Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords
miền Liên

Share | 
 

 Đoạn Trường Tân Thanh

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Đoạn Trường Tân Thanh   Sat Nov 05, 2011 10:39 am

TRUYỆN KIỀU BẢN 1902

--- Nguyễn Du ---

Bản Kiều Oánh Mậu
Sưu tầm, khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn Thế & Phan Anh Dũng
Hiệu đính chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng.
Nhà xuất bản Thuận Hoá — Huế 2004
Nguồn http://www.nomna.org

Mục lục




Được sửa bởi Vân Nhi ngày Sat Nov 05, 2011 10:50 am; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sat Nov 05, 2011 10:43 am

Từ câu 1 - 20

1. Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy đã đau đớn lòng

5. Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen với má hồng đánh ghen

Cảo thơm lần giở trước đèn

Phong tình có lục còn truyền sử xanh

Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh

10. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng

Có nhà viên ngoại họ Vương

Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung

Một trai con thứ rốt lòng

Vương Quan là chữ nối dòng nho gia

15. Đầu lòng hai ả tố nga

Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Một người một vẻ, mười phân vẹn mười

Vân xem trang trọng khác vời

20. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Chú Thích:

Câu 4: B-T: MÀ
Câu 5: Bỉ sắc, tư phong: Kia kém, đây nhiều (chữ PHONG này là phong túc), ý nói tạo hoá đã cho hơn cái này (tài) thì kém cái kia (mệnh).
Câu 6: Các bản Nôm đều chép là VỚI, các bản Quốc ngữ là THÓI quen thuộc hơn, đã được chấp nhận rộng rãi dù không có căn cứ ở các bản Nôm cổ.
Câu 7: Cảo thơm: pho sách thơm, ngụ ý là sách hay, sách quý.
Câu 8: B-T: CỔ lục, do các bản Quốc ngữ sửa, các bản Nôm đều là CÓ.
Câu 10: Nam Kinh và Bắc Kinh của Trung Quốc.
Câu 12: TT12 cho chữ NGHỈ (va, ông đó) hàm ý khinh thường nên sửa là NGHĨ (ước chừng, đoán chừng). Bản B-T: NGHỈ. Xem thêm Phụ chú cuối sách.
Câu 15: Tố nga: người con gái đẹp
Câu 17: Mai cốt cách: chỉ dáng thanh tú, tuyết tinh thần: tinh thần trong trắng như tuyết.
Câu 20: B-T: khuôn TRANG, chắc do lỗi in ấn, vì phần chú giải của B-T có ghi rõ TRĂNG. Từ đây nếu chắc dị bản do lỗi in ấn, xin phép không chú.
Câu 20: Mặt như trăng tròn, lông mày hình con tằm theo "TƯỚNG THƯ" là vẻ đẹp phúc hậu, đây là tả Thuý Vân, có sách để "Khuôn LƯNG đầy đặn nét NGƯỜI nở nang" thấy không đẹp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sat Nov 05, 2011 10:48 am

Từ Câu 21 - 40

Hoa cười ngọc nói đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

25. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai

Thông minh vốn sẵn tư trời

30. Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm

Cung, thương làu bậc Ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên xoang

Một cung bạc mệnh lại càng não nhân

35. Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm niềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Ngày xuân con én đưa thoi

40. Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Chú Thích:

Câu 21: B-T và TT12 và nhiều bản Quốc ngữ là THỐT.
Câu 25: Chữ này thường đọc là VẾT, nhưng theo BẢNG TRA CHỮ NÔM thì có cả âm NÉT nữa, âm VẾT cổ hơn nhưng không được thanh tú, vậy xin phiên âm là NÉT như B-T. Bản Phường QVĐ và CVT thì để chữ THẤP, CVT dẫn giải từ TÂY SƯƠNG KÝ câu "Xuân sơn ĐÊ thuý, thu thuỷ ngưng mâu" (sắc núi lan xuống, màu thu đọng mắt) THẤP tức là dịch chữ ĐÊ, thuyết này cũng có lý, còn NÉT trong các bản Quốc ngữ vốn không có căn cứ ở các bản Nôm cổ.
Câu 25: Câu này ẩn dụ: ánh mắt trong như nước thu, mày xanh như vẻ xuân sơn.
Câu 27: Do câu "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc" (cố: ngoảnh lại, liếc xem): sắc đẹp nghiêng thành nghiêng nước, cũng là cách nói người Việt ta khá quen. MỘT HAI chính là dịch chữ NHẤT CỐ, TÁI CỐ.
Câu 28: Đòi một... hoạ hai: ý nói tài sắc vẹn toàn, hiếm có.
Câu 29: B-T: TÍNH trời. TƯ (tư chất) là chữ chuẩn hơn TÍNH (tính nết), nhưng là chữ sách vở, TÍNH mới đúng chữ Nôm.
Câu 32: Chú ý chữ MỘT CHƯƠNG này từng là đề tài bàn luận tốn nhiều giấy mực. Nhiều người cho rằng đây là chữ Ngải Trương, tên một nhân vật giỏi đàn thời xưa, do chữ MỘT viết giản nét gần giống chữ NGẢI ().Tuy nhiên đứng trên quan điểm văn bản học mà xét thì MỘT lầm ra NGẢI do viết sót bộ thuỷ thì dễ chứ NGẢI lầm ra MỘT do chép thừa bộ thuỷ là khó. Chúng ta nên theo cái thực tế nhìn thấy (các bản Nôm đều viết chữ MỘT) chứ không theo lý luận suông dù lý luận "Ngải Trương" phải thừa nhận là rất hợp lý.
Câu 34: B-T: một THIÊN
Câu 33: B-T, TT12 đều là NÊN CHƯƠNG, tức là nên bài hay, B-T còn chú rõ là các bản cũ đều để là CHƯƠNG.
Câu 37: B-T: êm ĐỀM, chữ NIỀM thật gốc ở các bản Nôm, còn ĐỀM do các bản Quốc ngữ sửa ra vậy.
Câu 38: Tường đông: đông lân, chỉ nhà hàng xóm, câu này ý nói Kiều chưa vướng đường tình.
Câu 40: Thiều quang: ánh sáng đẹp tức là nắng xuân, mùa xuân ba tháng có chín mươi ngày vậy ngoài sáu mươi là tháng Ba.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 9:59 am

Từ Câu 41 - 60

Cỏ non xanh tận chân trời.

