huynh sao được?

Trâu nói đến đây ngừng lại, nhai ngổm ngoảm vài lụm cỏ bên bờ ruộng, vẻ bình thản, vô tư. Ma Rồng im lặng, trầm ngâm tư lự. Một lúc, Trâu đĩnh đạc nói tiếp:

- Xưa kia ở dưới trần, các đấng thánh vương đời Tam đại: vua Võ, vua Thang, vua Văn là người làm thuận ý Trời mà được hưởng. Cũng ở đời này: vua Kiệt, vua Trụ, vua U, vua Lệ là người làm trái ý Trời mà bị phạt. Hậu Nghệ, vua nước Hữu Cùng ngày xưa, bắn 9 mặt trời để cứu muôn dân thoát khỏi cảnh hỏa ngục, vậy mà sau làm trái ý dân đến nỗi phải chết một cách thảm thiết để đền tội ác. Đại huynh từng xem sách sử, không noi gương xưa để sửa mình, nay còn đòi thường mạng. Xuống Diêm vương đầu cáo, e mắc phải tội nặng hơn nữa. Vua Đường không vì tình cảm mà cứu đại huynh được nên khiến Ngụy Trưng ngủ thiếp trong khi hầu cờ. Trời không vì tư ý mà vì dân ý mới kết tội đại huynh; cũng như thừa tướng Ngụy Trưng chém đầu đâu phải vì thiếu tình cảm, vì hiếu sát. Tất cả hành động đó đều vì ý dân mà thôi.

Trâu nói đến đây ngừng lại, quật sừng, đập đuôi đuổi muỗi bám vào mình. Ma Rồng nghe Trâu giảng giải một hồi, đoạn thở dài hỏi:

- Vậy theo ý của hiền đệ, ngu huynh làm sao đây?

Trâu mỉm cười, đáp:

- Có gì khó. Cứ nhìn tiểu đệ đây thì biết.

Ma Rồng gật đầu, khẽ buông một tiếng ngắn ngủi, não ruột:

- À!

Bây giờ, trăng đã chìm sau dãy núi mờ xa. Bóng tối chập chùng lan rộng. Bầu trời tô đậm một màu nâu thẫm. Giữa cánh đồng hoang vắng, gió rít dài tăng thêm sự lạnh lẽo trong cảnh tịch mịch đìu hiu.

Bóng ma Rồng tội lỗi phưởng phất rồi chìm dần trong thâm u. Trâu thẫn thờ từng bước về chuồng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:04 am

Tái ông thất mã


"Tái ông thất mã" là "ông già ở biên giới mất ngựa".

Sách của Hoài Nam Tử có chép:

Một ông lão ở gần cửa ải Nhạn Môn, nơi giáp giới nước Tàu với Phiên Quốc (Hồ) có con ngựa. Một hôm, con ngựa đi mất. Người quen thuộc đều đến thăm hỏi, chia buồn. Ông lão nói:

- Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách mấy tháng, con ngựa trở về lại quyến thêm một con ngựa hay tốt. Những người quen thuộc kéo đến xem ngựa và chúc mừng. Ông lão nói:

- Được ngựa thế mà họa cho tôi đấy, biết đâu!
Từ khi được ngựa hay tốt, con ông lão thích cưỡi. Chẳng may té què chân. Người quen thuộc đều đến hỏi thăm, chia buồn. Ông lão nói:

- Con què thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách một năm có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão vì què, không phải đi lính mà cho con vẫn họp nhau.

"Tái ông thất mã" trở nên một thành ngữ để chỉ sự họa, phúc xoay vần, khó biết trước được. Trong cái phúc thường khi có cái họa; trong cái họa lại có cái phúc. Cổ ngữ cũng có câu: "Họa tùng phúc sở ỷ, phúc tùng họa sở phục".

Sách của Úc Ly Tử cũng có chép:

Một người nhà quê trải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe tiếng kêu "tích tích", lật lên xem thì bắt ngay được một con trĩ.

Anh ta thấy thế lại vẫn để cỏ ở đấy, có ý mong ngày mai lại được con trĩ nữa. Mai ra, lắng tai nghe tiếng "tích tích" như hôm trước, bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên thì ra một con rắn cắn ngay vào tay làm anh ta bị thương rồi chết.

Úc Ly Tử nói: "Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế mà may được thế; cũng có cái họa không ngờ đến thế mà xảy ra thế".

Trong một bài thơ của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng có câu:

Kìa tụ tán chẳng qua là tiễn biệt,
Ngựa tái ông họa phước biết về đâu.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:09 am

Ngọc tỉnh liên phú


"Ngọc tỉnh liên" là "Hoa sen trong giếng ngọc". Đây là bài phú của Mạc Đĩnh Chi.

Ông đỗ Trạng nguyên, khi vào bái yết nhà vua, Trần Anh Tông thấy hình dung ông xấu xí quá, không muốn cho đỗ. Ông liền làm bài phú "Ngọc tỉnh liên" để tự ví mình. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức.

Vua đọc bài phú của ông cho là kiệt tác nên mới yêu dùng.

Dưới đây là bài phú "Ngọc tỉnh liên" dịch ra văn nôm:

"Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng:

Thủy tinh làm mái cung đình,
Lưu ly lạc để nên hình cung môn,
Pha lê nát nhỏ làm bùn,
Minh châu làm nóc trên cành tưới cây.
Hương thơm bay thấu từng mây,
Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng.
Quế xanh khóc vụng tủi thầm,
Tố Nga luống những mười phần giận thân.
Cỏ dao hái chốn Phương tân,
Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu.
Giữa dòng lơ lửng vì đâu?
Non sông đất cũ cớ sao chẳng về?
Đành nơi lưu lạc quản gì,
Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân.
Một lòng trung chính nghĩa nhân.
Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương,
Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài.

Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như tình, như cảm, đem lòng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi.


(Bản dịch của C... Đ...)

Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương), thông minh tuyệt vời, diện mạo rất xấu xí. Vì cái xấu xí đó mà xuýt chút con đường hoạn lộ của ông bị bế tắc; tuy vậy mà cũng nhờ đó, trên đài văn học, ông để lại cho đời một bài phú "Ngọc tỉnh liên" có giá trị.

Ông tài giỏi quá nên đời ông có nhiều giai thoại ngộ nghĩnh nửa thực nửa hư. Ông được người tôn sùng là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Vì ông đỗ Trạng nguyên ở nước nhà, rồi đi sứ sang Tàu, ông lại được vua Tàu sau khi xem văn ông lại cầm viết phê là Trạng nguyên nữa.

Thật là chuyện nửa tin nửa ngờ.

Nguyên ông đi sứ sang Tàu đời nhà Nguyên. Khi vào triều, vừa gặp người ngoại quốc dâng nhà vua một cây quạt. Vua bảo ông làm một bài minh (một thể văn ngày xưa) để đề vào quạt. Ông cầm bút viết ngay:

Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô
Nhĩ ư tư thời hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thời hề, Di, Tề ngã phu,
Y! Dụng chi tắc hành, xã chi tắc tàng
Duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù!


Nghĩa là:

"Vàng chảy đá tan, trời đất như lò lửa, lúc ấy ngươi được như Y Doãn, Chu công là bực cự nho.
Gió bấc lạnh lùng mưa tuyết đầy đường, lúc ấy ngươi phải như Bá Di, Thúc Tề là kẻ bị đói.
Ôi! Dùng thì làm, bỏ thì cất,
Ta cùng ngươi cũng giống nhau chăng?"


Quần thần nhà Nguyên thấy bài minh cho là hay, cực kỳ khen ngợi. Có truyện chép: từ chữ "Y" trở xuống, vua Nguyên phê 4 chữ "Lưỡng quốc Trạng nguyên".

Ông đi sứ tàu, vì trời mưa gió nên đến cửa ải trễ. Lính đã đóng cửa. Nhưng muốn thử tài sứ Việt, quan Tàu đưa một vế câu đối xuống để ông đối. Vế rằng:

"Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"
Nghĩa: "Qua ải chậm, cửa ải đóng, xin khách qua qua ải".


Ông liền đối:

"Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh trên đối"
Nghĩa: "Ra đối dễ, đối lại, khó, xin mời tiên sinh đối trước".


Người Tàu phục tài mở cửa quan cho qua.

Một quan Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ, cùng ngồi đàm luận. Trong phủ có treo một bức trướng thêu con chim sẻ vàng (hoàng tước) đậu trên cành trúc. Thêu khéo đẹp quá, ông tưởng là chim thật, bước đến đưa tay bắt. Người Nguyên cười ầm lên. Ông liền kéo ngay bức trướng xé toang ra. Chúng lấy làm lạ hỏi. Ông nói:

- Tôi nghe người ta họa bức mai tước (cây mai và chim sẻ) thì có, chớ chưa thấy họa bức trúc tước (cây trúc và chim sẻ) bao giờ. Vả chăng trúc là quân tử, tước là tiểu nhân, nay bức trướng thêu trúc tước, ấy là cho tiểu nhân đứng trên quân tử. Tôi sợ e quân tử đạo tiêu, tiểu nhân đạo trưởng, nghĩa là quân tử suy mà tiểu nhân thịnh, cho nên tôi vì Thánh triều mà trừ đi đó. Chúng nghe rất lấy làm phục.

Nhưng cũng rất vô lý.

Ai đời sứ thần một nước dù là nước nhỏ đi nữa cũng là sứ thần, lỡ đi trễ mà chúng đóng cửa ải quan không cho vào, rồi ra câu đối ... Ông Trạng của một nước dù là nước nhỏ nhưng nước ấy đã từng phá Tống, bình Chiêm, vậy mà nhìn tranh thêu lại tưởng là thật; rồi giữa lúc đàm luận với vị Tể tướng cùng quan khách lại bỏ chạy chụp chim, thì thật là ngớ ngẩn hết chỗ nói.

Họa chăng, ông Trạng Việt Nam thẳng thắn phê bình tranh Tàu trước vị Tể tướng nước Tàu, rồi người sau thêm nhưn nhị vào cho vui câu truyện có tính cách khôi hài chăng?

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:21 am

Ngôn quá kỳ hành


"Ngôn quá kỳ hành..." nguyên câu là: "Ngôn quá kỳ hành bất khả trọng dụng" đó là lời nói của Lưu Bị chúa nước Tây Thục đời Tam Quốc, có nghĩa: "Nói nhiều hơn làm, không dùng việc lớn được."

Lưu Bị đánh Ngô bị đại bại, chạy về Bạch Đế Thành, lâm bịnh nặng. Trước phút lâm chung, các quan chầu chực bên long sàng. Lưu Bị nhìn thấy có Mã Thốc bèn truyền cho tạm lui ra. Đoạn hỏi Khổng Minh:

- Thừa tướng xem tài Mã Thốc thế nào?

Nguyên Thốc là người có tài bác lãm quần thư, quán thông kim cổ, không có điều nào hỏi mà không biết, không có sách nào hỏi mà không nhớ, nên Khổng Minh thành thật đáp:

- Cũng là bậc anh tài đời này.

Lưu Bị nói:

- Không đâu! Trẫm xét thấy người ấy thường nói lớn quá sự thực mà làm thì không được như lời, không thể dùng vào việc lớn. Thừa tướng nên xét kỹ lại.

Lưu Bị chết.

Khổng Minh đem binh ra Kỳ Sơn đánh Ngụy.

Ngụy chúa là Tào Duệ dùng Tư Mã Ý làm đô đốc cầm binh đánh Thục.

Nguyên phía tây núi Tần Lĩnh có một con đường quan yếu gọi là Nhai Đình. Cạnh đó có thành Liệt Liễu. Hai chỗ ấy là yết hầu của Hán Trung (đất của Thục). Tư Mã Ý định kéo binh thẳng tới Nhai Đình, chiếm được điểm giao thông quan trọng này thì Dương Bình Quan của Thục cũng sắp lọt vào tay Ngụy.

Nhai Đình mất, tất Ngụy sẽ cắt đứt đường vận tải lương thực thì một vùng Lũng Tây của Thục khó giữ nổi. Như vậy Thục chỉ còn hai cách bị động: rút lui hay ở lại cố thủ. Hễ Ngụy nghe quân Thục chuyển động rút quân về Hán Trung, lập tức chia binh chận các đường nhỏ mà đánh. Nhược bằng quân Thục không lui, Ngụy sẽ cho các lộ quân đào hào, đắp lũy cố giữ chặt đứt các đường rút về của Thục, như vậy chỉ trong vòng một tháng, Thục sẽ bị tuyệt lương, quân chết đói hết.

Khổng Minh vẫn nhận thấy điều đó cho nên chọn tướng đem binh giữ Nhai Đình. Mã Thốc xin đi. Khổng Minh nói:

- Nhai Đình chỉ là một mảnh đất nhỏ, nhưng can hệ vô cùng. Nếu chỗ ấy thất thủ thì cả đại quân ta nguy hết đường cứu! Ngươi tuy thâm thông mưu lược nhưng hiềm nơi ấy không có thành quách, lại cũng chẳng có thế hiểm nào mà dựạ Khó giữ vô cùng.

Thốc nói:

- Tôi làu thuộc binh thơ từ nhỏ lại cũng biết phép dùng binh, lẽ nào không giữ nổi một chỗ như Nhai Đình.

Thấy Thốc cương quyết xin đi và lập "quân lịnh trạng" nên Khổng Minh phát cho 2 vạn 5 ngàn tinh binh và cho thêm một thượng tướng là Vương Bình trợ giúp. Khổng Minh lại kêu Bình vào dặn dò riêng:

- Ta vốn biết ngươi bình sinh cẩn thận nên mới đem việc này phó thác cho. Vậy phải thận trọng đề phòng. Đóng trại ở Nhai Đình thì phải đóng chặn ngang đường chính yếu, khiến giậc không đi qua lọt. Hạ dinh trại xong, hãy vẽ ngay đường lối bốn mặt tám phương và hình thế địa lý, lập thành bản đồ đầy đủ, gởi về cho ta xem. Ngoài ra, việc gì cũng phải bàn nhau kỹ càng rồi hãy làm, chớ có coi thường. Nếu giữ được nơi ấy an toàn tức là được công đầu trong việc đánh chiếm Trường An vậy.

Mã Thốc và Vương Bình kéo quân lên đường rồi, nhưng Khổng Minh còn cẩn thận sai thêm tướng giỏi dẫn binh đóng giữ phía đông bắc và phía sau Nhai Đình để tiếp cứu khi Nhai Đình bị nguy.

Mã Thốc, Vương Bình đến Nhai Đình, trước hết đi quan sát địa thế đóng quân. Thốc xem xét rồi cười nói:

- Sao Thừa Tướng cẩn thận đến thế! Một nơi ven núi thế này, quân Ngụy đâu dám bén mảng tới.

Vương Bình nói:

- Dù quân Ngụy không dám đến, ta cũng phải đóng trại vào chỗ ngã năm kia để canh giữ năm mặt đường.

Nói rồi truyền quân sĩ đi đẵn cây đóng trại, tính kế giữ lâu dài. Mã Thốc không bằng lòng, nói:

- Ai đóng trại giữa đường bao giờ? Tiện đây có ghềnh núi, bốn mặt đều kín đáo, cây cối lại rất nhiều, chính là chỗ hiểm trời dành cho ta, cứ đóng quân ngay trên núi là hơn.

Bình nói:

- Tham quân tính sai rồi, đóng trại giữa đường đi, đào hào đắp lũy chấn ngang thì quân giặc dẫu có 10 vạn cũng không thoát qua lọt. Chớ bỏ ngã năm xung yếu này mà lên núi đóng đồn, nếu quân Ngụy ào đến bổ vây bốn mặt thì chống làm sao?

Thốc cười ha hả:

- Ngươi liệu tính không khác gì... đàn bà! Binh pháp có dạy: "Từ trên cao nhìn xuống, đánh địch dễ như chẻ tre". Nếu quân Ngụy đến đây, ta sẽ đánh cho không còn mảnh giáp.

Bình lại cãi:

- Trái núi này thật là chỗ tuyệt địa. Quân Ngụy cứ chặn đứt đường lấy nước thì quân ta chẳng đánh cũng rối loạn ngay.

Thốc gạt đi:

- Đừng bàn nhảm như thế! Tôn Tử có nói: "Lăn vào chỗ chết mà tìm được cái sông". Nếu quân giặc chặn đường lấy nước thì quân ta cũng liều mình tử chiến, một người địch nổi trăm tên. Ta học binh thư đã chán ra rồi. Mọi việc đến Thừa Tướng còn phải hỏi ta nữa là! Sao ngươi cứ cản trở ta vậy?

Bình đành phải khuyên:

- Nếu Tham Quân nhất định đóng đồn trên núi thì xin chia binh cho tôi đóng một trại nhỏ dưới chân núi phía tây, làm thế "ỷ dốc". Quân Ngụy đến, ta có thể cứu ứng lẫn nhau.

Nhưng Thốc vẫn không nghe. Bỗng thấy dân cư trong núi rầm rộ đổ ra, kéo từng tốp chạy đến, nháo nhác kêu rằng: "Giặc sắp đến nơi". Vương Bình sốt ruột toan bỏ đi. Mã Thốc bảo:

- Ngươi đã không chịu nghe lịnh, giờ quân Ngụy sắp đến rồi, vậy ta cho ngươi 5 ngàn binh, cứ đi mà đóng trại tùy ý. Rồi đây khi phá xong quân giặc, về trước mặt Thừa Tướng, ngươi đừng mong chia công với ta.

Bình chẳng nói gì nữa, kéo ngay 5 ngàn binh xuống cách xa chân núi 10 dặm rồi hạ trại, rồi lập tức vẽ thành bản đồ, sai người đi suốt đêm về trình Khổng Minh, bẩm rõ mọi việc Mã Thốc tự ý đóng đồn trên núi...

Khổng Minh đặt bản đồ lên án, mở xem qua một lượt bỗng ông đập tay xuống ánh đánh "bùng", kinh hãi kêu lên:

- Chết chưa! Mã Thốc ngu dốt, hãm quân ta vào chỗ nguy rồi.

Đoạn vội cho người thay Mã Thốc. Nhưng chưa kịp thì có tin cấp báo: "Nhai Đình và Liệt Liễu thất thủ cả rồi". Khổng Minh giậm chân đập gối than rằng:

- Ôi thôi, việc lớn hỏng rồi! Đây là lỗi tại ta!

Mã Thốc phải nhờ Vương Bình, Cao Tường, Ngụy Diên đem binh tiếp ứng mới được toàn mạng. Thốc bị xử tử theo quân pháp.

Khi võ sĩ dâng đầu Mã Thốc dưới thềm, Khổng Minh òa lên khóc! Có người hỏi:

- Mã Ấu Thường phạm tội bất khả dung. Thừa tướng đã giết đi để minh chính phép quân, sao còn sầu não?

Khổng Minh sụt sùi nói:

- Có phải ta khóc Mã Thốc đâu! Vì ta nhớ lại tiên đế lâm chung ở Bạch Đế Thành, đã dặn ta rằng: "Mã Thốc là kẻ hay nói quá sức mình, không nên giao cho việc lớn". Nay quả đúng như thế. Ta càng giận mình ngu tối, lại càng nhớ đến đức sáng suốt của tiên đế, cho nên đau lòng mà khóc vậy!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:25 am

Lễ tang


Lễ tang là lễ đặt ra để tỏ lòng thương trọng và kính thờ người chết.