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh

45. Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên

50. Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay

Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

55. Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đàng

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Rằng: "Sao trong tiết Thanh minh

60. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà".


Chú Thích:

Câu 41: Chữ "NON" này là "NÚI NON" chứ không phải là chữ : CÒN XANH, NON NỚT.Bản KOM thống nhất dùng chữ NON này cho cả hai nghĩa, chỉ cốt lấy âm.
Câu 44: Đạp thanh: dẫm lên màu xanh tức dẫm lên cỏ, là đi chơi, nói chữ cũng có cái bóng bẩy như vậy. Chú ý chữ "HỘI" các bản Phường để "GỌI" (), nhưng đọc thấy không được chải chuốt...
Câu 48: Chữ NÊM này cũng từng là một đề tài tốn nhiều giấy mực trên sách báo, ví dụ có người dựa vào ngôn ngữ Nghệ Tĩnh quê của Nguyễn Du giải là chữ NEN, là cánh the của giông sâu bọ, như chuồn chuồn, châu chấu (màu sắc đẹp, nằm dưới cánh cứng), cho nó phải là danh từ để đối với "nước". Nhưng tôn trọng văn bản học thì thấy bản Nôm này khắc rõ NÊM là động từ "chêm, chèn thêm", bản QVĐ khắc () chính âm là NẸN có thể đọc trại là NEN, nẹn nhau nghĩa gần như nêm và cũng là động từ. Cần để ý là tiếng Hàn, tiếng Việt thường dùng biến cách danh từ với động từ, NHƯ NƯỚC là NHƯ NƯỚC CHẢY chứ có phải nước danh từ đâu. Thử tưởng tượng bãi hội với nhiều người đứng chen chúc thì thấy NÊM tả đơn giản mà đúng, áo quần đây chính là con người, nếu hiểu theo chữ NEN ở trên thì chỉ là thấy áo quần sặc sỡ thôi.
Câu 50: Vàng vó: vàng mã, vàng hồ. KOM có chú ở lề sách: người Thịnh Liệt Hà Nội làm minh kim ( là vàng cõi âm) tục danh vàng vó.
Câu 53: B-T: bước LẦN, trùng lặp chữ lần ở cuối câu.
Câu 56: Nguyên bản khắc chữ NHỊP có bộ "tài gảy" là "đánh nhịp", xin chế bản chữ NHỊP có bộ "thổ" cho đúng, còn nhiều chỗ khắc lẫn lộn hay bộ này.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:04 am

Từ Câu 61 - 80

Vương Quan mới dẫn gần xa

"Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi

Nổi danh tài sắc một thì

Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh

65. Kiếp hồng nhan có mong manh

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương

Có người khách ở viễn phương

Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi

Thuyền tình vừa ghé tới nơi

70. Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ

Buồng không lặng ngắt như tờ

Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh

Khóc than khôn xiết sự tình

Khéo vô duyên mấy là mình với ta

75. Đã đành duyên trước chẳng mà

Thời chi chút đích gọi là duyên sau

Sắm sanh nếp tử xe châu

Vùi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa

Trải bao thỏ lận ác tà

80. Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm".

Chú Thích:

Câu 65: B-T: PHẬN.
Câu 66: Quốc sắc thiên hương: đã thành tiếng Nôm "sắc nước hương trời", nói về người đẹp lìa đời với câu chữ như thế thật là thần tình!
Câu 71: B-T: LẠNH
Câu 74: B-T: BẤY, cũng như MẤY.
Câu 75: B-T: Đã KHÔNG.
Câu 76: B-T: chút ƯỚC, bị in sai ra CHÚC ƯỚC, ƯỚC tức hẹn duyên kiếp sau. KOM chú CHÚT ĐÍCH là tiếng Nghệ Tĩnh, viết CHÚT ƯỚC là sai, nhưng không chú rõ theo tiếng Nghệ nghĩa là gì, có người giải là chút ít, chút đỉnh. Có lẽ nên theo chữ CHÚT ƯỚC, vì dễ hiểu và hay hơn, vả lại Truyện Kiều đã là tài sản chung của dân tộc, phải đâu chỉ riêng xứ Nghệ.
Câu 77: Nếp tử: gỗ cây tử thường dùng làm áo quan, như chữ tử cung là quan tài, còn xe châu là xe tang kết rèm châu, đây nói chữ cho đẹp vậy. Có sách giải xe TRÂU là sai, TRÂU âm cổ là B-LÂU, chữ Nôm viết là theo âm LÂU.
Câu 78: B-T và TT12 đều để là VÙI NÔNG, chữ Nôm VÙI và BỤI viết giống nhau. Hai chữ này cũng đã từng được tranh luận nhiều, nhà thơ Tản Đà thì cho là BỤI HỒNG, vì câu trên dùng chữ trân trọng "nếp tử, xe châu" mà dưới lại "vùi nông" thì không ổn. Chú ý hai chữ này của bản KOM có thể đọc BỤI HỒNG như Tản Đà, hoặc VÙI HỒNG (với nghĩa là chôn hoa, cũng là cách hiểu hay) ý này là của cụ Nguyễn Văn Tố.
Câu 79: Các bản đều phiên là LẶN, nhưng chính âm chữ này là LẬN, muốn là LẶN thì phải viết thêm bộ thuỷ, "lận mất" nghĩa cũng na ná như lặn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:07 am

Từ Câu 81 - 100

Lòng đâu sẵn món thương tâm

Thoạt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

85. Phũ phàng chi mấy hoá công

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha

Sống làm vợ khắp người ta

Khéo thay thác xuống làm ma không chồng

Nào người phượng chạ loan chung

90. Nào người tiếc lục tham hồng là ai

Đã không kẻ đoái người hoài

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.

Gọi là gặp gỡ giữa đường

Hoạ là người dưới suối vàng biết cho

95. Lầm rầm khấn khứa nhỏ to

Sụp ngồi và gật trước mồ bước ra

Một vùng cỏ áy bóng tà

Gió hiu hiu thổi một và bông lau

Chiếc trâm sẵn giắt mái đầu

100. Vạch da cây vịnh tám câu bốn vần.

Chú Thích:

Câu 81: B-T và các bản khác: MỐI .
Câu 85: B-T: BẤY, chỉ là cách đọc khác của MẤY, nếu phần sau bản B-T còn phiên BẤY chúng tôi xin phép thôi không chú dị bản.
Câu 87: TT12 phiên chữ này là CHẮP (nối) là âm phổ thông của nó, nhưng theo BẢNG TRA CHỮ NÔM thì nó có cả âm KHẮP, các bản đều để là "khắp người ta" cho tương phản với "ma không chồng" câu sau, vậy xin phiên KHẮP.
Câu 88: B-T: HẠI thay. Chữ hại rất dễ nhầm với chữ khéo .
Câu 90: Cả hai câu này theo TT12 là chỉ mấy người khách chơi ham cái sắc (tham hồng) từng đến với Đạm Tiên (chung chạ). Nhưng B-T giải nghĩa khác hẳn, cho phượng chạ loan chung là cảnh vợ chồng sum họp, còn TÍCH (không phải tiếc!) lục tham hồng là than cảnh Đạm Tiên cô độc chồng con chẳng có.
Câu 92: B-T: giải nghĩa KIẾM là dâng, lễ, chứ không phải tìm kiếm. TT12 lại bác bỏ, cho KIẾM chỉ là tìm kiếm vì lúc này chị em đang "dan tay ra về", không có sẵn hương, phải tìm chút hương du khách bỏ lại.
Câu 95: B-T: khấn VÁI.
Câu 96: B-T: ĐẶT CỎ, đồng thời chú rằng tục cổ đặt bó cỏ thay nén hương khi cúng để rót rượu vào, và cho là có nghĩa hơn VÀ GẬT? Nhưng đàn bà thường ngồi xuống xếp hai chân về một bên rồi mới vái, như vậy NGỒI VÀ (VÁI) GẬT là tả thực, không phải là vô nghĩa.
Câu 97: Nhiều sách đều giải CỎ ÁY là cỏ vàng úa, có dáng tiều tuỵ, nhưng đây lại là tháng 3 "cỏ non xanh tận trân trời"! Phải chăng đây là ánh chiếu của "bóng tà" hay là vì "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"?
Câu 99: B-T: RÚT trâm.
Câu 100: B-T và TT12: BỐN CÂU BA VẦN, là dạng thơ tứ tuyệt, còn TÁM CÂU BỐN VẦN là dạng thơ luật Đường. KOM đã SỬA NGUYÊN TÁC, xin xem phần Phụ chú.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:10 am

Từ Câu 101 - 120

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng sựng tần ngần chưa ra

Lại càng ủ dột nét hoa

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài

105. Vân rằng: "Chị cũng nực cười

Khéo dư nước mắt khóc người cổ sơ

Rằng: "Hồng nhan tự thuở xưa

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu

Nỗi niềm tưởng đến mà đau

110. Thấy người nằm đó, biết sau thế nào".

Quan rằng: "Chị nói hay sao

Một lời là một vận vào khó nghe

Ở đây âm khí nặng nề

Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa".

115. Kiều rằng: "Những đấng tài hoa

Thác là thể phách, còn là tinh anh

Dễ thay tình lại gặp tình

Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ".

Một lời nói chửa kịp thưa

120. Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.

Chú Thích:

Câu 102: B-T: đứng LẶNG tần ngần CHẲNG ra.
Câu 106: B-T: ĐỜI XƯA. Chữ SƠ có thể đọc XƯA, nhưng câu dưới đã để vần XƯA, và viết với chữ XƯA kép, nên đây là nguyên âm Hán Việt "cổ sơ".
Câu 107: B-T: NGHÌN xưa.
Câu 117: B-T: Dễ HAY (viết có thể đọc THAY hoặc HAY nhưng đây viết thì nên đọc THAY). Nghĩa là "dễ đâu", "tưởng dễ hay sao".
Câu 119: THƯA chỉ những tiếng đưa đẩy trước hay sau câu nói, ví dụ: "Của tôi đấy, thưa ngài!"

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:14 am

Từ câu 121 - 140

Ào ào trút lộc rung cây

Ở trong dường có hương bay ít nhiều

Đè chừng ngọn gió lần theo

Dấu giày từng bước in rêu rành rành

125. Mặt nhìn ai nấy đều kinh

Nàng rằng: "Này thật tinh thành chẳng xa

Hữu tình ta lại gặp ta

Chớ nề u hiển mới là chị em".

Đã lòng hiển hiện cho xem

130.Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời

Lòng thơ lai láng bồi hồi

Gốc cây lại vạch một bài cổ thi

Dùng dằng nửa ở nửa về

Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần

135. Trông chừng thấy một văn nhân

Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng

Đề huề lưng túi gió trăng

Sau chân theo một vài thằng con con

Tuyết in sắc ngựa câu dòn

140. Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.

Chú Thích:

Câu 121: B-T: ĐỔ lộc. Lộc là nụ mầm, cành non.
Câu 126: Tinh thành: bụng thành tinh khiết.
Câu 128: B-T giải nghĩa U là tối chỉ người chết, HIỂN là rõ chỉ người sống.
Câu 136: Buông lỏng tay cương cho ngựa đi thong thả.
Câu 136: Dặm băng: TT12 giải là dặm đường bằng phẳng, ĐDA và NTG giải là đường tắt (băng ngang). CVT chú rất giản dị dễ hiểu: băng là xa (chữ cổ).
Câu 137: Lưng đây là nửa: Nửa túi gió trăng, tả cái tao nhã của "văn nhân".
Câu 139: Dòn: là một sắc thái của đẹp: xinh dòn, tươi dòn, gợi lên ý tươi trẻ. Có người cho là DỒN (dồn vào), nếu vậy phải thay bộ nhật bằng bộ tài gẩy, hơn nữa KOM đã cẩn thận chú "GÌ CÒN THIẾT" tức thiết âm là GIÒN. Chiêm Vân Thị viết bộ túc bên chữ tồn và giải là nước "kiệu dòn" bước ngắn của ngựa khi cả 4 chân chạm đất, còn chạm 3 chân là "lang ba".
Câu 140: B-T: MÀU. Mùi cũng không sai, do xưa hay dùng lẫn lộn hai chữ mùi và màu, Tự điển Hán-Việt của Thiều Chửu (1942) vẫn còn dùng lẫn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:18 am