Theo Khổng Tử thì trị thiên hạ "trọng nhứt là ba việc: ăn, tang và tế" (Sở trọng giả, thực tang tế). Theo Mạnh Tử thì: "Đạo trị thiên hạ cần nhứt là khiến dân nuôi người sống và tang người chết mà không có điều di hám" (Dưỡng sinh tang tử vô hám, vương đạo chi thủy giả). Bởi thế ở xã hội Việt Nam cũng như ở xã hội Trung Hoa, lễ tang còn có phong tục và lễ nghi phiền phức hơn việc hôn nhân nữa.

Việc tang trọng nhứt là tang cha mẹ.

Khi cha mẹ hấp hối thì phải đem ngay ra giữa nhà để tỏ rằng cha mẹ chết vì lẽ quang minh chính đáng. Bấy giờ phải đặt tên thụy, tục gọi là tên hèm hay tên cúng cơm, rồi thưa cho cha mẹ biết. Đoạn lấy một mảnh lụa trắng dài 7 thước để lên mặt, sau khi kết thành hình người gọi là hồn bạch để hồn người chết tựa vào đó. Khi tắt hơi thì người nhà lấy một chiếc khăn tay hay một tờ giấy phủ trên mặt, khiêng xác đặt xuống đất rồi lại khiêng lên giường, có ý để cho người hấp thụ sinh khí của đất may ra có sống lại được. Đoạn một người cầm cái áo của người chết, tay tả cầm cổ, tay hữu cầm lưng, do đường trước trèo lên mái nhà để gọi tên và hú hồn người chết ba lần, rồi do đường sau nhà mà xuống. Đó là lễ phục hồn. Bấy giờ con cháu mới khóc và thay bỏ hết đồ trang sức mà quấn tóc và đi chân không, cùng ăn cháo để tỏ lòng đau thương.

Sau khi lập người tang chủ (thường là người con trưởng, là cháu trưởng thừa trọng) và người chủ phụ (vợ người chết hay vợ tang chủ) thì phải lo việc trị quan, nghĩa là sửa soạn quan tài theo nghi tiết nhứt định, rồi tắm gội và thay quần áo mới cho người chết để sắp sửa làm lễ phạm hàm. Lễ này, người nhà dùng một chén gạo nếp và ba đồng tiền, chia ra ba lần mà bỏ vào miệng người chết. Bấy giờ đến lễ tiểu liệm (một mảnh dọc, ba mảnh ngang) và đại liệm (một mảnh dọc, năm mảnh ngang), theo nghi tiết mà lấy vải bọc lấy xác người chết cho kín.

Khi nhập quan, con cháu sắp hàng ở trước quan tài để khóc và làm lễ. Những người giúp việc khiêng xác bỏ vào quan rồi khiêng quan đặt ở giữa nhà. Từ bây giờ, con cháu phải trải rơm ở hai bên linh cữu và thay phiên nhau ngồi hầu suốt đêm ngày.

Khi đặt cữu đã xong, nhà giàu sang thì đặt linh sàng ở phía đông có đủ mùng màn chăn gối. Nhà hẹp thì chỉ đặt linh tọa ở trước cữu mà thôi. Cứ sáng và tối thì làm lễ triêu tịch điện, rước hồn bạch ở linh sàng ra linh tọa, rồi lại rước từ linh tọa vào linh sàng.

Trước khi làm lễ thành thục, phải lập minh tinh là thứ cờ hiệu bằng lụa đỏ có chữ ghi họ tên, chức tước cùng thụy hiệu chết bằng phấn trắng. Khi làm lễ thành phục thì con cháu người chết theo nghi tiết phủ phục mà mặc đồ tang, rồi quỳ lạy và khóc trước linh cữu.

Đồ tang phục có năm bực gọi là ngũ phục.

Áo đại tang để cha mẹ là áo trảm thôi (vải sô chặt bằng dao chớ không dùng kéo hay sổ gấu có mảnh vải đính ở sau lưng (phụ phiến), hai mảnh đính ở hai vai (thích). Ở lưng thắt một dây chuối hai vòng, ngoài phủ một cái áo rộng bằng vải sô. Trên đầu có một cái khăn bằng vải sô bỏ múi sau gáy. Con trai có mũ vành bằng bẹ chuối (mũ nùn) và gậy tre đẽo tròn nếu tang cha hay gậy vông đeo vuông nếu tang mẹ. Gái thì đội mũ nhọn (mũ mấn) bằng vải to che kín cả mặt.

Nếu mẹ chết trước cha, thì con để tang là áo cũng may theo kiểu trảm thôi (sổ gấu) nhưng gấu có viền qua loa. Về tang ông bà, chị em, anh em, chú bác cô dì thì tùy theo thứ tự thân sơ mà may đồ cơ phục (để một năm), đồ đại công (để chín tháng) bằng vải to, đồ tiểu công bằng vải hơi thô và đồ ti ma (để ba tháng) bằng vải nhỏ.

Trước khi tống táng thì làm lễ thiên cữu (dời cữu đi chỗ khác hoặc xích đi một chút), và lễ yết tổ tức rước hồn bạch đến từ đường để cáo tổ tiên.

Đến ngày phát dẫn thì làm lễ khiển diện tức là lễ tiễn biệt, rồi rước linh cữu đến đại dư. Khi phát dẫn thì đi trước hết là phương tướng (người mặc áo mũ đạo sĩ, đeo nạ cầm dao) để khu trục tà quỷ; thứ đến có cờ đan triệu viết chữ "trung tín" (nếu đàn ông) hoặc "trinh thuận" (nếu đàn bà) bằng phấn trắng; thứ đến là các đồ minh khí cùng đối trướng của người phúng điếu, kế đến minh tinh, linh xa rước hồn bạch, rồi đến đại dư. Con trai thì chống gậy tre (tang cha), hoặc gậy vông (tang mẹ) đi lùi ở trước linh cữu. Còn con gái, dâu thì đi theo sau linh cữu trong một cái màn trắng (bạch mạc). Sau cùng là các người tôn trưởng họ hàng và bằng hữu đi đưa.

Dọc đường, con gái con dâu có lệ là thỉnh thoảng phải nằm lăn xuống đường khóc lóc kể lể để cỗ đại dư vượt qua. Người ta lại rắc những thoi vàng giấy để đánh dấu lối cho linh hồn người chết mà biết lối về.

Đám tang nhà phú quý, dọc đường thỉnh thoảng có làm trạm trung đồ (đạo trung) để dừng linh cữu lại làm điện tế. Đến huyệt lại có trạm để tế hạ huyệt. Trước khi hạ huyệt thì làm lễ tế Thổ thần. Khi đặt quan tài vào huyệt thì có thầy phong thủy phân kim lấy hướng, trải minh tinh lên mặt quan tài rồi cho đắp mồ. Đắp xong thì làm lễ thành phần. Đoạn rước hồn bạch hay thần chủ vào linh xa về nhà rồi đưa lên linh tọa. Sau đó làm lễ phản khốc (khóc lại) và lễ sơ ngu (cầu cho vong hồn được an tĩnh). Sau gặp ngày nhu nhựt (ất, đinh, tỵ, tân, quý) thì làm lễ tái ngu; gặp ngày cương nhựt (thân, bính, tuất, canh, nhâm) thì làm lễ tam ngu.

Tống táng được ba ngày thì phải ra thăm mộ, làm lễ "mở cửa mả". Rồi cứ 7 ngày làm một tuần chay cho đến 49 ngày thì làm lễ chung tất, cùng lễ 50 ngày và 100 ngày. Được một năm thì làm lễ tiểu tường (giỗ đầu), sau một năm nữa thì làm lễ đại tường (giỗ hết). Được 27 tháng thì làm lễ đoạn tất hay lễ trừ phục (mãn tang). Từ đấy về sau cứ hàng năm đến ngày kỵ lại phải làm lễ, cho đến khi người chết lên đến bực tổ ngũ đại thì chôn thần chủ rồi thờ chung ở từ đường, chớ không làm giỗ riêng nữa. Trong khoảng tiểu đại tường, cứ đến tuần trung nguyên (rằm tháng bảy), người ta thường đốt đồ mã cho người chết hai kỳ. Kỳ đầu gọi là mã biếu (quỷ sứ), kỳ sau mới thực cho người chết dùng. Có nhiều nơi, người ta đốt đồ mã vào kỳ giỗ đầu và giỗ hết.

Tục đốt mã nguyên theo tục xưa chôn đồ dùng thật kèm với người chết, sau mới thay bằng đồ giấy. Người ta tin rằng người chết xuống âm phủ cũng tiêu dùng tiền và quần áo nên phải đốt đồ mã để cho người chết khỏi thiếu thốn. Bởi theo mê tín và lý luận đơn giản, người ta cho rằng: "Dương sao thì âm vậy".

Về đại tang thì sau khi chôn cất yên rồi, con cháu đem mũ gậy và áo rộng treo ở bên linh tọa. Khi làm lễ thì mới dùng đến. Lúc thường thì chỉ mặc quần áo và chít khăn tang mà thôi. Trong thời hạn đại tang, người con còn phải ăn ở theo lễ. Theo sách Gia lễ: khi con cái có tang cha mẹ phải nằm rơm gối đất, không được vui chơi, không được nghe đàn hát, ăn uống thịt rượu, không được kết hôn, phải kiêng phòng sự (đàn bà có thai trong kỳ đại tang thì phải vạ). Người đương làm quan mà gặp đại tang thì phải xin nghỉ để cư tang, hết hạn mới xin bổ lại.

Sau ba năm đoạn tang, hoặc vài năm sau nữa, người ta thường cải táng. Khi ấy phải mời thầy phong thủy tìm lấy huyệt tốt rồi làm lễ bốc mả (cải táng). Trước hết là khai mả nhặt lấy xương xếp vào một cái tiểu sành rồi đậy thực kín. Nhà giàu sang thì dùng quan quách khâm liệm như khi hung táng.
Tục cải táng ở miền Bắc rất phổ thông, người ta thường gọi là làm ma khô, đối với lễ hung táng là làm ma tươi. Từ Hoành Sơn trở vào Nam thì trừ khi người ta tưởng rằng mộ động thì phải cải táng, còn thường thì chôn cất một lần là xong.

Lễ tang rất phiền phức. Tục lệ tang ma khôn dứt bỏ được dễ dàng vì tôn giáo, luân lý, nghi lễ, phong tục và luật lệ phối hợp lại gây nên một áp lực mạnh mẽ, thúc bách cá nhân phải tuân theo. Trừ khi dân trí tiến bộ bớt mê tín và khi điều kiện sinh hoạt thay đổi hẳn. Cho nên ta đã thấy.

Từ khi người chết vừa tắt hơi cho đến lễ đạm tất thì mỗi lần làm lễ phải có thầy phù thủy hay thầy tu tụng kinh và làm phép. Nếu ngày chết là ngày xấu, như ngày trùng tang trùng phục thì người ta phải tìm thầy phù thủy làm phép, đại khái là bỏ bùa vào quan tài và yểm bùa ở cửa để hung sát sợ mà không dám làm hại; hoặc làm chay, lập đàn cúng lễ. Những kẻ chết oan, chết trẻ chưa thành gia thất, những kẻ bất đắc kỳ tử đều là những thứ ma thiêng hay hãm hại người sống nên muốn trừ tai ách, người ta phải làm chay để siêu độ vong hồn hoặc để giải oan.

Những thứ phiền toái này làm tê ngừng dòng tình cảm giữa người sống và người chết cùng huyết thống của một ông tổ. Đúng như điều nhận xét của dân chúng vốn thiết thực, nhưng không thể chống lại được sức mạnh của những "sự vật đã thành" mà họ vẫn ngấm ngầm phản đối:

Sống thì hít hít, hôn hôn,
Chết thì bùa yểm, bùa chôn, bùa trừ!...


hoặc:

Sống thì chả được cho ăn,
Chết thì làm giỗ, làm văn tế ruồi.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:29 am

Thôi xao


"Thôi" là "đẩy".
"Xao" là "gõ".

Giả Đảo là một nhà sư giỏi thơ đời Đường. Một hôm trăng sáng, sư cưỡi lừa thong thả trên con độc đạo, định đến thăm nhà một người bạn. Cảnh vắng, trăng thanh, chim đậu trên cành cây bên bến nước, bóng người chiếu xuống mặt nước đầm, sư thấy lòng thơ lai láng, tức cảnh ngâm:

Điểu túc trì biên thọ.
Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn.
Độc hành đàm để ảnh,
Sác tức thụ biên thân.


Tạm dịch:

Chim đỗ cây bến nước,
Sư đẩy (gõ) cửa dưới trăng.
Mình đi bóng chiếu xuống,
Tựa cây mà thở than.


Giả Đảo ngâm đi ngâm lại, nhận thấy chữ "thôi" trong câu "Tăng thôi nguyệt hạ môn" không được ổn, nên đổi lại "xao". Nhưng cũng không vừa ý. Ông đọc "thôi" rồi lại "xao", lại đọc "xao" rồi đọc "thôi". Rốt cuộc ông phân vân không biết dùng chữ nào cho thích hợp.

Ông tức quá, bước xuống lừa, đứng giữa đường đi, đưa tay đẩy (thôi) rồi gõ (xao), gõ rồi đẩy giả như đứng trước nhà bạn vậy. Ông cứ làm như thế mãi mà không thấy phải dùng chữ nào.

Hàn Dũ vì can vua nên bị giáng chức tại triều ra làm thứ sử ở Triều Châu. Buồn cho thân thế, thấy trăng thanh gió mát nên cũng thong thả dạo chơi. Xa xa thấy một nhà sư đứng bên con lừa, tay lúc đưa tới đưa lui, lúc đưa qua đưa lại như thằng điên thì rất lấy làm lạ. Hàn lần bước đến gần lên tiếng, nhà sư mới giựt mình ngừng lạị Hàn Dũ hỏi thì Giả Đảo thuật lại sự tình. Hàn bật cười và bàn: "Nên dùng chữ "Xao" (gõ) là đúng hơn".

Giả Đảo đồng ý nên câu "Tăng thôi nguyệt hạ môn" đổi ra "Tăng xao nguyệt hạ môn".

Hai tiếng "thôi xao", trong văn chương ngày nay để chỉ là "chọn chữ làm văn thơ". Đây cũng là một gương sáng cho những người làm thơ, làm văn phải chọn chữ cho xác đáng, thích hợp. Chớ không được dùng từ ngữ "ẩu"!

Ta cũng có thành ngữ: "Nghĩ ra một chữ rụng mấy sợi râu", cũng đồng một ý nghĩa như trên. Giả Đảo lại có một bài thơ:

Nhị cú tam niên đắc,
Ngâm thành son lệ lưu.
Tri âm như bất thưởng,
Qui ngọa cố sơn thu.


Dưới đây là bản dịch của Hoài Nam Tử:

Ba năm được hai câu,
Ngâm lên giọt lệ trào,
Tri âm bằng chẳng hiểu,
Về ẩn chốn non cao.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:32 am

Tựa cửa, tựa cổng


"Tựa cửa", "tựa cổng" do chữ "Ỷ môn", "Ỷ tư".

Nhạc Nghị là tướng nước Yên đời Chiến Quốc đem quân đánh Tề, hạ được 72 thành. Tề chỉ còn 2 thành là Cử Châu và Tức Mặc. Tề Mẫn vương thua chạy ra Cử Châu, có quan đại phu là Vương Tôn Giả hộ giá.

Vương Tôn Giả mới 12 tuổi, chỉ còn mẹ già, Mân vương thương cho làm quan. Tôn Giả theo phò Mân vương đến nước Vệ thì cả hai lạc nhau. Giả chẳng biết Mân vương ở đâu, bèn lẻn về nhà. Bà mẹ trông thấy hỏi vua Tề ở đâu, Giả nói:

- Con theo vua đến nước Vệ, nửa đêm vua tôi cùng bỏ trốn, rồi không biết vua đi ngả nào.

Bà mẹ giận, nói:

- Mày sớm đi chiều về thì ta đứng tựa cửa mà mong; mày chiều đi mà không về thì ta đứng tựa cổng mà mong. Vua mong bề tôi có khác gì mẹ mong con. Mày làm tôi vua Tề, vua ban đêm chạy trốn, mày không biết vua đi đâu, sao lại bỏ về?

Giả thẹn quá, lại từ biệt mẹ già đi tìm vua Tề, nghe vua ở Cử Châu, đến ngay để tìm. Nhưng khi đến đó mới biết vua Tề bị Tướng quốc Tề là Trác Xỉ mưu phản, tư thông với Nhạc Nghị giết chết vua Tề. Giả bèn trần tay áo bên tả ra hô hào ở ngoài chợ:

- Trác Xỉ làm tướng Tề mà giết vua, thế là làm tôi bất trung. Nếu ai bằng lòng giết kẻ có tội ấy thì theo ta cùng trần tay áo bên tả.

Người trong chợ cùng bảo nhau: "Người ấy ít tuổi mà có lòng trung nghĩa, chúng ta ai là người hiếu nghĩa, tưởng đều nên theo". Chỉ trong một chốc có đến hơn bốn trăm người cùng trần tay áo bên tả.
Trác Xỉ, trước vốn tướng nước Sở. Khi Tề bại trận có sai sứ sang cầu viện vua Sở tiếp cứu, hứa cắt dâng cả đất Hoài Bắc cho Sở để đền ơn. Vua Sở sai đại tướng Trác Xỉ mang 20 vạn quân lấy cớ đi cứu Tề, sang Tề nhận đất, nhưng lại mưu mẹo dặn Xỉ cứ liệu chừng mà thi hành, hễ có lợi cho Sở thì làm ngay. Xỉ được Tề Mân vương lập làm tướng quốc. Quyền hành đều về tay Xỉ.

Xỉ thấy quân Yên thế mạnh, sợ cứu Tề vô công, bèn mật sai sứ tư thông với Nhạc Nghị, định giết Mân vương rồi cùng Yên chia đất Tề, và yêu cầu Yên để cho mình làm vua. Tướng Yên là Nhạc Nghị ưng chịu.

Trác Xỉ mừng quá, bèn dàn quân ở Cổ Lý, mời Mân vương đến duyệt binh, đoạn bắt Mân vương rút gân treo lên nóc nhà. Sau ba ngày, Mân vương mới tắt hơi. Xỉ liền về Cử Châu, muốn tìm thế tử vua Tề mà giết nốt nhưng tìm không được. Xỉ liền làm biểu tâu với vua Yên kể công mình, nhờ Nhạc Nghị chuyển đệ cho.

Giữa lúc ở Cử Châu, Trác Xỉ vào cung vua Tề uống rượu say sưa, truyền mỹ nữ tấu nhạc làm vui. Quân Sở đông nhưng đều đóng ở ngoài thành, chỉ có vài trăm quân dàn hầu ở cửa cung. Vương Tôn Giả đem 400 người xông vào cướp khí giới của quân lính, tiến vào cung bắt được Trác Xỉ. Xỉ bị xả thây, bằm nát thành nước thịt. Quân Sở không có chủ tướng, một nửa bỏ trốn, một nửa đầu hàng nước Yên.