Từ câu 141 - 160

Nẻo xa mới tỏ mặt người

Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình

Hài văn lần bước dặm xanh

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao

145. Chàng Vương quen mặt ra chào

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa

Nguyên người quanh quất đâu xa

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh

Nền phú hậu, bực tài danh

150. Văn chương nết đất, thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tót vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

Chung quanh vẫn đất nước nhà

Với Vương Quan trước vẫn là song thân

155. Vẫn nghe thơm nức hương lân

Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều

Nước non cách mấy buồng điều

Những là trộm dấu thầm yêu chốc mòng

May thay giải cấu tương phùng

160. Gặp tuần đỏ lá thoả lòng tìm hoa.

Chú Thích:

Câu 143: Dặm xanh: B-T chú là bãi cỏ xanh.
Câu 144: Nguyên bản khắc biến dạng chữ cây này thành ra hơi giống chữ anh bên bộ mộc ( + ). Cây quỳnh cành dao ý nói là chàng Kim rất đẹp trai.
Câu 146: Chữ Kiều này khác chữ tên Thuý Kiều, nếu có bộ nữ thì chỉ người con gái đẹp, đây không rõ bộ nữ là họ Kiều , ví von với hai Kiều ở tích Đồng Tước khoá xuân chú ở đoạn sau.
Câu 149: Phú hậu: giàu lắm. Chữ hậu này là dầy dặn, TT12 tách hai chữ ra chú là giàu sang và phúc hậu.
Câu 150: Nết đất: Nhờ mạch đất, truyền thống gia đình mà sinh nhân tài.
Câu 151: TƯ thái có PHONG độ, TÀI năng lộ rõ qua diện MẠO.
Câu 154: B-T: ĐỒNG thân. Nghĩa cũng như SONG thân, là bạn học bên cửa sổ, chữ SONG này là cửa sổ.
Câu 155: B-T: TRỘM nghe.
Câu 156: Chữ Kiều này là tên họ người. Do tích truyện Tam Quốc, Tào Tháo muốn bắt hai nàng Kiều của Đông Ngô về giữ ở Đồng Tước đài (Đại Kiều là vợ Tôn Sách, Tiểu Kiều là vợ Chu Du, hai người đẹp của Đông Ngô).
Câu 157: B-T: buồng THÊU, nghĩa như nhau, các bản thường dùng lẫn hai chữ này.
Câu 158: Dấu là YÊU DẤU. Chốc mòng: biết bao nhiêu (nói về nhớ thương).
Câu 159: Giải cấu tương phùng: không hẹn mà gặp.
Câu 160: B-T: ĐỐ lá, và có chú là hội đố lá, TT12 chú thêm là hội đấu cỏ (ĐẤU THẢO) xưa bên Trung Quốc. Nhưng ĐỎ là có thể là nguyên tác vì bản Phường có uy tín nhất QVĐ và bản CVT cũng đều là ĐỎ lá cả. CVT chú theo tích LÁ THẮM CHỈ HỒNG (chú ở câu 268, tích Vu Hựu đời Đường), ĐỎ LÁ chính là hồng diệp, lá thắm, ngụ ý tơ duyên tự nhiên đưa tới, hợp văn cảnh đoạn này: "giải cấu tương phùng" ví như Vu Hựu tình cờ bắt được lá thắm. Bản TUỒNG KIỀU "THÙ THẾ TÂN THANH TRUYỆN" chữ Nôm cổ tại thư viện Anh quốc viết "gặp kỳ ĐỔI lá...", là theo nghĩa ĐỎ lá, chỉ mùa thu lá vàng, lá đỏ rơi rụng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:21 am

Từ câu 161 - 180

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

Xuân lan thu cúc mặn mà cả đôi

Người quốc sắc kẻ thiên tài

Tình trong như đã mặt ngoài còn e

165. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê

Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đà lên ngựa người còn ghé theo

Dưới cầu nước chảy trong veo

170. Bên cầu tơ liễu bóng chiều la tha

Kiều từ trở gót trướng hoa

Mặt trời gác núi chiêng đà thu không

Mảnh trăng chênh chếch dòm song

Vàng gieo đáy nước cây lồng bóng sân

175. Hải đường rã ngọn đông lân

Giọt sương treo nặng cành xuân la đà

Một mình lặng ngắm bóng nga

Rộn đường gần với nỗi xa bời bời

Người mà đến thế thì thôi

180. Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi.

Chú Thích:

Câu 162: B-T: Cả HAI, hợp vần với tài ở câu sau hơn.
Câu 166: Chỉn: e rằng, chỉn khôn: e không thể được.
Câu 168: GHÉ theo: trông theo, tiếng cổ ghé nghĩa là nhìn.
Câu 170: B-T: THƯỚT tha.
Câu 172: Chiêng báo chiều. Thu không: thu không gian như nhỏ lại, chỉ lúc trời chiều gần chập tối.
Câu 173: GƯƠNG NGA.
Câu 174: B-T: NGẤN. KOM cũng chú "ĐÁY nhất tác NGẤN" nhưng theo chữ ĐÁY.
Câu 175: B-T: LẢ , B-T có chú là cây hoa Hải đường ban đêm thì lả ngọn.
Câu 176: B-T: GIEO, chữ Nôm gieo cũng có thể đọc treo. Con chữ đơn giản này từng được tranh luận nhiều. Hai nhà thơ bậc thầy Tản Đà và Xuân Diệu đều cho chữ này phải đọc là CHÍU (không phải CHĨU). Chúng tôi tra từ điển Nôm cả hai chữ gieo và treo không có âm CHÍU hay CHĨU. Theo quan điểm "vật lý học" thì cái gọi là "nặng" của sương bất quá thì bằng mua nhỏ, vậy cành xuân la đà là vừa vặn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:25 am

Từ câu 181 - 200

Người đâu gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không

Ngổn ngang trăm mối bên lòng

Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình

185. Chênh chênh bóng nguyệt xế mành

Tựa nương bên triện một mình thiu thiu

Thoắt đâu thấy một tiểu kiều

Có chiều phong vận có chiều thanh tân

Sương in mặt tuyết pha thân

190. Sen vàng lãng đãng như gần như xa

Rước mừng đón hỏi dò la

"Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây

Thưa rằng: "Thanh khí xưa nay

Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên

195. Hàn gia ở mé tây thiên

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Mấy lòng hạ cố đến nhau

Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng

Vâng trình hội chủ xem tường

200. Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.