Vương Tôn Giả truyền đóng chặt cửa thành, cố giữ.

Lời nói của bà mẹ Vương Tôn Giả: "Mày sớm đi chiều về thì ta đứng tựa cửa mà mong; mày chiều đi mà không về thì ta đứng tựa cổng mà mong...", nguyên văn: "Nhữ triêu xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng; mộ xuất nhi bất hoàn, tắc ngô ỷ lư nhi vọng". Do đó, nên sau trong văn chương, người ta thường dùng chữ "ỷ môn, ỷ lư" (tựa cửa, tựa cổng) để chỉ sự cha mẹ trông con.

Trong tác phẩm "Chinh phụ ngâm", bản dịch nôm của bà Đoàn Thị Điểm, đoạn nói về tình gia thất của khách chinh phu, có câu:

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.


Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Kiều ở lầu Ngưng Bích của mụ Tú Bà, nàng nhớ quê hương, nhớ tình nhân, nhớ cha mẹ, cũng có câu:

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?


"Tựa cửa" là do điển tích trên.

Riêng có chữ "hôm mai" đi theo chữ "tựa cửa" là vì trong chữ sách, mẹ của Vương Tôn Giả có nói đến việc con đi buổi mai và buổi chiều (triêu xuất, mộ xuất).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:37 am

Tứ Thư


Tứ Thư và Ngũ Kinh là những bộ sách làm nền tảng cho Nho giáo. Sách này vừa là kinh điển của các môn đồ đạo Nho, vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ của nước Tàu.

Tứ Thư (bốn sách) gồm có Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử.

1/ Đại học là sách của bực "đại học" cốt dạy cái đạo của người quân tử. Sách chia làm hai phần:

a/ Phần đầu gọi là Kinh, chép lời đức Khổng Tử có 1 chương.

b/ Phần cuối gọi là Truyện, lời giảng giải của Tăng Tử là môn đệ của Khổng Tử có 10 chương.

Mục đích bực đại học hay tôn chỉ của người quân tử, đã tóm tắt ở câu đầu sách là: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện". Nghĩa là: "Cái đạo của người theo bực đại học là cốt làm sáng cái đức sáng (đức tốt) của mình, cốt làm mới (ý nói cải hóa) người dân, cốt dừng lại ở cõi chí thiện". Vậy người quân tử trước phải sửa sang đức mình cho hay, rồi lo dạy người khác nên hay, và lấy sự chí thiện làm cứu cánh.

Mục đích đã vậy, phương pháp phải thế nào? Con người phải sửa mình trước (tu thân), rồi mới chỉnh đốn việc nhà (tề gia), cai trị việc nước (bình thiên hạ). Phương pháp này phải tuần tự tiến hành là tự mình đến người ngoài, mà điều cốt yếu nhứt là việc sửa mình. Vì vậy trong Đại Học có câu: "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản". (Từ vua đến thường dân, ai ai cũng đều lấy việc sửa mình làm gốc).

Vậy muốn sửa mình phải thực hành cách nào? Trước hết phải cách vật (thấu lẽ mọi sự vật), rồi phải trí tri (biết cho đến cùng), thành ý (phải thành thực), chánh tâm (lòng phải ngay thẳng). Thực hành bốn điều này thì sẽ tu được thân, rồi tề được nhà, trị được nước và bình được thiên hạ, mà làm tròn được cái đạo của người quân tử.

2/ Trung Dung là sách gồm những lời tâm pháp của đức Khổng Tử do học trò ngài truyền lại, rồi sau thầy Tử Tư là cháu của ngài chép thành sách, gồm có 33 chương.

Thầy Tử Tư dẫn những lời nói của Khổng Phu Tử đã giảng về đạo trung dung, có cho rằng: Trung hòa là tính tình tự nhiên của trời đất mà trung dung là đức hạnh của con người. Trung là giữa, không lệch về bên nào; dung là thường, nghĩa là dùng đạo trung làm đạo thường. Muốn theo đạo này cốt phải có cái đạo đức: trí, nhân và dũng. Trí để biết rõ các sự lý, nhân để hiểu điều lành mà làm, dũng là có cái khí cường kiện mà thực hành theo điều lành đến cùng.

Đạo người là phải cố gắng để đạt đến bực chí thánh. Phải học cho rộng, xét hỏi cho kỹ, nghĩ ngợi cho sâu, biện biệt điều phải trái cho rõ và dốc lòng làm điều thiện cho đến cùng. Nếu ai làm được như thế thì ngu thành sáng, yếu thành mạnh, tức là dần lên đến bực chí thánh. Trong thiên hạ chỉ có bực chí thánh mới hiểu rõ cái tính của Trời. Biết rõ cái tính của Trời thì biết được cái tính của người. Biết rõ cái tính của người thì biết được cái tính của vạn vật. Biết rõ cái tính của vạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và có công ngang với trời đất vậy.

Sách Trung Dung nói về đạo của thánh hiền vốn căn bản của Trời, rồi giải diễn ra hết mọi lẽ, khiến cho con người phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và khi im lặng một mình.

Tóm lại, Trung Dung thuộc về loại sách triết lý rất cao.

3/ Luận Ngữ là quyển sách chép những lời nói của đức Khổng Tử khuyên dạy học trò, hoặc những câu chuyện của ngài nói với những người đương thời về nhiều vấn đề (luân lý, triết lý, chính trị, học thuật) do các môn đệ của ngài sưu tập lại.

Sách chia làm hai quyển (thượng, hạ) gồm có 20 thiên (mỗi thiên lấy 2 chữ đầu đặt tên). Các chương không có liên lạc, hệ thống gì nhau.

Sách Luận Ngữ có thể cho là quyển sách dạy đạo người quân tử một cách thực tiễn và mô tả tính tình, cử chỉ, đức độ của đức Khổng Tử, như phác họa một mẫu mực hoạt động cho người đời sau noi theo.

Sách này cho ta biết được nhiều câu cách ngôn xác đáng về đạo người quân tử. Còn cho ta nhận thấy phẩm cách cao thượng (hồn hậu, thành thực, khiêm cung, khoái hoạt) của đức Khổng Tử biểu lộ qua những chuyện ngài nói với học trò. Sách này chẳng những cho ta thấy được cảm tình phong phú và lòng ái mỹ mà còn là khoa sư phạm của Khổng Tử. Trong những lời khuyên dạy chuyện trò với học trò, ngài tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làm cho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ, cảnh ngộ của mỗi người. Có khi cùng là một câu hỏi mà ngài trả lời khác, tùy theo tư chất và chí hướng của từng người.

4/ Mạnh Tử là tên bộ sách do Mạnh Tử viết. Sách gồm có 7 thiên. Các chương trong mỗi thiên thường có liên lạc với nhau và cùng bàn một vấn đề.

Sách này cho ta nhận thức được tư tưởng của Mạnh Tử về các vấn đề:

Về luân lý, ông xướng lên thuyết tính thiện để đánh đổ cái thuyết của người đương thời (như Cáo Tử) cho rằng tính người không thiện không ác. Theo ý ông, thiên tính con người vốn thiện, ví như tính nước vốn chảy xuống chỗ thấp; sỡ dĩ thành ác là vì làm trái thiên tánh, ví như ngăn nước cho nó chảy lên chỗ cao.

Tính người vốn thiện nhưng vì tập quán, vì hoàn cảnh, vì vật dục làm sai lạc đi, hư hỏng đi, vậy cần phải có giáo dục để nuôi lấy lòng thiện, giữ lấy bản tính. Những điều cốt yếu trong việc giáo dục là: dưỡng tính (giữ lấy thiện tính), tồn tâm (giữ lấy lòng thành), trì chí (giữ chí hướng cho vững). Và, ông thường nói đến phẩm cách của người quân tử mà gọi là đại trượng phu hoặc đại nhân. Bực này phải có bốn điều là: nhân, nghĩa, lễ và trí.

Về chính trị, ông cho rằng bực làm vua trị dân phải trọng nhân nghĩa chớ đừng trọng tài lợi thì mới tránh được sự biến loạn và chiến tranh. Ông cũng lưu tâm đến vấn đề kinh tế. Ông cho rằng người có hằng sản rồi mới có hằng tâm, nghĩa là người ta có của cải đủ sống một cách sung túc thì mới sinh ra có lòng tốt muốn làm điều thiện, và có phương tiện để thực hiện điều thiện ấy. Vậy bổn phận kẻ bề trên là phải trù tính sao cho tài sản của dân được phong phú, rồi mới nghĩ đến điều dạy dân và bắt dân làm điều hay được. Ông lại chỉ cho các vua chúa những phương lược để làm cho việc canh nông, mục súc, công nghệ của dân được phát đạt.

Mạnh Tử không những là một nhà tư tưởng lỗi lạc mà còn là một văn gia đại tài. Văn của ông rất hùng hồn và khúc chiết. Ông biện luận điều gì cũng rạch ròi, sắc cạnh. Ông hay nói thí dụ. Muốn cho ai hiểu điều gì, muốn bắt ai chịu phục lẽ gì, ông thường dẫn những thí dụ mượn ở sự vật cho người ta dễ nhận xét. Ông lại thường dùng thể ngụ ngôn hoặc kể những câu chuyện ngắn để diễn đạt tư tưởng cho người nghe vui thích và dễ nhận cái hàm ý của ông.

Tóm lại, bộ Tứ Thư là bộ sách gồm những điều cốt yếu của Nho giáo. Ai muốn hiểu rõ đạo giáo ấy tất phải nghiên cứu.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:42 am

Ngũ Kinh


Ngũ Kinh (năm quyển sách) cũng như Tứ Thư là những sách làm nền tảng của Nho giáo. Nguyên trước có sáu kinh nhưng vì sự đốt sách của Tần Thủy Hoàng (246-209 trước D.L.), một kinh là kinh Nhạc (âm nhạc) bị mất đi. Kinh này chỉ còn lại một thiên, sau đem vào sách Lễ ký (kinh Lễ), đặt là thiên Nhạc ký.

Ngũ Kinh là:

1/ Thi (thơ), do đức Khổng Tử sưu tập và lựa chọn. Kinh này vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương nơi triều miếu của nước Tàu về thời thượng cổ.

Nguyên trước có đến ba ngàn thiên. Sau, đức Khổng Tử san định lại hơn ba trăm chương và theo ý nghĩa các thiên, sắp đặt thành bốn phần. Đến đời Tần Thủy Hoàng, kinh Thi cũng như các kinh khác, bị đốt nhưng có nhiều nhà nho còn nhớ. Đến thế kỷ thứ hai trước Dương lịch, về đời nhà Hán có bản kinh Thi xuất hiện, đại thể giống nhau, duy chữ viết có khác. Truyền lại đến nay là bản của Mao Công (tức Mao Trường).

Kinh Thi có bốn phần gồm 305 thiên (bài thơ). Trong đó có 6 thiên chỉ truyền lại đề mục mà không còn bài. Mỗi thiên lấy vài chữ chính trong thiên làm đề mục và chia làm nhiều chương. Bốn phần trong kinh Thi là: Quốc phong, Tiểu nhã, Đại nhã và Tụng.

Quốc phong là những bài ca dao của dân các nước chư hầu đã được nhạc quan của nhà vua sưu tập lại: Quốc là nước (đây là các nước chư hầu về đời nhà Chu); phong nghĩa đen là gió, ý nói các bài hát có thể gợi cảm con người như gió làm rung động các vật.

Quốc phong gồm có Chính phong và Biến phong. Chính phong phân làm 2 quyển Chu Nam và Thiệu Nam, gồm những bài hát từ trong cung điện nhà vua truyền ra khắp dân quân. Biến phong gồm những bài hát của 13 nước chư hầu khác.

Tiểu nhã gồm những bài hát dùng ở nơi triều đình, nhưng chỉ dùng trong những trường hợp thường như khi có yến tiệc.

Đại nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường hợp quan trọng như thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường.

Tụng nghĩa là khen, gồm những bài ngợi khen các vua đời trước và dùng để hát ở nơi miếu đường.

Các bài trong Kinh Thi thường viết theo thể thơ 4 chữ (thỉnh thoảng có câu 3 chữ hoặc 5 chữ). Cách kết cấu các bài làm theo ba thể: phú, tỉ, hứng.

Đọc Kinh Thi, ta biết được tính tình, phong tục của người dân và chính trị các đời vua cùng các nước chư hầu ở nước Tàu về đời thượng cổ. Đọc Mân phong, ta biết được tính đức cần kiệm người dân đất Mân. Đọc Vệ phong, ta biết được thói dâm bôn của người dân nước Vệ. Đọc Tần phong, ta biết được sự hối quá của người dân nước Tần. Đọc Đại nhã, Tiểu nhã, ta biết được chính trị của nhà Chu thịnh suy thế nào.

Kinh Thi là một nguồn thi hứng: các thi sĩ thường mượn đề mục. Kinh Thi còn là một kho điển tích. Các nhà làm văn thường lấy điển hoặc lấy chữ ở đây. Cũng như ca dao của Việt Nam, Kinh Thi là nền tảng thơ tối cổ của Trung Hoa. Trong đó có nhiều bài mô tả tính tình, phong tục dân Tàu một cách chất phác, hồn nhiên.

2/ Thư (nghĩa đen là ghi chép), do đức Khổng Tử sưu tập. Kinh này chép những điển (phép tắc), mô (mưu mẹo, kế sách), huấn (lời dạy dỗ), cáo (lời truyền bảo), thệ (lời răn bảo tướng sĩ), mệnh (mạng lịnh) của các vua tôi bên Trung Hoa từ đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu (từ năm 2357 đến năm 771 trước D.L.)

3/ Dịch (nghĩa đen là thay đổi) là bộ sách tượng số dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hóa của trời đất và sự hành động của muôn vật. Nguyên vua Phục Hi (4480-4365 trước D.L.) đặt ra bát quái (tám quẻ, tức là 8 hình vẽ); tám quẻ ấy lại đặt lần lượt chồng lên nhau thành ra 64 trùng quái (quẻ kép). Mỗi trùng quái có 6 nét vạch (hoặc vạch liền biểu thị lẽ "dương", hoặc vạch đứt biểu thị lẽ "âm") gọi là hào, thành ra 384 hào. Đức Khổng Tử nhân đó mà giải nghĩa các quái, các trùng quái và các hào.

4/ Lễ Ký (chép về lễ) là sách chép các nghi lễ trong gia đình, hương đảng và triều đình. Hiện Kinh Lễ (Lễ Ký) còn truyền lại đến giờ phần nhiều là văn của Hán nho, chớ chính văn do đức Khổng Tử san định về đời Xuân Thu không còn mấy.

5/ Xuân Thu (mùa xuân và mùa thu) nguyên là sử ký nước Lỗ, do đức Khổng Tử san định lại, chép công việc theo lối biên niên từ năm đầu đời Lỗ Ẩn công đến năm thứ 15 đời Lỗ Ai công (từ năm 722 đến năm 481 trước D.L.). Kinh Xuân Thu cũng gọi là Kinh Lân, vì đức Khổng Tử chép lúc nước Lỗ săn được con lân què thì ngài dừng bút. (Loan rằng: "Sữ Mã kinh Lân" - cụ Nguyễn Đình Chiểu).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:46 am

Lợn người


"Lợn người" do chữ "nhân trệ" của Lữ hậu, vợ vua Hán Cao Tổ Lưu Bang đời Tây Hán.

Lữ hậu tên Lữ Trĩ lấy Lưu Bang lúc còn hàn vi. Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán phong Lữ Trĩ làm hoàng hậu. Nhà vua có người hậu phi tên Thích Cơ trẻ đẹp nên rất sủng ái. Một hôm, vua vào cung Thích Cơ bày yến tiệc. Uống say, vua nằm trên vế Thích Cơ ngủ vùi. Lữ hậu cho người dọ biết nên lên kiệu đi thẳng lại cung Thích Cơ. Kẻ tả hữu chạy vào phi báo, nhưng vì nhà vua nằm trên vế ngủ, nên Thích Cơ chẳng dám động, đành phải ngồi yên.

Lữ hậu bước vào thấy thế máu ghen càng sôi lên:

- Loài tiện tỳ thường vô lễ, nay ta vào cung của mi, sao mi dám ngồi trên cao, không đứng dậy là đạo lý chi vậy?

Thích Cơ sợ sệt thưa:

- Tôi thấy nương nương đến, há chẳng tiếp nghinh. Vì chúa thượng ngủ đương ngon giấc, tôi chẳng dám động nên mới thất lễ, xin nương nương tha tội.

Lữ hậu nghiến răng, mắng:

- Loài tiện tỳ, cứ lấy vua làm nể, chừng người có muôn tuổi rồi, ta sẽ nghiền mi nát ra tro cho mi coi.
Đoạn Lữ hậu quày quả bỏ đi.

Sau khi Hán Cao Tổ chết, Thích Cơ không người bảo bọc, ủng hộ nên Lữ hậu thừa dịp trả thù. Lữ truyền bắt Thích Cơ cùng một số cung nhân trước kia theo Thích Cơ, được nhà vua sủng ái đem ra hành hình một cách bi thảm rùng rợn. Lữ bắt họ phải uống thuốc câm, rồi chặt tay chân, khoét mắt, cắt tai, giam vào chuồng xí dơ bẩn. Họ đau đớn quá nhưng bị câm, không thốt ra tiếng người được nữa, chỉ tru lên những tiếng ú ớ u ơ rất thê thảm. Lữ hậu lại bắt mọi người gọi những nạn nhân ấy là lũ "nhân trệ" (lợn người).

Đời Tam Quốc, Lưu phu nhân là vợ của Viên Thiệu chúa chư hầu đất Hà Bắc... thấy 5 nàng hầu diễm lệ được chồng sủng ái thì phát ghen. Sau khi Thiệu chết, Lưu bắt 5 nàng ra giết chết cả. Lại sợ âm hồn các nàng về chín suối được tái ngộ với chồng, mụ còn sai người cạo tóc, vạt mặt, khoét mắt và băm vằm năm cái thây ma ấy ra như tương. Con mụ là Viên Thượng sợ có kẻ oán mà mưu hại, bèn sai bắt hết thân nhân gia thuộc của năm nàng này đem giết hết.

Sư tử Hà Đông trả thù thật khiếp. Máu ghen lạ đời và tàn ác đến thế là cùng.

Đọc "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, diễn tả Hoạn Thư tuy ghen mà còn khá. Nàng Hoạn Thư ghen sâu sắc tế nhị chớ không tàn bạo như Lữ hậu, Lưu... hay những mụ tạt át xít vào mặt tình địch như thời nguyên tử.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:51 am

Tây Thi, Trịnh Đán


Tây Thi là một giai nhân tuyệt sắc ở nước Việt đời Chiến Quốc, có tiếng là "Lạc nhạn" trong "tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa.

Nàng xuất thân một gia đình nghèo, cha đốn củi, nàng dệt vải ở Trữ La Sơn. Trữ La có hai thôn: Đông thôn và Tây thôn, phần nhiều là họ Thi. Vì nàng ở về Tây thôn nên gọi là Tây Thi. Ở đây lại có nàng Trịnh Đán, bạn láng giềng Tây Thi, cũng là một mỹ nữ sắc nước hương trời. Nhà ở gần sông, ngày nào hai nàng cũng cùng nhau ra đập sợi ở ven sông. Má hồng nước biếc, hai bóng lộn nhau, trông hai đóa phù dung của buổi bình minh tươi đẹp.

Vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, phải cùng vợ sang làm người tù chăn ngựa cho vua nước Ngộ Sau khi được thả về, lòng uất ức căm hờn mong rửa được nhục thù. Đại phu Văn Chủng hiến 7 kế phá Ngô. Một trong 7 kế là đem mỹ nữ sang dâng để làm mê hoặc vua Ngô. Câu Tiễn liền thực hành ngay. Trong vòng nửa năm, tuyển được hai ngàn mỹ nữ, lại chọn hai người đẹp nhứt là Tây Thi và Trịnh Đán. Câu Tiễn sai Tướng quốc Phạm Lãi đem 100 nén vàng đến thôn Trữ La rước hai nàng về, trang sức lộng lẫy, cho ngồi trong xe có màn phủ.

Người trong nước nghe tiếng mỹ nữ, ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau ra ngoài cõi đón. Đường xá chật ních những người. Phạm Lãi liền để hai nàng ở nhà quán xá rồi truyền dụ rằng: "Ai muốn xem mặt mỹ nhân phải nộp một đồng tiền". Chỉ trong một lúc mà tiền thu đầy quỹ. Hai nàng lên lầu, đứng tựa bao lơn, khác nào như tiên nga giáng hạ. Hai nàng lưu ở ngoài cõi ba ngày, tiền thu không xiết kể. Câu Tiễn cho hai nàng ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một lão nhạc sư đến dạy múa hát.

Ba năm qua, Tây Thi và Trịnh Đán cùng số mỹ nữ học múa hát đã được tinh xảo, Câu Tiễn liền truyền Phạm Lãi đem sang cống cho vua Ngô là Phù Sai. Phạm Lãi vào yết kiến, sụp lạy vua Ngô, tâu rằng:

- Đông hải tiện thần là Câu Tiễn cảm ơn đại vương, không thể đem thê thiếp đến hầu hạ ở bên cạnh được, vậy cố tìm khắp trong nước được hai mỹ nhân khéo nghề múa hát nên sai chúng tôi đem nộp vương cung để giữ việc quét rửa.

Phù Sai trông thấy hai nàng, cho là thần tiên mới giáng hạ, hồn phách mê mẩn, mắt nhìn đăm đăm một cách say sưa. Phù Sai rất lấy làm hài lòng nhận lấy mỹ nữ. Tây Thi và Trịnh Đán được Phù Sai yêu mến. Nhưng riêng Tây Thi vì có sắc đẹp lộng lẫy lại khéo chiều chuộng, có nghệ thuật làm người say đắm nên Ngô vương sủng ái hơn. Tây Thi được ở Cô Tô đài với Phù Sai. Nàng đi dạo nơi đâu cũng dùng đồ nghi vệ theo địa vị phi hậu. Trịnh Đán ở Ngô cung, ghen với Tây Thi uất ức không nói ra, được hơn một năm đau chết. Phù Sai thương lắm, đem chôn ở Hoàng Mao sơn và lập đền thờ cúng.

Phù Sai rất yêu Tây Thi, lập Quán Khuê cung ở Linh Nham sơn, trang trí toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra dạo, ngắm cảnh. Lại xây cất Hưởng Điệp lan, Ngoạn Hoa trì, xây giếng Ngô vương tỉnh... để cho Tây Thi đến ngắm hoa, thưởng trăng và soi bóng mình dưới làn nước trong. Phù Sai lại lập cầm đài để Tây Thi ngồi đàn để Phù Sai thưởng thức những cung đàn tuyệt diệu của nàng. Phù Sai lại cho đào một con sông con ở trong thành, từ nam sang bắc rồi làm một chiếc buồm gấm để nàng Tây Thi dong thuyền, gọi là Cẩm phàm hình. Và, còn rất nhiều nơi nữa, cứ mỗi lần nàng ngự đến là trở nên một di tích "lịch sử" mà Phù Sai sắp đặt kiến trúc cho.

Phù Sai từ khi được Tây Thi cứ ở luôn trên Cô Tô đài, bốn mùa vui chơi, rượu chè đàn địch, chẳng thiết đến việc gì cả. Tây Thi, con người kiều diễm ấy, tuy có một thân hình mảnh mai như cành liễu yếu nhưng tiềm tàng một sức mạnh phi thường là quyết lật đổ cả một triều Ngô để đem lại sự chiến thắng vinh quang cho triều Việt. Hai bàn tay ngà ngọc xinh xắn của nàng, xưa kia là để quay tơ giặt lụa nhưng nay lại để bóp nát dần cả một nước Ngô có binh hùng tướng mạnh cho đến ngày tàn. Mắt nàng cau một cái là một cái đầu của viên thượng tướng bị rơi. Môi nàng cười một nét là kho nhà Ngô vơi đi bạc vàng, châu báu... Ngũ Viên, một vị Tướng quốc kiên trung, đa mưu, túc trí, đầy tài dũng lược của triều Ngô vì nàng mà chết dưới thanh kiếm Trúc Lâu của Ngô vương.

Nước Ngô ngày càng suy yếu. Nước Việt thừa thế tấn công. Ngô bại trận. Ngô vương Phù Sai tự tử.
Tây Thi làm tròn sứ mạng của một người nhi nữ quần vận yếm đối với tổ quốc, nàng mong được trở lại quê nhà thăm cha ở Trữ La thôn, nhưng vương phi Câu Tiễn sợ rằng chồng sẽ say đắm sắc đẹp của nàng, nên mật sai người bắt Tây Thi neo đá quăng xuống dòng nước Tam Giang. Thật là mụ đàn bà ghen đanh ác.

Cái chết của Tây Thi nói trên là theo chính sử.

Có truyện chép: Phạm Lãi yêu nàng Tây Thi nhưng thấy Việt vương Câu Tiễn muốn lấy Tây Thi, nên ghen mới bày mẹo cho mụ vợ Câu Tiễn giết thác nàng. Có truyện lại chép: Phạm Lãi trước đã cùng Tây Thi yêu nhau, nên trong trận tấn công nước Ngô, đốt phá Cô Tô đài, Phạm Lãi đón rước Tây Thi xuống thuyền, rồi cả hai bỏ nước đi du Ngũ hồ cho trọn tình chung thủy. Truyện sau này thấy chép trong "Tình sử". Có lẽ những nhà tiểu thuyết diễm tình giàu cảm, giàu tưởng tượng và cũng giàu lòng nhân đạo, thấy đôi trai tài gái sắc, nhứt là đối với Tây Thi, một bực sắc nước hương trời lại có công to với nước mà bị chết một cánh oan uổng, bi thảm như thế nên quá xúc cảm, viết thành câu chuyện kia để an ủi oan hồn của người đẹp chăng?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 10:57 am

Nữ Trượng Phu


Đời Tam Quốc, em trai của Ngô chúa Tôn Quyền là Tôn Dực làm Thái thú quận Đan Dương. Dực vốn tính cương cường, nóng nảy lại hay rượu. Viên đốc tướng Đan Dương là Qui Lãm cùng viên quận thừa là Đái Viên thường có ý mưu sát Dực. Hai tên mới kết thông với kẻ tùy tùng của Dực là Biên Hồng. Thế là cả ba mưu giết Dực.

Một hôm, các tướng cùng các vị huyện lịnh về hội họp đông đủ tại Đan Dương. Tôn Dực cho bày yến tiệc thiết đãi. Vợ của Dực là Từ thị có sắc đẹp lại thông minh, rất giỏi khoa bói Dịch. Bấy giờ nàng bói thử một quẻ thấy "tượng" rất xấu, mới khuyên chồng chớ ra tiếp khách. Nhưng Dực không nghe, cứ cùng các quan ra công đường, chủ tọa buổi tiệc. Đến chiều tiệc tan, Biên Hồng ngầm giấu dao trong mình, theo chân Dực ra cửa, rồi bất thình lình rút dao đâm Dực chết ngay. Qui Lãm và Đái Viên bèn đổ tội cho Biên Hồng, lôi ra giữa chợ chém đầu. Rồi hai tên thừa thế đoạt lấy của cải và thị thiếp của Dực. Qui Lãm thấy Từ thị nhan sắc diễm lệ, động lòng dục vọng, bèn bảo nàng:

- Ta đã báo thù cho chồng nàng, vậy nàng hãy về ở với ta. Nếu không nghe thì có toàn mạng.

Từ thị nói:

- Chồng thiếp vừa mới chết, chưa tiện theo tướng quân ngay. Xin đợi đến tối 30 này, thiếp cúng "trừ phục" xong, rồi chúng ta thành thân cũng chẳng muộn.

Qui Lãm nghe nói, sung sướng ưng lời lui ra chờ đợi. Từ thị bèn bí mật triệu hai viên tướng tâm phúc của Dực là Tôn Cao và Phó Anh vào phủ, khóc và nói:

- Khi tiên phu còn sống, vẫn thường khen hai ông trung nghĩa. Nay hai tên giặc Đái, Qui mưu sát chủ, rồi đổ tội cho một mình Biên Hồng và đem hết gia tư, tôi tớ nhà tôi ra chia nhau. Qui Lãm lại cưỡng bức, đòi hại cả đời tôi nữa. Tôi phải giả tảng ưng lời cho yên lòng nó. Nay hai tướng quân nên sai người đi gấp về báo Ngô hầu. Một mặt hãy bày mật kế trừ hai tên giặc ấy để rửa thù nhục này, thì người chết được ngậm cười mà kẻ sống đội ơn muôn phần.

Đoạn, nàng cúi xuống lạy hai lạy. Tôn Cao, Phó Anh cũng khóc, nói:

- Hai chúng tôi đã đội ơn tri ngộ của Phủ quân nay Phủ quân bị hại, mà chúng chưa thể chết theo là còn muốn lập kế báo thù cho chủ. Giờ phu nhân sai khiến, chúng tôi há dám không hết sức?

Đến đêm 30, Từ thị bí mật cho hai tướng Tôn, Phó vào phục sẵn trong màn the nơi phòng kín. Đoạn bày lễ cúng tế ngoài nhà thờ. Tế chồng xong, nàng trút bỏ hết đồ tang phục, tắm gội nước hương, trang điểm thật lộng lẫy, cười nói tươi vui. Qui Lãm nghe tin, sung sướng như mở cờ trong bụng. Đến đêm, Từ thị cho con hầu ra mời Lãm vào phủ, bày tiệc giữa nhà, chuốc rượu. Người đẹp, rượu ngon, những lời chuốc mời ngọt dịu, những cái liếc hữu tình, những nụ cười tươi tắn say đắm làm cho Lãm ngây người tưởng mình đã lạc vào bồng lai ... nên mặc sức cứ uống.

Khi Lãm đã say, nàng mới mời vào buồng the. Lãm sung sướng mê mẩn. Chắc hẳn phen này bên cạnh giai nhân mặc đi mây về gió, cảm thấy đời sắp lên hương, nên Lãm chuếnh choáng theo vào. Bỗng Từ thị kêu lên:

- Tôn, Phó, hai tướng quân đâu?

Tức thì hai tướng từ sau màn cầm dao nhảy ra. Lãm trở tay không kịp, bị Phó Anh chém một đao lăn ngã xuống. Tôn Cao bồi thêm một đao nữa, chết không kịp la. Đoạn, Từ thị lại mời Đái Viên đến dự tiệc. Viên không nghi ngại, lòng lại thấy hớn hở, biết đâu mình may phúc được mắt xanh để ý. Nhưng khi vừa hăng hái bước vào phủ, óc còn đương toan tính những lời nói sao cho có duyên dáng và mơ tưởng những chuyện lông bông thì Tôn, Phó xông ra mỗi người phạt cho một đao, chết không kịp dãy.

Hạ được chúng, Tôn Cao và Phó Anh sai quân đi bắt cả gia thuộc già trẻ cùng dư đảng của hai tên Lãm, Viên rồi giết chết cả.

Thù chồng đã trả, Từ thị lại mặc đồ tang phục, đem thủ cấp Đái Viên, Qui Lãm đặt trước bàn thờ Tôn Dực mà tế.

Khắp Giang Đông, ai cũng khen tài đức tiết liệt của Từ thị. Người sau có làm bài thơ khen:

Tài đức gồm hai tuyết giá trong,
Tru di nghịch tặc rửa hờn chồng.
Tôi hèn bó gối, tôi trung chết,
Thua hẳn Đông Ngô một má hồng.


(Bản dịch của Tử Vi Lang)

Nguyên văn:

Tài tiết song toàn thế sở vô,
Gian hồi nhất đán thụ thôi từ.
Dung thần tòng tặc, trung thần tử
Bất cập Đông Ngô nữ trượng phu!


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 11:00 am

Hát quan họ


Đặc biệt ở tỉnh Bắc Ninh miền Trung du Bắc Việt có loại dân ca trữ tình gọi là "Hát quan họ".

Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu, về sắc đẹp duyên dáng và tình tứ của phụ nữ, về thông minh hay chữ và thành đạt của danh thần, văn sĩ.

Cũng như hầu hết các loại dân ca trữ tình ở Việt Nam, hát Quan họ vay mượn nhiều ở phong dao. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát hay lục bát biến thể. Đó là những bài tình ca do nam nữ thanh niên Bắc Ninh hát lên để ca tụng tình yêu, nói lên những oán trách, hờn ghen và giận tủi về yêu đương hoặc biểu lộ những tâm tình sôi sục về yêu đương.

Tính chất trữ tình của các điệu hát ấy có thể chia thành nhiều loại. Loại bài có tính chất nhẹ nhàng, chân thật vui tươi, cởi mở, hoạt bát, thoải mái. Có loại bài có tính chất bày tỏ, tin tưởng, lạc quan, yêu đời, trìu mến. Có loại bài tình tứ, duyên dáng, thắm thiết, say sưa. Có loại mang tính chất vui tươi nửa trào phúng, nửa tình tứ một cách ý nhị. Có loại đượm nỗi nhớ nhung, trách móc. Trong các bài Quan họ, nhiều nhứt là những bài để tỏ tình. Rất ít bài nói lên sự thất tình. Nhưng trong sự tỏ tình có nhiều hình thức: khi thổ lộ tâm tình, khi thăm dò lòng bạn, khi hy vọng, mong mỏi nhớ nhung người tình, khi trách hờn giận, ghen tuông người tình; nhưng rốt cuộc những câu thổ lộ tâm sự cùng là để thăm dò tình bạn là nhiều hơn cả. Ví dụ:

Anh như cây gỗ xoan đào,
Em như câu đối dán vào nên chăng?
Em như cây cảnh trên chùa,
Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng?


Văn thể của hát Quan họ tuy là lối lục bát, nhưng khi hát, vì những chỗ lên bổng xuống trầm, vì những nhu cầu của sự chuyển giọng, chuyển lời nên loại dân ca này có mang vài đặc tính là bài hát bao giờ cũng có thêm vào nhiều tiếng không có trong nguyên văn. Đó là những tiếng vô nghĩa, hoặc những chữ hát chệch hẳn đi, hoặc những tiếng dùng để đưa hơi như: y, a, ư, ô, ơ, a ha, ôi hôi, ư hư, ối a, ý a, này a, i ì ... hoặc những tiếng đệm (đệm lót và đệm nghĩa) như: thời, mà, tình chung, ô mấy, ai ơi, là rằng, tình rằng, tình tang, tình bằng... Nhờ những tiếng đệm, tiếng láy lập lại như thế mà và nhất nhịp điệu tiết tấu của câu thơ lục bát được thay đổi luôn, trở nên phong phú vô cùng.

Ví dụ phong dào có bài "Trống cơm":

Trống cơm khéo vỗ nên bông,
Một bầy con nít lội sông đi tìm.
Thương ai con mắt lim dim,
Một bầy con nhện giăng tơ đi tìm,
Thương ai duyên nợ tang bồng.


Khi trở thành hát Quan họ Bắc Ninh là:

1/ (Tình bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông.
2/ Một bầy (tang tình) con nít (ố mấy lội lội) lội sông (ố mấy) đi tìm.
3/ (Em nhớ) thương ai (đôi) con mắt (ố mấy) lim dim,
4/ Một bầy (tang tình) con nhện (ớ ớ ớ ố mấy) giăng tơ (giăng tơ ố mấy) đi tìm.
5/ (Em nhớ) thương ai duyên nợ (khách) tang bồng.


Đó là chưa kể những chỗ hát lại hai lần như ở phần đầu câu 2 và ở phần cuối những câu 1, 2, 3, 5.
Ngoài những tiếng đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy, có khi trong bài hát có cả những tiếng dùng để ghi hệ thống âm giai của cổ nhạc là hò, xự, xàng, xê, cống,... Ví dụ trong bài "Xe chỉ luồn kim":

May quần (tình chung là vuông) nhiễu tím (í a, í a).
Gởi ra (gởi ra chồng) cho chồng.
Ứ xáng, ú xáng u cái liu xê phàn
(thời cái nỗi gởi ra cho chồng)


Ngày xưa, trai gái vùng Bắc Ninh có thể hát Quan họ quanh năm. Mỗi khi có dịp lễ là họ mời nhau đến hát. Cả đến khi không có việc gì, họ cũng rủ nhau đến một làng nào đó trong vùng để cùng nhau vui hát. Chỉ cốt là trước khi đến, họ bảo cho nhau biết trước để có thì giờ gọi người. Nhưng hát Quan họ đặc biệt thịnh hành vào mùa thu tháng 8 và nhất là vào tiết xuân trong ba tháng: giêng, hai, ba ...

Dịp hát quan trọng nhứt là những dịp đám cưới, đám khao, đám giỗ, đám hội.

Hát Quan họ là lối hát không dính dáng đến lao động, trái với nhiều loại dân ca khác như hò, hát ví, vì thế không hát ở ngoài đồng trong khi làm lụng. Có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ khao; hay sau khi hát ở hội đình, hội chùa rồi mời nhau về nhà. Tại nhà có khi gái ngồi trong nhà hát ra, và trai ngồi trên bờ hát vọng xuống. Có k hi họ cùng ngồi trong thuyền thúng trên mặt hồ để vui hát trong một đêm hè hay một chiều thu.

Tại hội đình, trai gái hát trước bàn thờ Thanh hoàng. Lắm khi các bài hát, lúc đầu chỉ có tính chất tôn giáo một ít, còn về sau đều có tính chất tình tứ. Tại hội chùa, họ hát ở trước cửa chùa, giữa sân chùa, có khi cả ở trong chùa. Nhưng thường hát ở các sườn đồi hay giữa các đám ruộng, hoặc trên những bờ đê bên cạnh chùa.

Hát chia làm từng bọn. Mỗi bọn, trai hay gái, phải có ít nhứt bốn người để thay phiên nhau hát, vì hát rất hao hơi. Quan họ phải hát giọng đôi, nghĩa là hai người cùng hát một lúc, một người "dẫn" (chính) và một người "luồn" (phụ). Mỗi bọn quan họ có một người đứng đầu đại diện, được cả bọn tôn làm anh Hai hay chị Hai. Những người khác cứ theo thứ tự hát hay, hát kém mà lấy tên là anh Ba, anh Tư, anh Năm hay chị Ba, chị Tư, chị Năm. Chỉ cần bốn người hát được, còn bao nhiêu dự vào cho đông cũng không sao.