Chú Thích:

Câu 186: B-T: NGỒI.
Câu 186: Triện: lan can uốn lượn hình chữ triện.
Câu 189: Câu này tả vẻ đẹp: mặt thanh tú, da trắng nõn.
Câu 190: Sen vàng: bước chân. Do một điển tích xưa, người đẹp bước một bước dưới gót như nảy một bông sen vàng, nên cũng gọi "gót sen".
Câu 193: Thanh, khí: chữ ở Kinh Dịch "ĐỒNG THANH TƯƠNG Ứng, ĐỒNG KHÍ TƯƠNG CẦU": cùng một thanh thì hợp nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau.
Câu 195: Hàn gia: là "nhà tôi", nói kiểu nhún nhường như chữ "tệ xá". MÉ tây: phía tây, bản B-T phiên là MÁI tây là âm xưa, không phải dị bản. Còn chữ THIÊN ở câu này nghĩa là đường đi ở bãi tha ma, cả câu này chỉ mộ Đạm Tiên.
Câu 199: Hội chủ: của hội "đoạn trường".
Câu 200: B-T: XEM.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:30 am

Từ câu 201 - 220

Âu đành quả kiếp nhân duyên

Cùng người một hội một thuyền đâu xa

Này mười bài mới mới ra

Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời".

205. Kiều vâng lãnh ý đề bài

Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm

Xem thơ nức nở khen thầm

"Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường

Ví đem vào tập đoạn trường

210. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai".

Thềm hoa khách đã trở hài

Nàng còn cầm lại một hai tự tình

Gió đâu khua bức mành mành

Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao

215. Trông theo nào thấy đâu nào

Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây

Một mình lượng lự canh chầy

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh

Hoa trôi bèo giạt đã đành

220. Biết duyên mình biết phận mình thế thôi.

Chú Thích:

Câu 203: Mười bài theo B-T: là 1. TÍCH ĐA TÀI; 2. LIÊN BẠC MỆNH; 3. BI KÌ LỘ; 4. Ức CỐ NHÂN; 5. NIỆM NÔ KIỀU; 6. AI THANH XUÂN; 7. TA KIỂN NGỘ; 8. KHỔ LINH LẠC; 9. MỘNG CỐ VIÊN; 10. KHỐC TƯƠNG TỰ.. là các điệu ca từ.
Câu 213: B-T: SỊCH.
Câu 217: Tất cả các bản đều là LƯỠNG lự, kể cả bản KOM này viết LƯỠNG lự nhưng TT12 vẫn phiên là LƯỠNG lự. LƯỠNG LỰ là lo lường, có lẽ về sau chuyển ý là cân nhắc, phân vân chưa quyết. Trong các tự điển Nôm LƯỠNG LỰ viết với chữ lưỡng là hai () mà ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ của Huỳnh Tịnh Paulus Của có giải nghĩa là "chàng ràng chưa quyết bề nào". Vậy đây là cách viết khác LƯỠNG LỰ hay là một từ khác hẳn? Đào Duy Anh phiên LƯỠNG lự nhưng giải nghĩa là lo nghĩ vậy là theo nghĩa của LƯỢNG lự.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:33 am

Từ Câu 221 - 240

Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi

Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn

Giọng kiều rền rĩ trướng loan

Nhà huyên chợt tỉnh hỏi cơn cớ gì

225. "Cớ sao trằn trọc canh khuya

Màu hoa lê hãy đầm đìa giọt mưa".

Thưa rằng: "Chút phận ngây thơ

Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền

Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên

230. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao

Đoạn trường là số thế nào

Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia

Cứ trong mộng triệu mà suy

Thân con thôi có ra gì mai sau".

235. Dạy rằng: "Mộng huyễn chắc dâu

Bỗng không mua não chác sầu nghĩ nao".

Vâng lời khuyên giải thấp cao

Chưa xong điều nghĩ lại dào mạch tương

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng

240. Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.

Chú Thích:

Câu 223: Không viết hoa vì không phải chữ tên của Kiều, chữ kiều này chỉ chung người đẹp. Chữ tên của Kiều vốn nghĩa là lông dài nhất ở đuôi chim, hàm ý cái "nổi" nhất.
Câu 224: Nhà huyên: dịch chữ huyên đường, chỉ người mẹ. Các sách có giải nghĩa rõ chữ huyên nhưng thấy không cần dẫn ở đây.
Câu 226: B-T: DẦM DỀ, không coi là dị bản vì hai chữ Nôm này đọc ĐẦM ĐÌA hay DẦM DỀ đều được.
Câu 234: B-T: PHẬN.
Câu 236: B-T: CHUỐC.
Câu 238: B-T: ĐÃ dào.
Câu 240: B-T: bay NGANG TRƯỚC MÀNH.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:37 am

Từ Câu 241 - 260


Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng

Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình

Cho hay là giống hữu tình

Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong

245. Chàng Kim từ lại thư song

Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây

Sầu đong càng gạt càng đầy

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

Mây Tần khoá kín song the

250. Bóng hồng liệu nẻo đi về chiêm bao

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao

Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng

Buồng văn hơi giá như đồng

Trúc se ngòi thỏ tơ chùng phím loan

255. Mành tương phơn phớt gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Ví chăng duyên nợ ba sinh

CỚ chi đem giống khuynh thành trêu ngươi

Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người

260. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.