Khi hai bên hát với nhau, bên hát trước hát giọng nào thì bên hát sau phải theo giọng ấy để trả lời và phải theo cho đúng; không được bỏ một tí ngân nga. Như thế mới là đối chọi. Không đối được là tỏ cái kém cỏi của mình.

Trai gái hát Quan họ không phải sống về nghề hát, không thể gọi là những người hát chuyên nghiệp. Nhưng không phải bất cứ ai ai cũng có thể hát được Quan họ. Muốn hát Quan họ phải có nhiều điều kiện, phải có giọng tốt, phải chịu khó luyện tập, phải có trí nhớ và ít nhiều thông minh, nghĩa là có ít nhiều tài đối đáp, biết bình tĩnh để trả lời người đối diện, không những trong ý câu hát mà nhứt là trong giọng bài hát.

Tình bạn hữu, tình anh chị em giữa những người cùng chung "gia đình" Quan họ thật thân thiết. Họ coi cha mẹ của nhau như cha mẹ của mình. Những dịp hiếu, hỷ, buồn vui, họ đều đến thăm hỏi, biếu tặng. Cha mẹ bạn có yếu đau, họ tìm đến săn sóc an ủi.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 11:13 am

Điêu Thuyền với kế liên hoàn


Điêu Thuyền là một giai nhân tuyệt sắc đời mạt Hán. Cũng như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Ngọc Hoàn, Điêu Thuyền có tiếng là "bế nguyệt" trong "tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa.

Nàng bị loạn Đổng Trác, gia cảnh tan tành, cha mẹ bị giết chết mất cả, nàng phải phiêu bạt lênh đênh, xin vào làm người ở cho quan Tư đồ Vương Doãn. Thấy nàng đẹp, có tài hát hay đàn giỏi nên Vương Doãn nhận làm con nuôi.

Đổng Trác trước làm thứ sử đất Tây Lương. Khi dẹp giặc Hoàng Cân (giặc khăn vàng, bịt khăn vàng làm biểu hiệu) bị thua nhiều trận, triều đình muốn làm tội. Đổng Trác lo sợ đem của hối lộ cho bọn hoạn quan là Thập Thường thị nên mới thoát khỏi. Hắn lại khéo léo kết giao với các nhà quyền quý, thường đem lễ vật làm nhân tình, do đó nên được thăng chức cao và thống lãnh đại binh xứ Hiệp Tây hơn 20 vạn. Lòng tham không đáy hắn thấy cần phải trèo lên ngai vàng mới thỏa chí nguyện nên rắp tâm chờ đợi thời cơ cử đồ đại sự.

Nhân dịp triều đình bị loạn Thập Thường thị, hắn lấy cớ bảo giá kéo quân về triều. Hắn chuyên quyền, khống chế các quan giết cả vua Thiếu Đế, Hà Hậu và Đường Phi. Hắn vào cung gian dâm cùng cung nữ rồi ngủ luôn tại long sàn. Có lần hắn dẫn lính đi dạo đồn tại một địa phương, gặp tiết tháng hai có mở hội, trai gái các xã thôn tụ họp vui chơi. Hắn sai quân sĩ bổ vòng vây, giết hết đàn ông con trai, bắt hết phụ nữ và lấy hết của cải chở lên xe, treo hơn ngàn đầu người ở dưới xe đem về thành, phao lên rằng: "Tướng quốc đánh giặc, đại thắng trở về".

Đổng Trác lại có một đứa con nuôi tên Lữ Bố, sức đánh trăm người, nên Trác càng kiêu ngạo, hống hách coi mạng người như cỏ rác. Các quan trong triều có ai biểu lộ sự phẫn nộ, chống đối thì lập tức, sau một tiếng quát, một cái vẩy ta của hắn là đầu lìa khỏi cổ. Trước sự tàn bạo của hắn, lòng dân căm phẫn, tất cả 17 trấn chư hầu nổi lên quyết tiêu diệt hắn, nhưng đều bị đứa con nuôi của hắn đánh bại.

Đại thắng, hắn càng kiêu căng. Và, càng thẳng tay giết chóc kinh khủng.

Quan tư đồ Vương Doãn nghĩ đến hành vi lộng quyền sát nhân của Trác, càng xốn xang phiền muộn, ngồi đứng không an. Nhân đêm khuya trăng sáng, Doãn chống gậy thơ thẩn ra vườn. Từng bước một, lão thỉnh thoảng ngửa mặt lên trời sa nước mắt.

Bỗng ở phía Mẫu Đơn đình có tiếng thở than. Doãn lấy làm lạ, lần bước đến lén nghe. Thì ra tiếng than đó là tiếng của Điêu Thuyền. Doãn tức giận hỏi:

- Thế mi có tư tình với ai chăng?

Điêu Thuyền thưa:

- Con đâu dám!

- Vậy tại sao đêm khuya canh vắng như thế này, mi lại còn ra đây than thở?

Điêu Thuyền buồn bã thưa:

- Con nhờ cha nuôi dưỡng từ tấm bé, dù cho thịt nát xương tan, con cũng đền bồi chưa đủ; lẽ nào con đành làm bại hoại gia phong để phải tủi nhục cho cha. Vì mấy hôm rày, con thấy cha vẻ mặt luôn luôn tư lự, thế tất trong nước có điều đại sự nhưng con không dám hỏi thăm. Đêm nay, con thấy cha buồn rầu thái quá, đến nỗi đứng ngồi không yên, con rất lấy làm khổ tâm nên lén thở than, không dè cha bắt gặp. Vậy con xin cha nếu có việc gì phải dùng đến con thì con nguyện dù thác cũng chẳng từ.

Vương Doãn nghe nói cả mừng, nói:

- Cha dè đâu sự nghiệp cơ đồ còn ở trong tay con trẻ.

Đoạn, lão bảo Điêu Thuyền theo lão lên nhà trên. Lão truyền cho bọn gia đinh đi ngủ cả, rồi bảo Điêu Thuyền:

- Con ngồi lên cho cha lạy rồi cha sẽ nói chuyện cho con nghe.

Điêu Thuyền kinh hãi quỳ xuống, thưa:

- Lòng con đã nhứt quyết, nếu cha còn lo ngại mà buông những lời như thế thì con rất đắc tội với cha!

Doãn buồn rầu bảo:

- Đổng Trác hiện nay dọc ngang tàn bạo, thêm có thằng rể tên Lý Nhu bày mưu hại chúng, và có thằng con nuôi tên Lữ Bố kiêu dũng khác thường; làm cho trên, thì triều đình khốn khổ như bị đá dằn, dưới thì bá tánh nguy nan như mắc dây treo ngược. Đổng Trác lại lòng toan soán vị mà các quan đều thúc thủ vô mưu, riêng cha cũng thế. Nhưng cha chỉ thấy có một điều này, nói ra rất ngại, không biết con có bằng lòng không?

Điêu Thuyền sa nước mắt:

- Cha không tin lòng con sao?

Doãn ngậm ngùi nói:

- Cha tin lòng con, nhưng ngại con không thực hành được. Nguyên cha con thằng Đổng Trác là phường háo sắc, bây giờ cha muốn dùng "liên hườn kế", trước đem con hứa tiếng gả cho Bố rồi sau lại hiến cho Trác. Con ở giữa tùy cơ ứng biến làm cho cha con nó trở lại giết hại nhau. Nếu mà làm được như vậy là con liều thân giúp nước, công nghiệp vô cùng to lớn.

Điêu Thuyền cúi đầu sa nước mắt, nghẹn ngào:

- Con xin vâng lời cha. Cha cứ tin tưởng nơi con.

Hôm sau, Vương Doãn đem hai hột minh châu, bảo thợ khéo khảm một cái mão vàng tuyệt đẹp, rồi sai người đem tặng cho Lữ Bố. Bố mừng rỡ liền qua dinh tạ ơn.

Vương Doãn rước Bố vào nhà, thỉnh lên ngồi trên. Lữ Bố không dám. Doãn ân cần nói:

- Ngày nay, cả trong thiên hạ chỉ có tướng quân mới đáng mặt anh hùng. Lão kính tài tướng quân chớ không phải kính chức phận.

Nghe nói, Bố vui lòng đẹp ý lắm.

Vương Doãn lại bày diên yến, khuyên mời Lữ Bố rất ân cần. Trong tiệc, Doãn không ngớt lời ca tụng oai thế cha, tài lực con làm cho Bố càng hứng chí, uống rượu thật nhiều. Độ một lúc Doãn truyền quân hầu đi nghỉ, chỉ để vài thị nữ ở lại châm rượu. Thấy Bố hơi men đã thắm, Doãn truyền thị nữ phò Điêu Thuyền ra.

Mặt hoa mơn mởn lại trang điểm vô cùng diễm lệ, mình liễu uyển chuyển lại y phục lộng lẫy huy hoàng, Bố vừa trông thấy giựt nảy mình, tưởng là tiên nữ hạ phàm, nhìn không chớp mắt. Doãn tươi cười giới thiệu:

- Con gái lão là Điêu Thuyền. Nay lão với tướng quân cũng như tình nghĩa một nhà, nên cho nó ra chào mừng tướng quân và thay mặt lão mà bồi rượu. Kẻo lão già yếu e có điều sơ xuất.

Đoạn bảo Điêu Thuyền đến bên Lữ Bố mời rượu. Nàng uốn tay ngọc nâng ly rượu ghé lại mời, rồi đôi mắt long lanh nhìn thẳng vào đôi mắt chàng. Bốn mắt đưa lên rồi hai cặp mày lại rủ xuống, rồi lại nhìn nhau nữa, khiến cho kẻ ngẩn ngơ người ngơ ngẩn.

Vương Doãn giả say.

Lữ Bố mời Điêu Thuyền ngồi. Điêu Thuyền tỏ vẻ e lệ ngần ngừ rồi muốn bỏ vào trong. Doãn vui vẻ bảo:

- Tướng quân đây vốn người thiết nghĩa với cha. Con cứ ngồi, không phải ngại.

Nàng vâng lời rón rén ngồi bên cạnh Vương Doãn.

Bấy giờ, Bố cứ ngồi ngây người ra như tượng gỗ. Hai mắt đăm đăm nhìn nàng không rời, y như bị thu hồn. Rồi đưa tay lên miệng như cái máy mà uống cạn luôn mấy ly rượu nữa.

Doãn rất đắc ý, nói:

- Lão muốn đưa con gái lão sang làm tiểu thiếp tướng quân để hầu hạ trang anh hùng duy nhứt thời nay. Chẳng hay tướng quân có lòng thương yêu dung nạp chăng?

Lữ Bố vội đứng ngay dậy, chắp tay, cúi đầu tạ rằng:

- Nếu Tư đồ thương cho được thế, tiểu tướng thề đem hết sức khuyển mã báo đáp ân tình.

Doãn nói với giọng cương quyết:

- Vậy nay mai lão chọn được giờ tốt thì sẽ cho người đưa tiện nữ ngay sang quý phủ.

Bố mừng rỡ khôn xiết, hân hoan đưa mắt nhìn Điêu Thuyền. Nàng cũng đảo đôi mắt long lanh, như sóng nước hồ thu đưa tình... tiếp theo một nụ cười nở nhẹ trên làn môi thắm.

Tiệc tan, Bố quyến luyến không muốn đứng dậy. Doãn nhỏ nhẹ bảo:

- Ý lão muốn lưu tướng quân nghỉ lại đây một đêm nhưng sợ Thái sư nghi hoặc đấy thôi.

Bố dùng dằng lưu luyến mãi nhưng rồi sau hai ba lần tạ ơn Vương Doãn, chàng mới đành ra về, thần trí vẫn mơ màng đến con người đẹp và mong mỏi, đợi chờ...

Vương Doãn lại kính cẩn mời Đổng Trác đến nhà. Trác bằng lòng đến. Doãn tiếp rước trọng thể và bày yến tiệc. Doãn luôn miệng ca tụng:

- Thái sư là cành vàng lá ngọc, phước lộc song toàn, không nhường Y Doãn, Chu Công đời trước.

Trác lấy làm đắc ý. Doãn lại nói:

- Tôi có học chút thiên văn biết chắc vận số Hán triều đã hết, bốn phương thiên hạ đều nghe tiếng Thái sư. Căn cứ vào ý trời và lòng người chắc không bao lâu, thiên tử cũng nhượng vị cho Thái sư chớ chẳng không.

Trác rất khoái trá, nâng ly rượu, cười khà khà:

- Ta đâu dám trông chuyện ấy. Nếu may gặp hoặc thời vậy có đến cho ta, thì ta hứa với Tư đồ là sẽ phong cho Tư đồ làm cống mạng đại thần.

Doãn tỏ vẻ mừng rỡ vâng vâng dạ dạ rồi lại truyền cho nữ nhạc dâng ca múa hát cho Đổng Trác xem.

Bấy giờ đuốc hoa càng đốt lên sáng rực cả nhà.

Rèm châu vừa cuốn lên, thì Điêu Thuyền nhè nhẹ gót hài bước ra, xiêm y thướt tha, mình liễu uyển chuyển múa trước rèm châu như tiên nữ nhập động.

Trác nhìn đắm đuối đờ đẫn như kẻ mất hồn. Điêu Thuyền lại hát. Nàng vừa cầm phách gõ nhịp cất giọng ca. Giọng trong như oanh kêu, cao như hạc gọi, khi trầm khi bổng thánh thót như rót vào tai, mà huyền huyền ảo ảo làm mê hồn tục khách. Trác tặc lưỡi, nức nở khen mãi. Sắc đẹp, hát hay, vũ giỏi, thật là không phải một kẻ phàm tục. Doãn giới thiệu với Trác: nàng là con nuôi. Trác lại hỏi tuổi. Nàng thỏ thẻ:

- Thiếp vừa đôi tám.

Trác nức nở khen:

- Trông qua, ta ngỡ là tiên.

Doãn đứng dậy thưa:

- Ý tôi muốn dâng nó cho Thái sư, không biết Thái sư có bằng lòng dung nạp không?

Trác gật gù, khoan khoái lập bập nói:

- Tư đồ hậu tình thương ta, thật ta không biết lấy chi tạ đáp cho xứng.

Doãn khiêm nhượng nói:

- Con tôi được hầu gần Thái sư là có nhiều phước lắm. Tôi còn mong ước gì hơn nữa.

Tiệc rượu xong, Đổng Trác từ giã về. Doãn cho người đem xe đưa Điêu Thuyền theo Đổng Trác về tướng phủ.

Bấy giờ vừa lúc canh một. Sau khi đưa Điêu Thuyền về Tướng phủ, Vương Doãn quày ngựa trở về. Vừa đến nửa đường, bỗng gặp Lữ Bố cầm kích cưỡi ngựa đi đến. Bố gò cương lại, đưa tay nắm lấy áo Doãn, gay gắt hỏi:

- Ngài bày trò chi lắm vậy! Tại sao ngài đã hứa hả con cho tôi mà còn đem cho Thái sư?

Vương Doãn điềm nhiên đáp:

- Tướng quân chớ nóng nảy, xin mời về một thể rồi lão sẽ tường trình cho tướng quân nghe.

Đến nhà Doãn hỏi:

- Tướng quân cớ gì trách lão?

- Người ta cho biết là ngài cho xe đưa Điêu Thuyền qua Tướng phủ.

Doãn tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Thế tướng quân không hay gì sao? Nguyên hôm nọ, Thái sư ở triều đường có nói với lão là sẽ đến viếng nhà lão. Do đó, lão phải sửa soạn tiếp rước. Trong khi tiệc rượu, người dạy lão rằng: "Ta nghe ngươi có một đứa con gái là Điêu Thuyền đã hứa gả cho con ta, sợ ngươi nói không chắc nên ta phải đến đây mà cầu. Vậy ngươi bảo nó ra đây cho ta xem". Lúc ấy lão không dám nghịch mạng lập tức đem nó ra mừng cha chồng. Người lại bảo lão rằng: "Nay cũng nhằm ngày tốt, vậy để ta ra rước nó về phối hợp cùng Lữ Bố". Lịnh của Thái sư, lão đâu dám cải. Xin tướng quân xét lại.

Bố suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Tại tôi nghe lầm, xin ngài miễn chấp.

Vương Doãn nói:

- Đồ tư trang của con lão đem theo chưa hết. Khi nào đưa nó về dinh tướng quân rồi, lão sẽ sai người đem qua cho nó.

Bố tin thực lòng, mừng khấp khởi, đợi chờ...

Nhưng...

Đợi chờ trông ngóng mãi từng giờ, từng phút, từng giây, nhưng nào thấy bóng hồng được ai đưa đến. Lữ Bố lòng xốn xang nên lần mò qua Tướng phủ hỏi thăm mấy người thị nữ. Chúng đáp:

- Quan Thái sư còn ngủ với tân giai nhân đến bây giờ chưa thức.

Bố chết điếng cả người.

Vừa đau đớn vừa tức giận, Bố lén vô cửa sau phòng nom xem. Vừa lúc ấy Điêu Thuyền đã thức, đứng trước gương trải tóc, thấy Bố thì quay ra nhìn, mặt mày buồn nghiến. Nàng đưa khăn chậm mắt.

Lữ Bố ruột lòng đứt đoạn.

Đổng Trác thức dậy nhìn qua nhà giữa thấy Lữ Bố bước vào thì hỏi:

- Có việc chi không?

Bố đáp "không" rồi vòng tay đứng hầu. Thấy Điêu Thuyền đứng thập thò bên bức rèm châu ở cửa phòng, nhìn chàng đăm đăm, vẻ mặt đầy đau đớn tủi cực thì lòng Lữ Bố càng tan nát. Trông người Lữ Bố đờ đẫn như kẻ mất hồn, Đổng Trác sinh nghi nên truyền cho Lữ Bố lui đi nghỉ. Bố trong lòng ấm ức, tiu nghỉu bước ra về.

Từ khi nạp dụng Điêu Thuyền, hơn một tháng, Đổng Trác không ra khách. Một hôm lão cảm thương hàn. Điêu Thuyền tận tụy chầu chực, thuốc men, cơm cháo. Trác lấy làm vui lòng lắm. Bố nghe tin vào phòng vấn an. Vừa lúc Đổng Trác còn ngủ, Điêu Thuyền đứng sau giường nhìn Lữ Bố, lấy ta chỉ lòng mình rồi lại chỉ Đổng Trác và hai hàng lệ chảy ròng trên má.

Bố đau đớn vô cùng.

Đổng Trác vừa giựt mình thức giấc, mở mắt thấy Lữ Bố đứng nhìn sau giường mãi thì nổi giận trở mình qua, lại thấy Điêu Thuyền, nên nạt Lữ Bố:

- Sao mi dám giễu cợt ái cơ ta?

Lão lại truyền đuổi Bố ra. Lại cấm Bố không được bén mảng đến nữa. Bố gặp Lý Nhu, tỏ bày tự sự, Nhu vào bẩm với Trác:

- Thái sư muốn tung hoành thiên hạ sao lại lấy chút hờn nhỏ quở trách Ôn Hầu, nếu va biến tâm ắt hư đại sự.

Trác hỏi:

- Bây giờ liệu làm sao?

Nhu nói:

- Thái sư cho kêu va vào ban thưởng bạc vàng và lấy lời an ủi.

Trác nghe theo. Bố tạ ơn nhưng lòng tan nát của Bố làm sao hàn gắn được.

Đổng Trác lành bịnh, xe giá vào chầu vua. Bố cầm kích theo hầu. Thấy Trác đương nói chuyện với vua, Lữ Bố lén cầm kích lên ngựa chạy phăng về Tướng phủ, vào kiếm Điêu Thuyền. Điêu Thuyền tỏ vẻ vui tươi nói:

- Lang quân ra sau vườn đến Phụng Nghi đình mà chờ thiếp.

Điêu Thuyền trang điểm xong, vội vàng bước ra sau, chấp tay bái Lữ Bố mà rưng rưng nước mắt, nói:

- Thiếp tuy là con nuôi của quan Tư đồ song người coi như con đẻ. Người gả thiếp cho lang quân là chọn chỗ xứng đáng cho thiếp trao thân gởi phận. Mừng chưa kịp no, không dè Thái sư lòng trâu dạ chó, bắt thiếp cưỡng bức như thế này. Sở dĩ thiếp chưa chịu chết vì chưa gặp mặt chồng. Nghĩ lại thiếp ngày nay chẳng khác hoa tàn nhụy rữa còn phụng sự anh hùng sao đặng. Vậy thiếp xin tự tử trước mặt lang quân để lang quân hiểu rõ nỗi lòng của thiếp.

Nói xong, Điêu Thuyền nhắm ngay ao sen toan nhảy xuống. Lữ Bố lật đật ôm lại, cảm động nói:

- Ta biết rõ lòng nàng lắm rồi.

Điêu Thuyền níu lấy Lữ Bố, nức nở:

- Đôi ta bây giờ sống ở dương gian chẳng đặng kết đôi thì xin nguyện chết xuống tuyền đài sẽ kết duyên tơ tóc.

Bố an ủi nói:

- Kiếp này nếu ta không lấy được nàng làm vợ thì thề không phải là một kẻ anh hùng.

Điêu Thuyền đưa khăn chậm mắt, nghẹn ngào:

- Thiếp tin tưởng lời hứa của lang quân. Xin lang quân thương mà cứu thiếp.

Bố nói:

- Ta đi tự giờ cũng lâu, sợ lão tặc sinh nghi thì khó.

Điêu Thuyền níu lấy vạt chiến bào của Lữ Bố, khóc dầm nói:

- Nếu lang quân sợ lão tặc như thế thì chắc thân thiếp không thoát được rồi!

Bố an ủi:

- Nàng đừng lo mà hao tổn mình vàng, để thủng thẳng rồi ta liệu.

Nói rồi xách kích muốn đi, Điêu Thuyền nói:

- Thiếp ở chốn khuê phòng nghe danh tiếng lang quân anh hùng dưới đời có một, không ngờ lại bị có người kềm chế như thế.

Nói rồi lại khóc òa lên như mưa như gió một cách bi thảm. Bố lấy làm thẹn thùa, xấu hổ để kích xuống, ôm lấy Điêu Thuyền, đưa khăn chậm nước mắt cho nàng, tìm lời an ủi vỗ về.

Hai người bịn rịn âu yếm, không nỡ buông nhau.

Đổng Trác ngồi tại triều, chợt quay lại nhìn không thấy Lữ Bố thì hối hả từ tạ vua, lên xe về. Thấy ngựa Lữ Bố buộc trước Tướng phủ thì vội vàng hỏi:

- Lữ Bố đi đâu mà để ngựa đây?

Môn lại thưa:

- Lữ Ôn Hầu đi ra nhà sau.

Trác vào phủ kiếm không thấy. Cả Điêu Thuyền cũng vắng. Trác hoảng hốt hỏi thị nữ. Chúng thưa Điêu Thuyền ra vườn xem hoa. Trác hỏa tốc đi thẳng ra sau thấy Điêu Thuyền và Lữ Bố đương nói chuyện. Lão hoa cả mắt. Máu ghen sôi sùng sục, lão quát lên một tiếng. Lữ Bố hoảng hốt bỏ chạy, để cây kích lại dựa lan can ở bao lơn.

Đổng Trác cúi xuống cầm lấy kích, phóng ngay người Bố, nhưng không trúng. Lão đuổi theo nhưng gần đến cửa vườn, thốt nhiên một người ở ngoài chạy vào va nhằm cái bụng phệ của Đổng Trác làm lão té nằm một đống như cây thịt to nặng nề đổ.

Đó là Lý Nhu, rể của Trác. Trác mặt mày hầm hừ nói:

- Thằng nghịch tặc đó dám giỡn với Ái Cơ ta. Ta quyết không dung.

Nhu thưa:

- Thái sư chớ vội nóng mà lầm. Xưa, Sở Trang vương trong "bữa tiệc bứt dải mũ" không trách phạt Tưởng Hùng về tội ghẹo Ái Cơ, mà về sau Trang vương được Tưởng Hùng liều chết cứu khỏi vòng vây nguy khốn của quân Tần. Nay Điêu Thuyền bất quá chỉ là một ả con gái thường mà Lữ Bố là mãnh tướng tâm phúc của Thái sư! Nếu nhân cơ hội này, Thái sư đem Điêu Thuyền tặng cho Lữ Bố, ắt Bố phải cảm kích vô cùng, và sẽ liều chết báo ơn. Xin Thái sư nghĩ lại cho kỹ.

Trác trầm ngâm một lúc, rồi nói:

- Ngươi nói vậy cũng phải, để ta nghĩ lại đã.

Nhu từ tạ lui ra. Trác vào hậu đường hỏi Điêu Thuyền:

- Sao mi dám tư thông với thằng Lữ Bố?

Điêu Thuyền khóc nấc lên rồi kể lể:

- Thiếp đang xem hoa nơi sau vườn, thình lình Lữ Bố bước vào, thiếp hoảng sợ toan chạy trốn. Hắn nói hắn là con của Thái sư, không hề chi, rồi cầm kích rượt thiếp đến Phụng Nghi đình. Thấy nó sinh tâm, xấu xa như vậy, thiếp định liều mình nhảy xuống ao sen. Nó lại ôm cứng lấy thiếp. Đương cơn bối rối, vừa may ngài vào kịp nên thiếp mới toàn tánh mạng. Vậy mà Thái sư không thương hại còn nói oan, nói xấu cho thiếp.

Đổng Trác nói:

- Ý ta muốn gả mi cho Lữ Bố, vậy mi có bằng lòng không?

Điêu Thuyền thất sắc, nức nở:

- Thiếp đã thất thân với Thái sư, bây giờ Thái sư lại nỡ lòng đem đưa thiếp cho con là một thằng thất phu, như thế thật trái đạo quá. Vậy thiếp thà chết, còn hơn sống mà chịu nhơ danh.

Nói xong, Điêu Thuyền bước lại rút lấy gươm treo trên vách toan đâm vào cổ.Trác hốt hoảng vội đứng dậy giựt lấy gươm, ôm Điêu Thuyền vào lòng, đặt môi vào má nàng hôn lấy hôn để, nói:

- Ta nói đùa nàng vậy mà.

Điêu Thuyền nằm ngã ngang trên mình Đổng Trác, tay đập, chân giẫy, khóc kể:

- Thiếp biết mưu này là mưu của Lý Nhu. Nhu với Bố thân nhau nên muốn đặng lòng nhau mới bày điều phi đạo lý, vô liêm sỉ như thế.

Trác nâng lấy má của Điêu Thuyền, nói:

- Nàng có lòng như thế, ta phụ rảy sao đành.

Điêu Thuyền nói:

- Thiếp e ở lâu nơi này thì Bố có ngày hãm hại.

Đổng Trác nói:

- Thôi, nàng chớ buồn rầu mà hao mòn sắc đẹp. Sáng ngày, ta sẽ đưa nàng về My Ô đặng chúng ta cộng hưởng khoái lạc.

Điêu Thuyền vui vẻ lau nước mắt bái tạ.

Hôm sau, Lý Nhu vào thưa với Trác:

- Nay cũng tốt ngày, vậy xin Thái sư cho đưa Điêu Thuyền về với Lữ Bố.

Trác bảo:

- Ta với Lữ Bố có tình cha con, nếu làm như thế ta e can danh phạm nghĩa, để thiên hạ sỉ nhục ta chăng?

Nhu nói:

- Xin Thái sư cương quyết, không nên nghe lời phụ nữ.

Trác nổi giận quát to:

- Mi đành đưa vợ mi cho Lữ Bố không? Này, tự hậu còn nói chuyện về Điêu Thuyền nữa thì toi mạng.

Nhu buồn bã bước ra, than thở:

- Chúng ta đều phải chết tại tay đàn bà!

Ngay ngày hôm sau, Đổng Trác hạ lịnh xa giá về My Ô, là quê hương. Các quan đều lạy đưa. Điêu Thuyền ngồi trên xe thấy Lữ Bố nhìn nàng mãi thì giả bộ che mặt rồi lấy khăn chậm mắt.

Xe đã đi rồi nhưng Lữ Bố cầm cương ngựa cho đi từng bước một trên gò, đăm đăm nhìn theo xe cuốn sau một làn bụi mịt mờ mà ruột lòng đứt đoạn.

Vương Doãn giục ngựa trờ tới hỏi:

- Sao tướng quân không đi cùng với Thái sư, lại ở đây mà buồn bã như vậy?

Lữ Bố ngậm ngùi, thở dài:

- Cũng vì chuyện con gái của ngài mà tôi mới buồn!

Vương Doãn cũng thở dài, nói:

- Lão tưởng lâu nay đã đưa con về cho tướng quân rồi, không dè Thái sư làm thói cầm thú. Lão nghĩ lại con lão thật vô phước lắm!

Vương Doãn lại mời Bố về tư dinh và dọn tiệc thết đãi. Bố càng buồn, đem chuyện Điêu Thuyền khóc kể tại Phụng Nghi đình cho Vương Doãn nghe. Doãn nói:

- Thái sư cưỡng hiếp con lão, đoạt vợ tướng quân thiên hạ sỉ tiếu lão và tướng quân nhiều lắm. Nhưng lão già rồi cũng không đủ tiếc; chỉ tiếc cho tướng quân có danh cái thế anh hùng mà lại phải chịu nhục nhã như vậy.

Lữ Bố nghe nói nổi giận vỗ bàn quát to. Vương Doãn can:

- Lão chẳng may nói lỡ lời xin tướng quân giảm nộ.

Lữ Bố nói:

- Tôi quyết giết lão tặc ấy thì mới rửa được sự xấu hổ này.

Vương Doãn ra vẻ sợ sệt nói:

- Tướng quân giận giỗi nói như vậy e họa lây đến lão.

Lữ Bố nói:

- Làm người đứng giữa càn khôn lẽ đâu lại chịu người câu thúc như vậy. Tôi muốn giết lão già ấy lắm nhưng còn ngại tiếng cha con.

Vương Doãn mỉm cười nói:

- Thái sư họ Đổng, tướng quân họ Lữ có liên hệ gì đâu. Khi Thái sư phóng kích tại Phụng Nghi đình thì còn tình nghĩa cha con gì nữa. Vả lại tài ba của tướng quân nếu giúp Hán thì được chữ trung thần, danh lưu thiên tải; theo phò Trác thì mang tiếng phản nghịch di xú vạn niên.

Lữ Bố đứng lên bái tạ Doãn và nói:

- Lòng tôi đã quyết, thượng quan chớ nghi ngại.

Nói xong, cắt tay chảy máu mà thề.

**

Vâng theo mưu của Vương Doãn và Lữ Bố, Lý Túc đem 20 quân kỵ mã kéo đến My Ô, thưa với Đổng Trác:

- Vua đau mới nhẹ, ý muốn nhượng vị cho Thái sư nên sai tôi đem chiếu ra đây mà tuyên triệu.

Đổng Trác hỏi:

- Vương Doãn có bằng lòng không?

Túc đáp:

- Quan Tư đồ đã sai người đắp nền ba từng xây Thọ Thiên đài, chuẩn bị đón rước Thái sư.

Trác mừng rỡ nói:

- Hèn chi đêm rồi, ta nằm mộng thấy rồng phủ mình, quả nhiên bây giờ được hỉ báo.

Rồi ngay hôm ấy, Trác truyền bày xe giá để trở về kinh. Lại nói với Điêu Thuyền:

- Ta lên làm vua thì sẽ lập nàng làm hoàng hậu.

Điêu Thuyền đã biết mưu kế rồi nhưng cũng giả bộ vui vẻ lạy đưa.

Trác về đến kinh vào Tướng phủ, Bố đến bái yết. Trác nói:

- Cha lên làm hoàng đế thì sẽ phong cho con làm Đại đô đốc tổng quản quyền hành.

Lữ Bố tạ ơn.

Sáng hôm sau, Đổng Trác vào triều. Các quan mặc phẩm phục chực rước bên đường. Lý Túc cầm gươm hầu theo xe Trác. Vào đến cửa Bắc Dịch, quân sĩ của Trác phải dừng lại bên ngoài. Chỉ còn Trác ngồi xe cùng với vài chục người được vào. Đến bên trong thấy Vương Doãn và các quan đều cầm gươm lăm lăm ở tay, đứng đợi sẵn, bấy giờ Trác có hơi hoảng sợ mới hỏi Túc:

- Ai cũng đều cầm gươm thế kia là ý thế nào?

Túc không đáp, cứ đẩy xe thẳng vào:

Bỗng Vương Doãn hô to lên:

- Phản tặc đã tới! Vũ sĩ đâu?

Tức thì có hơn 100 vũ sĩ phục hai bên đổ ra cầm kích, cầm giáo đâm như mưa vào người Đổng Trác. Vì Trác mặc áo giáp sắt nên giáo kích không đâm thấu, chỉ bị thương nơi cánh tay và ngã ngay xuống đất. Trác vội kêu lên:

- Phụng Tiên con đâu? Cứu ta!

Lữ Bố chạy ra sau xe, quát to lên rằng:

- Có chiếu chỉ giết giặc đây.

Đoạn đâm ngay một kích trúng giữa yết hầu Trác.

Vương Doãn lại sai Lữ Bố, Hoàng Phủ Tung và Lý Túc dẫn quân kéo ra My Ô, tịch biên gia sản của Đổng Trác. Bố đến My Ô, giao tất cả công việc cho Hoàng Phủ Tung và Lý Túc, còn mình thì vào phòng tìm kiếm Điêu Thuyền.

Về việc làm của Điêu Thuyền, "Thánh Thán ngoại thư" có đoạn phê bình:

"Mười tám lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền lại thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy sóng mắt nụ cười làm gươm sắc giáo nhọn, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lĩnh của "Nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ lắm thay!

"Tây Thi với Điêu Thuyền cùng lấy sắc khuynh thành. Nhưng việc làm của Tây Thi còn dễ, việc làm của Điêu Thuyền khó hơn. Tây Thi chỉ phải đánh ngã một mình Ngô vương Phù Sai. Điêu Thuyền phải đồng thời đánh ngã cả Lữ Bố lẫn Đổng Trác. Phải luôn luôn nghĩ mưu kế trong lòng, thay đổi bộ mặt để đối phó với cả hai bên. Ta nghĩ rằng cái công của Điêu Thuyền đáng ghi vào sử xanh. Nếu như, khi Đổng Trác đã bị giết rồi, Vương Doãn không vụng về mà gây ra cái loạn Lý Thôi, Quách Dĩ thì cơ đồ nhà Hán đã phục hưng ngay từ đó. Và như thế thì một cô gái như Điêu Thuyền há lại không đáng ghi tên vào nơi Phượng Các, không được tô tượng ở chỗ Lân Đài hay sao?
"...
"Cái tuyệt diệu của "Liên hoàn" không phải là làm cho Lữ Bố giết Đổng Trác đâu! Nếu Trác cầm kích lao trúng, giết chết Lữ Bố lúc bấy giờ, tức là Trác tự chặt một cánh tay, và Trác sẽ bị tiêu diệt dễ dàng ngay. Đó mới là chủ ý. Điều này đã nằm trong bụng Vương Doãn và có lẽ Điêu Thuyền cũng muốn thế. Vương Doãn lẽ nào lại yêu Lữ Bố? Mà Điêu Thuyền cũng không yêu Lữ Bố đâu?
"Riêng ta, ta yêu nàng Tây Tử thật lòng trở về với Phạm Lãi; và yêu nàng Điêu Thuyền giả vờ sống thác với Lữ Bố. Bởi vì tuy thân đứng trước Lữ Bố, nhưng lòng Điêu Thuyền bao giờ cũng chỉ nghĩ đến một mình Vương Doãn mà thôi.
"...
"Sau khi thành Hạ Bì thất thủ, Lữ Bố bị chết, đâu còn thấy bóng dáng nào ở chỗ nào? Nàng chính là con Rồng thiêng, chỉ lộ cái đầu, cái mình với đời, mà không cho đời sau biết cái đuôi mình ẩn đi đâu hết! Có thế danh tiếng mới khỏi bị tổn thương".


Trên đây là lời phê bình của Thánh Thán.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 1:42 pm

Hát Trống Quân


Trong kho tàng dân ca Việt Nam, trống quân là một loại hát rất bình dân và phổ biến tại miền Bắc; và đặc biệt hát trong các dịp hội hè mùa thu, nhất là trong những đêm trăng sáng đẹp của trung tuần tháng tám.

Nguồn gốc hát Trống quân có nhiều thuyết:

Các nhà nho Việt Nam cho rằng "Trống quân" do hai chữ "Tống quân" (tiễn bạn) mà ra. Theo tương truyền ngày xưa khi một ông quan rời tỉnh này đi tỉnh khác, bạn bè tiễn đưa một quãng đường. Lúc sắp chia ly, người đi đưa đặt một cái trống xuống đất rồi vừa nhịp trống vừa hát bài tiễn bạn trong đó có câu: "Tống quân nam phó thương như chi hà" (khi ta tiễn bạn đi về phía nam, lòng đau đớn thế nào ai rõ được) (theo G. Cordler).

Có thuyết cho rằng: Trống quân bày ra từ đời Nguyễn Huệ. Nguyên khi ra Bắc đánh bọn xâm lược Thanh (cuối thế kỷ 18), quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà, vua Quang Trung Nguyễn Huệ mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái hát đối với nhau để cho quân sĩ vui lòng. Đang khi hát có đánh trống làm nhịp cho nên gọi là Trống quân (theo Phan Kế Bính).

Có thuyết gần giống như thuyết thứ hai, cho rằng; hát Trống quân có nguồn gốc từ lối hát "Trung quân" một điệu hát của quân lính đi theo nhịp trống. Mà quân đây là quân Nghệ Tĩnh của đạo binh Nguyễn Huệ kéo ra Bắc đánh giặc Thanh xâm lăng, cõng nhau rong ruổi ngày đêm không nghỉ. Về sau khi chiến tranh đã qua, nhân dân đem lối hát này vào những buổi hội hè gọi là hát Trống quân (theo Phạm Duy).