Chú Thích:

Câu 241: B-T: CHÊNH CHÊNH. B-T theo Phường bản, chính là nguyên tác vì KOM có chú rõ "nguyên tác CHÊNH CHÊNH" tức thừa nhận mình đã sửa đi.
Câu 247: B-T: KHẮC, là theo Phường bản. Còn GẠT của KOM theo Kinh bản, và theo TT12 chú thì lại giống với bản Tiên Điền do con cháu Nguyễn Du lưu giữ. Nhiều bản Quốc ngữ sửa là LẮC. Bản CVT theo Phường bản chữ KHẮC nhưng chữ sầu ĐONG thì viết là SẦU ĐÔNG và chú ĐÔNG là ngưng đọng.
Câu 248: B-T: DỌN lại. Chỉ là cách đọc khác của cùng một chữ Nôm DỒN.
Câu 249: Mây Tần: Theo TT12 và NTG chữ Tần chỉ để cho đẹp lời. B-T có chú giải khác nhưng thấy mơ hồ nên chúng tôi không dẫn lại.
Câu 250: B-T: BỤI HỒNG LẼO ĐẼO. Theo TT12 các bản khác đều để BỤI HỒNG, chỉ có bản KOM sửa ra BÓNG HỒNG. Ý câu này là Kim đành liệu nẻo tìm "bóng hồng" trong chiêm bao.
Câu 252: B-T và TT12 để chữ MƠ tưởng.
Câu 253: Nguyên bản là chữ GIÁ , chỉ theo âm, xin để chữ GIÁ Nôm "phồn thể" có bộ vũ cho đủ cả nghĩa. Bản B-T thì để: hơi LẠNH.
Câu 254: B-T: NGỌN. Trong phần chú dị bản, TT12 bảo là bản KOM để chữ NGÓN (), chắc nhìn không kỹ, vì chữ NGÒI cũng hơi giống chữ NGÓN. Ngòi thỏ là ngòi bút xưa làm bằng lông thỏ, quản bằng trúc.
Câu 255: Gió thổi lay mành the trúc, nghe như tiếng đàn. Thứ trúc có màu lốm đốm gọi là Tương phi trúc, chữ TƯƠNG là nghĩa đó.
Câu 258: B-T: LÀM CHI NHỮNG THÓI.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:40 am

Từ Câu 261 - 280

Một làn cỏ mọc xanh rì

Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu

Gió chiều như gợi cơn sầu

Bông lau hiu hắt như màu khơi trêu

265. Chạnh riêng tưởng ít tình nhiều

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang

Thâm nghiêm kín cổng cao tường

Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh

Lơ thơ tơ liễu buông mành

270. Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Mấy lần cửa đóng then cài

Đầy thềm hoa rụng biết người ở đâu

Tần ngần đứng suốt giờ lâu

Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà

275. Là nhà Ngô Việt thương gia

Buồng không để đó người xa chưa về

Lấy điều du học hỏi thuê

Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang

Có cây có đá sẵn sàng

280. Có hiên Lãm Thuý nét vàng chưa phai.

Chú Thích:

Câu 261: B-T: Một VÙNG.
Câu 264: B-T: VI LÔ và giải là cây ban, vi lô viết thì là hai thứ lau sậy.
Câu 264: Cũng có thể đọc KHẢY (theo TT12).
Câu 265: B-T: NGHỀ RIÊNG NHỚ ÍT TƯỞNG NHIỀU. B-T có chú câu "CHANH RIÊNG... " như bản KOM này là theo bản Kinh.
Câu 266: Lam Kiều: Bùi Hàng qua cầu Lam gặp nàng Vân Anh xinh đẹp, muốn xin cưới thì bà mẹ đòi phải có cái chày ngọc giã sương, tức là giã thuốc tiên, thì mới cho. Nhờ tiên chỉ bảo mua được chày ngọc mà Bùi Hàng lấy được Vân Anh, sau hai vợ chồng đều thành tiên. Ở câu 447 sau này có dùng chữ "chày sương chưa nện cầu Lam".
Câu 268: Lá thắm: Đời Đường, Vu Hựu bắt được cái lá đỏ trong cung vua trôi ra, trên lá có đề thơ, bèn đề lại một bài thơ vào rồi thả xuống đầu dòng cho nó trôi trở vào. Sau vua thải 3.000 cung nhân ra, Vu Hựu lấy được Hàn Thị mới biết những bài thơ lá đỏ ngày trước chính là của Hàn Thị. Lá thắm ngụ ý tơ duyên có mối, khéo sắp đặt đưa đến.
Câu 268: Chim xanh: sứ giả của Tây Vương Mẫu (do một điển tích cổ), chỉ tin tức.
Câu 270: Có thuyết dựa trên nghĩa cổ của MỈA là "tợ, giống như", MỈA MAI là "gần giống" nên giải là con oanh học nói đã gần được tiếng người. Liên tưởng có vẻ hơi xa, ý nghĩa không ăn nhập văn cảnh lắm, nếu đã lật hết nghĩa lý thì "học" còn có nghĩa là "mách bảo, nói với" chứ đâu phải chỉ là "học nói tiếng người".
Câu 272: B-T: DẪY. Nghĩa cũng là đầy (đầy dẫy), nhưng nghe cổ hơn.
Câu 278: NTG phiên là SOẠN, nhưng âm DỌN cũng đúng.
Câu 280: Lãm thuý: bắt lấy cảnh cỏ hoa tươi tốt. Do tên hai chị em Kiều đều đệm chữ Thuý nên hai câu sau mới nói là chàng Kim mừng thầm cho là có duyên trời chi nên "chốn ấy có sẵn chữ bày"!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:43 am

Từ Câu 281 - 300

Mừng thầm chốn ấy chữ bài

Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây

Song hồ nửa khép cánh mây

Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông

285. Tấc gang động khoá nguyên phong

Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra

Nhẫn từ quán khách lân la

Tuần trăng điểm đốt nay đà thèm hai

Cách tường phải buổi êm trời

290. Dưới đào dường có bóng người thướt tha

Buông cầm xốc áo vội ra

Hương còn thơm nức người đà vắng tanh

Lần theo tường gấm dạo quanh

Trên đào nhác thấy một cành kim thoa

295. Giơ tay với lấy về nhà

Này trong khuê các đâu mà đến đây

Ngẫm âu người ấy báu này

Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm

Liền tay ngắm nghía biếng nằm

300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.