Có thuyết cũng cho rằng loại hát này phát xuất từ những điều kiện lịch sử gần giống như hai thuyết vừa kể, chỉ khác về mặt thời gian, là Trống quân có từ đời Trần lúc chống giặc Nguyên xâm lược (thế kỷ thứ 13). Tục truyền rằng: những lúc đóng quân để nghỉ ngơi, muốn giải trí, binh sĩ Việt Nam ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát. Cứ một bên "hát xướng" vừa dứt thì bên kia lại "hát đối". Sau khi đuổi được quân xâm lăng khỏi bờ cõi, hòa bình được lập lại, điệu hát Trống quân được phổ biến trong dân gian. Có nơi gõ nhịp vào tang trống, có nơi căng một dây thép thật thẳng để đánh nhịp (theo Vũ Ngọc Phan).

Người ta chưa tìm được thuyết nào là đúng.

Hát Trống quân cũng như hát Quan họ không phải thuộc hát lao động, mà thuộc về loại hát lễ hay hát hội. Người hát thuộc về mọi tầng lớp trong xã hội nông thôn. Nhà nho, thư sinh hát với con cái gia đình kỳ mục, giàu có hay gia đình thường dân. Họ hoàn toàn không phải ca sĩ chuyên nghệ mà chỉ là "tài tử" nghiệp dư sính hát, biết hát... Phần đông là trai và gái đến tuần cập kê, đi hát hội để tìm gặp tài sắc, ước định tương lai.

Từ hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị vào Nam không có hát Trống quân. Từ Thanh Hóa trở ra, loại hát này chỉ để hát vào dịp thu, nhứt là trong tháng tám. Nhưng không hát ban ngày mà chỉ hát vào những đêm trăng, nhứt là đêm rằm.

Hát hội có hai hình thức: hát vui chơi và hát thi lấy giải. Nơi hát có thể là nhà riêng, giữa làng, đầu xóm hay trên sân đình Thành Hoàng.

Thi hát có khi tổ chức giữa hai nhóm trai vài gái, có khi giữ hai thanh nam thanh nữ. Ngoài mấy cuộc thi hát tại nhà, trai gái nông dân tự động tổ chức nhiều hội hát trên đám đất rộng giữa làng, bên bờ ruộng hay ở đầu cổng xóm. Trai gái ngồi ra hai bên cách nhau chừng mươi thước. Giữa hai toán có một cái "trống quân" mà ngày xưa gọi là "thổ cổ". Trai hát xướng lấy que tre đánh vào dây kêu bình bình; gái hát đáp gõ cái sênh kêu cách cách làm nhịp.

Trống quân, cũng như hầu hết các loại dân ca khác, vay mượn nhiều nơi kho tàng phong dao. Văn thể Trống quân là thơ lục bát. Nhưng khi hát, câu 6 chữ và câu 8 chữ biến thể là cứ sau tiếng thứ hai ở mỗi câu, người hát đệm tiếng thời, thì, hay này, v.v... Và, cứ đến tiếng thứ tư ở mỗi câu thì lên giọng và thêm vào mấy tiếng í a hay ứ ư; có khi người hát lặp lại chữ chót của câu 8 chữ. Thí dụ:

Trên trời (này) có đám (ứ ư) mây xanh
Giữa thì (này) mây trắng (ứ ư) chung quanh mây vàng
Ước gì (này) anh lấy được nàng
Thì anh (này) mau gạch Bát Tràng (đem) về xây.
Xây dọc (rồi) anh lại xây ngang.
(chứ) Xây hồ (này) bán nguyệt (để) cho nàng (chân) rửa chân.
Nên ra (thì) tình ái nghĩa ân.
Chẳng nên (thì) phú giả (ứ) về dân (tràng) Bát (ừ) tràng.


Những tiếng như: thời, này, rồi, rằng, mà, ấy, mấy, nó, cái, con, anh, em... thêm vào khi hát gọi là tiếng đệm; và những tiếng như í, a, ư, ứ, ừ ... gọi là tiếng đưa hơi dùng để ngân nga. Âm hưởng dịu dàng hay réo rắt của tiếng đệm và tiếng đưa hơi làm sao giọng Trống quân mang sức truyền cảm mạnh mẽ.

Đó là đặc điểm quan trọng của Trống quân về hình thức. Đặc điểm này lại phù hợp với nội dung Trống quân là biểu lộ được nỗi vừa vui vẻ vừa chứa chan cảm động, và nói lên được những thích thú cao thượng của sự sinh hoạt nông thôn, những cảnh đẹp đẽ của quê hương, những điều trù phú đặc biệt của đất nước. Trống quân còn là một loại hát tình tứ, hoặc nói đến nghĩa bạn bè, nhất là hay đề cao tình luyến ái giữa trai gái nông dân.

Trống quân có tính cách đối thoại. Nó là một lối hát đối giữa trai và gái, một lối đối đáp hỏi trả qua lại. Thí dụ:

Bên trai đố:
Anh đố em câu này em giảng làm sao?
Cái gì (mà) thấp cái gì (mà) cao;
Cái gì (mà) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời.
Cái gì (mà) em giải (cho) anh ngồi,
Cái gì (mà) thơ thẩn (ứ) ra chơi (ừ) (đào) vườn đào.
Cái gì (mà) sắc hơn dao (ứ)
Cái gì (mà) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh.


Bên gái trả lời:
Anh đã đố thì em xin giảng ra,
Dưới đất (thì) thấp, trên giời (thì) cao
Ngọn đèn (thì) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời...
Chiếu hoa (này) em giải (cho) anh ngồi (mà)
Đêm nằm (thì) mơ tưởng (ứ) ra chơi (ư) (đào) vườn đào.
(Chứ) Nước kia thì (nó) sắc hơn dao
(Chứ) Trứng gà (thì) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh.


Hát Trống quân, trai gái bao giờ cũng thiên về tình cảm. Hoặc bằng câu ướm hỏi, thử thách, hoặc bằng lời tâm sự. Do đó, Trống quân có tính chất trữ tình, tính chất giao duyên rất sâu sắc. Vì đối đáp, hỏi trả, nên hát Trống quân đòi hỏi người hát phải có tài mẫn tiệp, xuất khẩu thành thi, đột xuất nhanh trí... nhưng bao giờ cũng vẫn giữ thái độ phong nhã, lời không sàm sỡ, lố lăng.

Trống quân không phải là một loại trống, mà là một sợi mây dài độ 3, 4 thước tây và dày độ 1 phân tây. Người ta cắm hai đầu sợi dây mây dưới đất bằng hai cây cọc nhỏ bằng gỗ hay bằng tre. Ngay chính giữa sợi mây, người ta đào một lỗ vuông độ 4 tấc mỗi bề, rồi bịt lỗ ấy bằng một miếng ván mỏng. Có khi người ta dùng một khúc tre, một đầu chống lên sợi mây, một đầu chịu trên mặt gỗ.

Có khi người ta cột sợi mây với mặt ván. Người đánh trống quân dùng hai chiếc đũa con đánh lên sợi mây. Sợi mây rung làm mặt ván rung, và tiếng mây rung nhờ lỗ đất làm vang lên nghe thình thùng thình như tiếng trống. Có khi người ta đào một lỗ miệng tròn và hình giống như một cái chum, và đậy miệng lỗ bằng một miếng ván tròn và mỏng.

Có khi người ta để trong lỗ đất một thùng dầu hỏa. Trên miệng thùng có tấm ván và cây cọc để chống chính giữa sợi mây. Có thùng này tiếng vang càng mạnh. Có khi người ta để trong lỗ một thùng dầu lửa, quay miệng về phía dưới, phía trên có cây cọc chống đáy thùng và căng sợi mây. Không cần dùng tấm ván nữa. Có khi người ta không đào lỗ, chỉ lật úp thùng dầu lửa (hay thùng trà) trên mặt đất và căng dây lên trên thùng.

Tóm lại, Trống quân là một loại hát hội vấn đáp giữa nam nữ thanh niên, khuyến khích họ giải bày tình cảm, thông minh và cốt cách qua trung gian của nghệ thuật, trong không khí vui vẻ tưng bừng của hội thu.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 1:48 pm

Tuyệt Anh Hội


Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là "Thái bình yến". Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự.

Khi mặt trời gần lặn, tiệc rượu còn đương vui say, Sở Trang vương truyền đốt đèn lên, lại cho một nàng hầu yêu tuyệt đẹp là Hứa Cơ đi mời khắp quan triều thần, mỗi người một chén rượu.

Được mỹ nhân chuốc rượu, các quan lấy làm vui vẻ thích thú đều đứng dậy đón lấy rượu uống. Bỗng có một ngọn gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt phụp cả. Điện tối mò. Bọn nội thị còn đương loay hoay đi châm lửa chưa đến. Trong hàng quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, đưa tay nắm lấy vạt áo của nàng. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay mặt chụp được dải mũ của người ấy.

Dải mũ đứt, người ấy sợ lắm vội buông tay ra. Hứa Cơ lấy được dải mũ, rón rén đến trước Sở Trang vương, ghé tâu:

- Thiếp vâng mạng đại vương ra mời các quan uống rượu, thế mà có người vô lễ dám nhân lúc tắt đèn, nắm lấy vạt áo thiếp. Nay thiếp đã bứt được cái dải mũ của người ấy, vậy xin đại vương giục thắp nến mà xét xem.

Nhưng Sở Trang vương lại truyền cho bọn nội thị chớ thắp nến vội, đoạn bảo các triều thần:

- Ngày nay ta bày tiệc mong cùng các quan mua vui. Vậy các ngươi nên bứt đứt dải mũ cả đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không bứt đứt dải mũ thì chưa được vui lắm.

Nghe lịnh dạy, tất cả triều thần đều bứt đứt dải mũ của mình. Bấy giờ Sở Trang vương mới cho thắp đèn lại. Thành ra không ai biết người nào làm ẩu, níu lấy vạt áo mỹ nhân cả.

Tiệc xong trở về cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang vương:

- Thiếp nghe nói kẻ trai gái phải có sự phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa.

Sở Trang vương cười bảo:

- Ta bày tiệc rượu này là muốn các quan đều được cùng vui. Rượu say sinh ra chớt nhã chẳng qua cũng là lẽ thường tình. Nếu ta trị tội một người mà làm cho các quan không được vui thì ta không muốn.

Hứa Cơ nghe nói, phục là người có lượng.

Một hôm Sở Trang vương đem quân đánh nước Trịnh, có một viên phó tướng tên Đường Giao xin đem 100 thủ hạ đi mở đường.

Đường Giao cố sức xông pha. Quân nước Trịnh không ai đương nổi. Vì thế, đại binh của Sở Trang vương tiến thẳng đến địa giới của nước Trịnh một cách mau lẹ. Sở Trang vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh chóng như thế, mới triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng. Đường Giao thưa:

- Tôi chịu ơn đại vương to lắm. Ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lãnh thưởng.

Sở Trang vương ngạc nhiên hỏi:

- Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta.
Đường Giao thưa:

- Trong tiệc rượu có người nắm áo Hứa Cơ và bị đứt dải mũ, tức là tôi đó. Đại vương rộng lượng tha, không giết mà còn tìm cách làm tôi không phải bị nhục, vậy tôi cố sức phải báo đền.

Sở Trang vương truyền ghi công ấy để về sau phong thưởng. Nhưng Đường Giao nói với bằng hữu:

- Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta nên cố sức báo đền. Nay đã nói rõ sự thực rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà còn chờ đợi phong thưởng hay sao?

Ngay đêm hôm ấy, Đường Giao bỏ trốn.

Tiệc rượu "Bứt đứt dải mũ" gọi là "Tuyệt anh hội". Về sau này, nó có ý nghĩa chỉ tấm lòng đại lượng của kẻ bề trên đối với kẻ bề dưới. Và, lòng đại lượng ấy bao giờ cũng đem đến một kết quả tốt đẹp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 1:52 pm

Đào Hoa Phu Nhân


Đời Xuân Thu, Sái Hầu và Tức Hầu cùng lấy gái nước Trần làm phu nhân.

Tức phu nhân là nàng Tức Vĩ nhan sắc tuyệt vời. Nhân khi về thăm cố quốc, ngang qua nước Sái, Sái Hầu mời vào cung thết đãi. Trong lúc tiệc rượu, Sái Hầu tỏ vẻ chớt nhả. Tức Vĩ giận lắm bỏ đi. Và khi ở nước Trần trở về nước Tức, nàng không đi ngang nước Sái nữa.

Tức Hầu nghe Sái Hầu trổ mòi "xấu" với vợ mình như thế, mới nghĩ cách báo thù, sai sứ vào cống nước Sở, và mật cáo với Sở Văn vương: Sái Hầu cậy thế có Tề, không chịu phục Sở. Bây giờ quý quốc giả cách đem quân sang đánh nước tôi, nước tôi sang cầu cứu nước Sái. Sái Hầu là người nông nổi, tất nhiên vội vàng sang cứu. Bấy giờ nước tôi cùng quý quốc hợp binh đánh thì có thể bắt được Sái Hầu.

Sở Văn vương mừng lắm. Quả thực bắt được Sái Hầu. Muốn giết đi nhưng nhờ quần thần can gián mới tha, cho Sái Hầu đầu hàng. Sái Hầu biết mắc mẹo của Tức Hầu nên lấy làm tức lắm. Một hôm, Sở Văn vương mở tiệc tiễn Sái Hầu về nước. Trong bữa tiệc có đoàn nữ nhạc ra múa hát. Trong đó có một con hát ngồi gảy đàn, nhan sắc đẹp lắm. Sở Văn vương liền bảo con hát ấy đến mời Sái Hầu một chén rượu. Sái Hầu uống xong, đoạn tự rót lấy rượu, hai tay dâng chén lên để chúc thọ Sở Văn vương. Vua Sở tiếp lấy cười, hỏi:

- Hiền hầu xưa nay có được trông thấy một người con gái nào đẹp lắm không?

Sái Hầu sực nhớ đến cái thù của Tức Hầu trước kia xúi Sở đánh Sái, mới đáp:

- Gái đẹp trong thiên hạ, tôi tưởng không ai bằng Tức Vĩ. Thật là một tiên nữ trên trời.

Sở Văn vương hỏi:

- Người đẹp thế nào?

Sái Hầu nói một mạch:

- Mắt như sóng thu, má tựa hoa đào, người tầm thước, dáng yểu điệu. Thật mắt tôi chưa từng thấy đến người thứ hai.

Sở Văn vương nghe nói lấy làm thích quá, bảo:

- Nếu vậy thì ta có được trông thấy Tức Vĩ mới thỏa tấm lòng.

Sái Hầu lại chêm vào:

- Lấy uy linh của đại vương trí dẫu Tề Khương, Tống Tử cũng chẳng khó huống chi là một người đàn bà trong vòng thế lực của mình.

Sở Văn vương muốn chiếm Tức Vĩ, mượn tiếng tuần du, đem quân sang nước Tức. Tức Hầu ra đón rồi mở tiệc thết đãi. Tức Hầu bưng ly rượu chúc mừng Sở Văn vương. Sở Văn vương đỡ lấy, cười tủm tỉm nói:

- Ngày trước ta cũng có một chút công với quý phu nhân, nay ta đến đây, quý phu nhân lại không đáng mời ta một chén rượu hay sao?

Tức Hầu sợ uy nước Sở, không dám trái ý, vâng vâng dạ dạ, truyền vào trong cung gọi Tức Vĩ ra. Một lúc Tức Vĩ trang điểm tuyệt đẹp bước ra, sụp lạy Sở Văn vương.

Sở Văn vương đứng lên. Tức Vĩ lấy chén bằng ngọc, rót đầy rượu vào, đoạn dâng lên Sở Văn vương. Tay trắng cùng với sắc ngọc lẫn màu với nhau. Sở Văn vương trông thấy ngồi ngẩn người ra, toan đưa tay đỡ lấy chén rượu. Nhưng Tức Vĩ lại khoan thai trao chén rượu cho cung nhân để đệ lên Sở Văn vương. Đoạn, nàng cáo từ, lui vào cung. Vua Sở nhìn theo, thần hồn mê mẩn như muốn quyện theo gót son của con người ngọc.

Trở về quán xá, Sở Văn vương ngồi đứng chẳng yên, nằm không an giấc, trước mắt cứ thấp thoáng hình dáng tha thướt yểu điệu của giai nhân.

Hôm sau, Sở Văn vương bày tiệc ở quán xá, cho giáp sĩ phục cả chung quanh, rồi mời Tức Hầu đến dự tiệc. Tiệc đến nửa chừng, Sở Văn vương giở giọng say bảo Tức Hầu:

- Ta có công với quý phu nhân nhiều lắm, nay quân ta tới đây, quý phu nhân lại không đáng vì ta mà khao thưởng hay sao?

Tức Hầu thưa:

- Nước tôi bé nhỏ lắm, khó lòng mà khao thưởng cho đủ. Đại vương dạy như vậy, xin hãy để cho chúng tôi bàn nhau.

Sở Văn vương vỗ bàn, quát mắng:

- Đứa thất phu này dám bội ân, lại giở giọng nói khéo để lừa ta. Quân sĩ đâu hãy bắt lấy nó.

Tức Hầu chưa kịp nói gì thì quân sĩ đổ ra bắt trói. Sở Văn vương đem quân thẳng vào cung, tìm bắt Tức Vĩ. Tức Vĩ nghe tin chồng bị bắt, đau đớn nói:

- Dắt hổ sói về nhà thì còn nói gì nữa!

Đoạn chạy ra sau vườn, toan đâm đầu xuống giếng. Tướng nước Sở là Đấu Đan vội chạy đến, nắm lấy vạt áo, nói:

- Phu nhân không muốn cho Tức Hầu được toàn tính mạng sao? Tội gì mà hai vợ chồng cùng chịu chết!

Đấu Đan bắt đem nộp cho Sở Văn vương.

Thành công một cách dễ dàng, Sở Văn vương nhìn giai nhân hân hoan vô cùng, rồi tức khắc phong làm phu nhân, và an trí Tức Hầu ở Nhữ Thủy. Tức Hầu tức giận mà chết.

Tức Vĩ má tựa hoa đào nên người thường gọi là "Đào hoa phu nhân". Nàng được Sở vương cực kỳ yêu quý. Trong ba năm, sinh được hai con. Tuy ở suốt ba năm trong cung nước Sở nhưng tuyệt nhiên, nàng không nói với Sở vương một lời nào cả. Sở Văn vương cố hỏi tại sao không nói chuyện, Tức Vĩ sa nước mắt gầm mặt xuống mà không đáp lại. Vua càng gạn hỏi, nàng bảo:

- Một thân này phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết mà chết, lại còn mặt mũi nào nói chuyện với ai nữa!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 2:25 pm

Đào Hoa Phu Nhân


Đời Xuân Thu, Sái Hầu và Tức Hầu cùng lấy gái nước Trần làm phu nhân.

Tức phu nhân là nàng Tức Vĩ nhan sắc tuyệt vời. Nhân khi về thăm cố quốc, ngang qua nước Sái, Sái Hầu mời vào cung thết đãi. Trong lúc tiệc rượu, Sái Hầu tỏ vẻ chớt nhả. Tức Vĩ giận lắm bỏ đi. Và khi ở nước Trần trở về nước Tức, nàng không đi ngang nước Sái nữa.

Tức Hầu nghe Sái Hầu trổ mòi "xấu" với vợ mình như thế, mới nghĩ cách báo thù, sai sứ vào cống nước Sở, và mật cáo với Sở Văn vương: Sái Hầu cậy thế có Tề, không chịu phục Sở. Bây giờ quý quốc giả cách đem quân sang đánh nước tôi, nước tôi sang cầu cứu nước Sái. Sái Hầu là người nông nổi, tất nhiên vội vàng sang cứu. Bấy giờ nước tôi cùng quý quốc hợp binh đánh thì có thể bắt được Sái Hầu.

Sở Văn vương mừng lắm. Quả thực bắt được Sái Hầu. Muốn giết đi nhưng nhờ quần thần can gián mới tha, cho Sái Hầu đầu hàng. Sái Hầu biết mắc mẹo của Tức Hầu nên lấy làm tức lắm. Một hôm, Sở Văn vương mở tiệc tiễn Sái Hầu về nước. Trong bữa tiệc có đoàn nữ nhạc ra múa hát. Trong đó có một con hát ngồi gảy đàn, nhan sắc đẹp lắm. Sở Văn vương liền bảo con hát ấy đến mời Sái Hầu một chén rượu. Sái Hầu uống xong, đoạn tự rót lấy rượu, hai tay dâng chén lên để chúc thọ Sở Văn vương. Vua Sở tiếp lấy cười, hỏi:

- Hiền hầu xưa nay có được trông thấy một người con gái nào đẹp lắm không?

Sái Hầu sực nhớ đến cái thù của Tức Hầu trước kia xúi Sở đánh Sái, mới đáp:

- Gái đẹp trong thiên hạ, tôi tưởng không ai bằng Tức Vĩ. Thật là một tiên nữ trên trời.

Sở Văn vương hỏi:

- Người đẹp thế nào?

Sái Hầu nói một mạch:

- Mắt như sóng thu, má tựa hoa đào, người tầm thước, dáng yểu điệu. Thật mắt tôi chưa từng thấy đến người thứ hai.

Sở Văn vương nghe nói lấy làm thích quá, bảo:

- Nếu vậy thì ta có được trông thấy Tức Vĩ mới thỏa tấm lòng.

Sái Hầu lại chêm vào:

- Lấy uy linh của đại vương trí dẫu Tề Khương, Tống Tử cũng chẳng khó huống chi là một người đàn bà trong vòng thế lực của mình.

Sở Văn vương muốn chiếm Tức Vĩ, mượn tiếng tuần du, đem quân sang nước Tức. Tức Hầu ra đón rồi mở tiệc thết đãi. Tức Hầu bưng ly rượu chúc mừng Sở Văn vương. Sở Văn vương đỡ lấy, cười tủm tỉm nói:

- Ngày trước ta cũng có một chút công với quý phu nhân, nay ta đến đây, quý phu nhân lại không đáng mời ta một chén rượu hay sao?

Tức Hầu sợ uy nước Sở, không dám trái ý, vâng vâng dạ dạ, truyền vào trong cung gọi Tức Vĩ ra. Một lúc Tức Vĩ trang điểm tuyệt đẹp bước ra, sụp lạy Sở Văn vương.

Sở Văn vương đứng lên. Tức Vĩ lấy chén bằng ngọc, rót đầy rượu vào, đoạn dâng lên Sở Văn vương. Tay trắng cùng với sắc ngọc lẫn màu với nhau. Sở Văn vương trông thấy ngồi ngẩn người ra, toan đưa tay đỡ lấy chén rượu. Nhưng Tức Vĩ lại khoan thai trao chén rượu cho cung nhân để đệ lên Sở Văn vương. Đoạn, nàng cáo từ, lui vào cung. Vua Sở nhìn theo, thần hồn mê mẩn như muốn quyện theo gót son của con người ngọc.

Trở về quán xá, Sở Văn vương ngồi đứng chẳng yên, nằm không an giấc, trước mắt cứ thấp thoáng hình dáng tha thướt yểu điệu của giai nhân.

Hôm sau, Sở Văn vương bày tiệc ở quán xá, cho giáp sĩ phục cả chung quanh, rồi mời Tức Hầu đến dự tiệc. Tiệc đến nửa chừng, Sở Văn vương giở giọng say bảo Tức Hầu:

- Ta có công với quý phu nhân nhiều lắm, nay quân ta tới đây, quý phu nhân lại không đáng vì ta mà khao thưởng hay sao?

Tức Hầu thưa:

- Nước tôi bé nhỏ lắm, khó lòng mà khao thưởng cho đủ. Đại vương dạy như vậy, xin hãy để cho chúng tôi bàn nhau.

Sở Văn vương vỗ bàn, quát mắng:

- Đứa thất phu này dám bội ân, lại giở giọng nói khéo để lừa ta. Quân sĩ đâu hãy bắt lấy nó.

Tức Hầu chưa kịp nói gì thì quân sĩ đổ ra bắt trói. Sở Văn vương đem quân thẳng vào cung, tìm bắt Tức Vĩ. Tức Vĩ nghe tin chồng bị bắt, đau đớn nói:

- Dắt hổ sói về nhà thì còn nói gì nữa!

Đoạn chạy ra sau vườn, toan đâm đầu xuống giếng. Tướng nước Sở là Đấu Đan vội chạy đến, nắm lấy vạt áo, nói:

- Phu nhân không muốn cho Tức Hầu được toàn tính mạng sao? Tội gì mà hai vợ chồng cùng chịu chết!

Đấu Đan bắt đem nộp cho Sở Văn vương.

Thành công một cách dễ dàng, Sở Văn vương nhìn giai nhân hân hoan vô cùng, rồi tức khắc phong làm phu nhân, và an trí Tức Hầu ở Nhữ Thủy. Tức Hầu tức giận mà chết.

Tức Vĩ má tựa hoa đào nên người thường gọi là "Đào hoa phu nhân". Nàng được Sở vương cực kỳ yêu quý. Trong ba năm, sinh được hai con. Tuy ở suốt ba năm trong cung nước Sở nhưng tuyệt nhiên, nàng không nói với Sở vương một lời nào cả. Sở Văn vương cố hỏi tại sao không nói chuyện, Tức Vĩ sa nước mắt gầm mặt xuống mà không đáp lại. Vua càng gạn hỏi, nàng bảo:

- Một thân này phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết mà chết, lại còn mặt mũi nào nói chuyện với ai nữa!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 3:00 pm

Mắt xanh, mắt trắng


Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải gặp Kiều ở thanh lâu, Từ Hải nói với Kiều, có câu:

Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?


"Mắt xanh" do chữ "Thanh nhãn", tức là mắt ở giữa là tròng đen (hoặc xanh) hai bên tròng trắng.

Nguyên Nguyễn Tịch, người đời nhà Tấn, là người rất ưu rượu và đàn. Làm quan rồi cáo bịnh về nhà, kết bạn cùng Kê Khang, Lưu Linh, Nguyễn Hàn, Sơn Đào, Hướng Tú và Vương Nhung, người thường gọi là "Trúc lâm thất hiền" (bảy người hiền ở rừng trúc).

Có giai thoại về ồng.

Được biết trong bộ Binh có người bếp cất rượu rất ngon, trữ 300 hũ mỹ tửu, ông liền xin vào làm một chức nhỏ ở đây để được thưởng thức! Có lần ông say luôn 60 ngày, vua Tấn muốn nói chuyện với ông mà không được. Người ta cho ông là "cuồng túy".

Ông là người chán đời, thích tiêu diêu trong vũ trụ. Thơ của ông phần nhiều tả tình, hoặc than cho thói đời đen bạc, hoặc chán cho thế sự thăng trầm, hoặc ngao ngán cảnh phú quý công danh như phù vân...Tư tưởng của ông có lúc lại kỳ dị. Như trong bài văn xuôi "Đại nhân tiên sinh truyện", ông ví con người trong vũ trụ như con rận trong quần.

Ông phản đối Nho giáo. Ông bảo: "Không có vua thì vạn vật ổn định; không có bề tôi thì mọi việc được trị; không có kẻ sang thì kẻ hèn không oán; không có kẻ giàu thì kẻ nghèo không tranh của. Ai nấy đều đủ ăn mà không cầu gì nữa". Thật là một tư tưởng "vô chính phủ" nhưng cũng lạ là vua Tấn vẫn để ông ở yên.

Nguyễn Tịch lại có một thái độ lạ lùng. Khi tiếp khách hễ là hạng quân tử, là hạng người vừa lòng mình thì Nguyễn Tịch nhìn thẳng bằng tròng mắt xanh; trái lại khách là kẻ tầm thường, người không vừa lòng mình thì ông nhìn bằng đôi tròng trắng.

Do điển đó, sau này người ta dùng chữ "Mắt xanh" để chỉ sự bằng lòng, vừa ý. Cũng như câu của Từ Hải: "Mắt xanh chẳng để ai vào có không?" là ý muốn hỏi: nàng chưa thấy ai là người vừa ý phải không? Tức là nàng chưa tiếp ai bằng mắt xanh.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 3:06 pm

Ninh Thích, người chăn trâu ở Dao Sơn


Ninh Thích, người nước Vệ đời Xuân Thu. Người có tài kinh bang tế thế. Lúc còn hàn vi, chưa gặp thời, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách, đi chân không, thường gõ vào sừng trâu mà hát ở núi Dao Sơn.
Lúc bấy giờ Tề Hoàn Công đem binh đánh Tống. Tể tướng nước Tề là Quản Di Ngô (Quản Trọng) đi trước. Ngồi trên xe nghe tiếng hát, biết không phải là người thường mới sai quân sĩ đem tặng cơm rượu. Ninh Thích nói:

- Tôi muốn được yết kiến quan Tể tướng.

Quân sĩ nói: xe quan Tể tướng đã đi khỏi.

Ninh Thích nói:

- Tôi có một câu này nhờ người đọc lại cho quan Tể tướng nghe. Ấy là câu: "Nước trong leo lẻo..."

Quân sĩ theo kịp xe Quản Di Ngô, thuật cả lại cho nghe. Di Ngô không hiểu được ý câu nói ấy ra sao. Có người thiếp yêu là Tĩnh Nương vốn thông minh học rộng thường được theo hầu. Di Ngô hỏi, nàng nói:

- Thiếp nghe cổ giả có bài thơ "Nước trong". Có câu: "Nước trong leo lẻo, cá lượn giữa dòng; người đến triệu ta, ta cũng bằng lòng". Ý chừng người chăn trâu muốn ra làm quan đó.

Di Ngô lập tức dừng xe lại, cho người mời. Ninh Thích đến chào mà không lạy. Di Ngô hỏi qua họ tên, thân thế và học thức, Ninh Thích đối đáp thông suốt như nước chảy. Di Ngô khen tài, bảo:

- Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp thời, không có người tiến dẫn thì sao cho rõ tài được. Đại binh của chúa công ta đi sau, chẳng bao lâu cũng đến đây, ta viết cho nhà thầy một bức thư để cầm đưa cho chúa công ta, tất chúa công trọng dụng.

Ninh Thích cầm lấy thư trở lại Dao Sơn. Ba hôm sau, đại binh Tề Hoàn Công kéo đến. Ninh Thích gõ vào sừng trâu, cất tiếng hát:

Kìa sông Thương Lang, đá trắng lởm chởm,
Có con cá chép dài một thước hơn.
Nghiêu Thuấn thái bình đã không được gặp,
Áo cộc che thân độ đến ngang lưng,
Ta cho trâu ăn từ tối đến đêm.
Đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng!


(Bản dịch của Nguyễn Hoài Nam)

Nguyên văn:

Thương lang chi thủy, bạch thạch lạn,
Trung hữu lý ngư trường xích bán.
Sinh bất phùng Nghiêu dữ Thuấn thiện,
Đoản hạt đan y tài chí cán.
Tùng hôn phạn ngưu chí dạ bán.
Trường dạ man man, hà thời đán.


Tề Hoàn Công nghe thấy lấy làm giận, sai quân đòi đến. Hoàn Công hỏi họ tên rồi bảo:

- Nhà ngươi là đứa chăn trâu, sao dám gièm chê việc chính trị?

Ninh Thích đáp:

- Tôi có dám gièm chê chính trị đâu.

Hoàn Công nói:

- Ngày nay trên thì có thiên tử nhà Chu trị vì, dưới thì các chư hầu theo lịnh. Nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi, dẫu đời Nghiêu Thuấn thái bình chẳng qua cũng chỉ như thế. Vậy mà nhà ngươi dám bảo rằng: "Nghiêu Thuấn thái bình đã không được gặp", lại bảo: "Đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng". Thế không phải gièm chê chính trị là gì?

Ninh Thích thưa:

- Tôi nghe nói đời Nghiêu Thuấn mưa gió thuận hòa, dân gian không phải lo sợ gì, chỉ việc cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống. Đời bây giờ trái lại, giềng mối đổ nát, giáo hóa suy đồi, thế mà bảo "Nghiêu Thuấn thái bình" thì thật tôi không hiểu được. Vả lại đời Nghiêu Thuấn trừ bốn kẻ hung ác mà thiên hạ được yên. Từ bấy giờ không phải nói mà dân tin, không phải giận mà dân sợ. Nay chúa công mới hội chư hầu, đã thấy nước Tống bội ước, nước Lỗ hiếp thề, chinh chiến quanh năm. Tôi lại nghe nói vua Nghiêu bỏ con là Đan Chu mà nhường thiên hạ cho ông Thuấn, Thuấn không chịu nhận bỏ trốn ra Nam Hà, trăm họ rủ nhau mà theo Thuấn. Bấy giờ ông Thuấn bất đắc dĩ mới lên nối ngôi. Nay chúa công giết anh ruột mà cướp nước, lại mượn uy thiên tử để sai khiến các chư hầu. Vậy thì tôi không biết có phải là lối vái nhường nhau như vua Nghiêu, vua Thuấn ngày xưa không?

Tề Hoàn Công nổi giận, quát:

- Đứa thất phu dám nói càn!

Liền truyền quân sĩ dẫn ra chém. Ninh Thích bị trói dẫn đi, nhưng vẫn nghiễm nhiên, không sợ hãi, ngửa mặt lên trời nói: "Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người".

Quan Đại phu là Thấp Bằng thưa với Tề Hoàn Công:

- Người ấy không xu phụ quyền thế, không sợ uy nghiêm, chẳng phải là kẻ chăn trâu tầm thường đâu. Chúa công chớ nên giết.

Hoàn Công nguôi cơn giận, truyền mở trói. Ninh Thích bấy giờ mới đem bức thư giới thiệu của Quản Di Ngô dâng lên. Tề Hoàn Công xem xong, mỉm cười bảo:

- Đã có bức thư của Trọng Phụ, sao không đưa ngay.

Ninh Thích thưa:

- Tôi nghe nói vua hiền chọn người mà dùng, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Nếu chúa công ghét người thẳng, ưa người nịnh mà nhân lên cơn giận giết tôi, thì tôi thà chết đi, chớ quyết không đưa thư của quan Tể tướng làm gì nữa.

Tề Hoàn Công bằng lòng lắm, truyền cho ngồi một chiếc xe sau. Tối hôm ấy, khi đóng quân lại nghỉ, Hoàn Công sài thắp đèn lên tự đi tìm mũ áo. Có tên cận thần là Thụ Điêu hỏi:

- Chúa công cho tìm mũ áo có phải muốn phong cho Ninh Thích chăng?

- Phải.

Thụ Điêu thưa:

- Từ nước ta sang Vệ cũng chẳng xa bao nhiêu, sao chúa công không cho người sang hỏi dò xem. Nếu thực là hiền, bấy giờ sẽ phong tước cho, có chi mà vội.

Tề Hoàn Công nói:

- Người này là một bực đại tài không câu nệ những điều nhỏ nhặt. Hoặc giả khi ở nước Vệ, cũng có vài điều lỗi nhỏ, nếu dò hỏi biết những điều lỗi ấy chẳng lẽ lại phong tước cho. Còn nếu bỏ đi không dùng thì đáng tiếc lắm.

Nói xong, ngay đêm hôm ấy phong cho Ninh Thích làm quan Đại phu, để cùng với Quản Di Ngô trông coi quốc chính.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   Fri Nov 25, 2011 3:12 pm

Thanh Minh trong tiết tháng ba



Thanh Minh là tên một thời tiết, tức là một khoảng thời gian phân định sẵn trong lịch Tàu.

Lịch cổ nước Tàu chia một năm ra làm 8 tiết, gọi là "Bát tiết": lập Xuân, lập Hạ, lập Thu, lập Đông, Xuân phân, Thu phân, Hạ chí và Đông chí.

Lịch Kim (tức là lịch đời Hán trở lại) của Tàu thì chia năm ra làm 24 Khí hoặc Tiết. Cứ ba ngày là một Hậu; 5 Hậu là một Khí hoặc Tiết. Một năm có 24 Khí hoặc Tiết. Mỗi tháng chia làm 2 Khí. Khí nhằm vào những ngày đầu tháng thì gọi là Tiết Khí. Khí nhằm vào giữa tháng thì gọi là Trung Khí. Tiết Khí và Trung Khí thường gọi tắt là Tiết và Trung.

Đầu thời Hán lấy tiết Kinh trập làm "Chính nguyệt trung" (tức là khí vào giữa tháng giêng), lấy Vũ thủy làm "nhị nguyệt tiết" (tức là khí vào đầu tháng hai). Cuối đời Hán, Lưu Hầm làm Tam thống đổi Kinh trập làm "Nhị nguyệt tiết" (khí vào đầu tháng hai), Vũ thủy làm "Chính nguyệt trung" (khí vào giữa tháng giêng), Cốc vũ là "Tam nguyệt tiết" (khí đầu tháng ba); Thanh minh làm "Tam nguyệt trung" (khí giữa tháng ba).

Lịch Tàu ngày nay tức là sau đời nhà Hán thì chia Thanh minh làm Tam nguyệt tiết (khí vào đầu tháng ba).

Hai mươi bốn tiết khí trong một năm là:

Mùa xuân: Lập Xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ.
Mùa hạ: Lập Hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử.
Mùa thu: Lập Thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng.
Mùa đông: Lập Đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả cảnh Thanh minh có câu:

Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.


"Thanh minh trong tiết tháng ba" là do câu "Thanh minh tam nguyệt tiết" nghĩa là: Tiết thanh minh đầu tháng ba.

Theo cách dùng thuật ngữ của Tàu thì chỉ nói "Tiết tháng ba" hay "Tam nguyệt tiết" tức "Tam nguyệt khí tiết" là người ta hiểu ngay là nói đầu tháng ba. Vì tiết đây là tiết khí nói tắt, mà tiết khí nghĩa là thời tiết nhằm đầu tháng. Vậy thì "trong tiết tháng ba" có nghĩa là "vào đầu tháng ba".

Tục Tàu, nhân tiết Thanh minh, người ta tổ chức lễ thăm mộ gọi là "Lễ tảo mộ", tức là lễ quét tước sửa sang mồ mả. Và, nhân lễ tảo mộ ngoài đồng, mà tự nhiên có hội gọi là "hội đạp thanh" tức là hội giẵm trên đám cỏ xanh ở ngoài đồng.

Cổ thi của Tàu có bài:

Xuân du thanh thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm huỳnh hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.



- - HẾT - -


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Điển hay Tích lạ   

Về Đầu Trang Go down
 
Điển hay Tích lạ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Tư liệu :: Văn học-
Chuyển đến