Chú Thích:

Câu 283: Song hồ: cửa sổ dán giấy hồ (bên Tàu).
Câu 283: B-T: CÀNH. Chắc do chế bản Quốc ngữ sai dấu.
Câu 285: B-T: ĐỒNG TOẢ NGUYÊN PHONG. Lại có bản để là ĐỘNG KHOÁ NGUỒN PHONG và gây tranh luận khá nhiều. Nhưng thực ra ba cách nói cùng diễn tả một ý.
Câu 286: B-T: đọc theo âm Nôm của chữ này là TỊT, phiên thì rất đúng nhưng âm hưởng thấy không hay.
Câu 287: B-T: NHẬN. Chắc sai ở khâu in ấn.
Câu 288: B-T: Tuần trăng THẤM THOẮT nay đà THÊM hai. Chữ ĐIỂM có âm Nôm là ĐẾM, đọc âm nào cũng được, đều có nghĩa là tính đốt ngón tay. Còn chữ THÈM, TT12 giải ý là chưa bao lâu mà đã gần hai tháng, chúng tôi dẫn thêm chữ "thòm thèm" nghĩa là gần đủ, chưa đầy.
Câu 293: Tường gấm: tường gạch trổ hoa văn, dung cho đẹp lời.
Câu 297: B-T: Ngẫm ĐÂU.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:47 am

Từ Câu 301 - 320

Tan sương đã thấy bóng người

Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ

Sinh đà có ý đợi chờ

Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng

305. "Thoa này bắt được hư không

Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về".

Tiếng Kiều nghe lọt bên kia

"Ơn lòng quân tử sá gì của rơi

Chiếc thoa nào của mấy mươi

310. Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao

Sinh rằng: "Lân lý ra vào

Gần đây nào phải người nào xa xôi

Được rày nhờ chút thơm rơi

Kể đà thiểu não lòng người bấy nay

315. Mấy lâu mới được một ngày

Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là".

Vội về thêm lấy của nhà

Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông

Bậc mây rón bước ngọn tường

320. Phải người hôm nọ rõ ràng chăng nhe.

Chú Thích:

Câu 306: Theo Hán Thư: Quận Hợp Phố có nhiêu ngọc trai, bọn quận thú bắt dân đi mò thật nhiều, dân tình ta thán, ngọc trai bỏ đi gần hết. Sau Mạnh Thường về làm thái thú, bãi bỏ tham nhũng, không bắt dân đi mò ngọc trai nữa, ngọc trai tự nhiên lại về. Tích này rất hay dùng trong văn thơ xưa, ám chỉ của về nơi cũ, người cũ.
Câu 319: TT12: THANG MÂY, và chú do chữ VÂN THÊ là thang mây (KOM cũng chú bậc mây: vân thê), thấy có vẻ "nói chữ". Bản Chiêm Vân Thị viết VIN MÂY RÓN BƯỚC, chúng tôi hiểu VIN MÂY là động tác giơ hai tay vẫn để giữ thăng bằng đi với chữ RÓN thật hợp, (chú ý chữ Nôm VIN còn có âm VÉN nhưng nghĩa sẽ không rõ ràng).
Câu 319: B-T: ĐÓN? Có lẽ là chữ DÓN nhưng nhà in chế bản sai.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:49 am

Từ Câu 321 - 340

Sượng sùng giữ ý rụt dè

Kẻ nhìn rạng mặt người e cúi đầu

Rằng: "Từ ngẫu nhĩ gặp nhau

Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn

325. Xương mai tính đã thâu mòn

Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay

Tháng tròn như gửi cung mây

Trần trần một phận ấp cây đã liều

Tiện đây xin một hai điều

330. Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng".

Ngần ngừ nàng mới thưa rằng

"Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong

Dù khi lá thắm chỉ hồng

Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha

335. Nặng lòng xót liễu vì hoa

Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa".

Sinh rằng: "Rày gió mai mưa

Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi

Dù chăng xét tấm tình si

340. Thiệt đây mà có ích gì đến ai.

Chú Thích:

Câu 322: Nguyên bản nửa giống chữ RẠNG , nửa như chữ TẬN sót nét, các bản TT12, NTG đều cho là TẬN. Còn B-T theo các bản Phường để chữ RÕ. Chữ RẠNG cũng có ý rõ, nhưng ở đây là rạng rỡ, vui vẻ (phía chàng Kim), đối với E (LỆ) phía Kiều.
Câu 323: Ngẫu nhĩ: tình cờ.
Câu 325: B-T: RŨ mòn.
Câu 327: Cung mây: cung trăng, chỉ chỗ Kiều ở, chữ này còn có nhiều nghĩa, nếu hiểu là tâm trí như lạc trên mây thấy cũng hay.
Câu 328: Ấp cây: chuyện xưa có kẻ thấy con thỏ chạy va vào gốc cây mà chết, bèn bắt được, sau cứ chờ hoài ở gốc cây mong bắt được thỏ nữa! Ở đây ý nói không hi vọng cũng liều chờ đợi. Cũng có thuyết khác nhưng xin lược đi.
Câu 333: Lá thắm đã chú ở câu 268. Chỉ hồng cũng như tơ hồng hay xích thằng, tức là tơ duyên.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:53 am

Từ Câu 341 - 360

Chút chi gắn bó một hai

Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh

Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành

Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời

345. Lượng xuân dù quyết hẹp hòi

Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru".

Lặng nghe lời nói như ru

Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng

Rằng: "Trong buổi mới lạ lùng

350. Nể lòng có nhẽ cầm lòng cho đang

Đã lòng quân tử đa mang

Một lời, vâng! tạc đá vàng thuỷ chung

Được lời như cởi tấm lòng

Giở kim thoa với khăn hồng trao tay

355. Rằng: "Trăm năm cũng từ đây

Của tin gọi một chút này làm ghi".

Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ

Với cành thoa ấy tức thì đổi trao

Một lời vừa gắn tất giao

360. Mái sau dường có xôn xao tiếng người.

Chú Thích:

Câu 343: Khuôn thiêng, khuôn xanh: ông trời, con tạo, chung đúc nên con người.
Câu 348: Chiều xuân: chữ chiều này là "vẻ như", "ra chiều như" chứ không phải là "buổi chiều", chiều xuân nên hiểu là vẻ xuân, tình xuân.
Câu 357: TT12: sẵn tay BẢ QUẠT HOA QUỲ, theo bản Phường QVĐ, KOM cũng chú "Nguyên tác BẢ QUẠT HOA QUỲ, vô vị". Tức KOM đã sửa theo ý mình.
Câu 359: B-T: GẮN BÓ.
Câu 359: Tất: sơn, giao: keo. Gắn bó keo sơn là thành ngữ vẫn thông dụng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:55 am

Từ Câu 361 - 380

Vội vàng lá rụng hoa rơi

Chàng về viện sách nàng dời lầu trang

Từ phen đá biết tuổi vàng

Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ

365. Sông Tương một dải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

Một tường tuyết trở sương che

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng

Lần lần ngày gió đêm trăng

370. Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua

Vừa ngày sinh nhật ngoại gia

Trên song đường dưới nữa là hai em

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm

Cần dâng một lễ xa đem tấc thành

375. Nhà lan thanh vắng một mình

Ngẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay

Thời trân thức thức sẵn bày

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường

Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng

380. Dưới hoa thấy đã có chàng đứng mong.

Chú Thích:

Câu 362: B-T: VỀ.
Câu 365: Ông Vũ Văn Kính phiên NUNG SỪ và theo ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ (Huỳnh Tịnh Paulus Của) giải ý là mênh mông, mịt mù. Âm này có vẻ không phải giọng Bắc, tạm để NÔNG SỜ nhưng nghĩa thì xin theo Paulus Của.
Câu 366: Cả hai câu trên do câu cổ thi: "QUÂN TẠI TƯƠNG GIANG ĐẦU, THIẾP TẠI TƯƠNG GIANG VĨ, TƯƠNG CỐ BẤT TƯƠNG KIẾN, ĐỒNG ẨM TƯƠNG GIANG THUỶ": (chàng ở đầu sông em ở cuối sông, nhớ nhau không thấy mặt, cùng uống nước sông Tương).
Câu 367: Cách trở, che mất.
Câu 370: Màu hồng đã thưa, màu xanh đã rậm: cảnh xuân qua hè về.
Câu 371: B-T, TT12, NTG đều để: NGÀY VỪA, không thuận cách nói hiện nay, nhưng có lẽ đó mới chính là nguyên bản.
Câu 372: B-T: HAI ĐƯỜNG.
Câu 374: B-T: BIỆN dâng. CẦN là rau cần, giống bản CVT, TT12 có dẫn lại lời giải của cụ Nguyễn Văn Tố đó là lễ vật của người nhà quê, ý khiêm nhường.
Câu 376: B-T: cũng để chữ ĐÀNH, nhưng TT12 và NTG đều để chữ DÀNH và không hề chú dị bản, Xét cách viết hợp quy muốn đọc DÀNH phải viết thêm bộ khẩu, KOM không thêm, vậy xin phiên là DÀNH.
Câu 377: Thời trân: hoa quả thức quý đang mùa. Nguyên trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân thì Kiều soạn những đồ này, sau khi tìm được đường sang thì đem qua Kim Trọng làm đồ uống rượu.
Câu 380: B-T: đảo là: ĐÃ THẤY.
Câu 380: B-T: đứng TRÔNG.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 10:59 am

Từ Câu 381 - 400

"Trách lòng hờ hững với lòng

Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu

Những là đắp nhớ đổi sầu

Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm

385. Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm

Đã cam tệ với tri âm bấy chầy

Vắng nhà được buổi hôm nay

Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng".

Lần theo núi giả đi vòng

390. Cuối tường dường có nẻo thông mới rào

Sấn tay mở khoá động đào

Rẽ mây trông rõ lối vào Thiên thai

Càng nhìn mặt càng thêm tươi

Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên

395. Sánh vai về chốn thư hiên

Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông

Trên yên bút giá thi đồng

Đạm thanh một bức tranh tùng treo lên

Phong sương được vẻ thiên nhiên

400. Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi.

Chú Thích:

Câu 384: Sương làm bạc mái đầu, hoặc nhìn như là bạc. Nói hơi cường điệu, hai bên đều dùng kiểu "nói dỗi" mà như hát hay!
Câu 386: Tri âm: biết âm, biết "tiếng tơ lòng", hiểu rõ ý người bạn, xuất sứ ở tích tiếng đàn Bá Nha - Chung Tử Kỳ ở câu 464, nhưng trong tiếng Việt hiện đại là chữ thông dụng, được hiểu mà không cần điển tích gì.
Câu 387: Vắng nhà: Nhà vắng, kiểu tu từ đặt chữ ngược.
Câu 391: B-T: XẮN tay. Chú ý chữ SẤN này nguyên bản viết giản thể, dạng phồn thể là
Câu 392: B-T và nhiều bản khác để là trông TỎ.
Câu 397: Yên là án thư, thi đồng là hộp đựng giấy để làm thơ, bản Phường viết THƯ đồng là hộp đựng sách nói chung.
Câu 398: Theo B-T: đạm thanh là chỉ tranh thuỷ mặc. (TT12 lại cho thanh là màu lam nhạt, nhưng nguyên bản KOM viết thanh là "trong").
Câu 398: B-T: treo TRÊN.
Câu 400: B-T: MẶT khen?

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:04 am

Từ Câu 401 - 420

Sinh rằng: "Phác hoạ vừa rồi

Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa".

Tay tiên gió táp mưa sa

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu

405. Khen tài nhả ngọc phun châu

"Nàng Ban ả Tạ cũng đâu có vầy

Kiếp tu xưa ví chưa dầy

Phúc nào nhắc được giá này cho ngang".

Nàng rằng: "Trộm liếc dung quang

410. Chẳng sân ngọc bội cũng phường kim môn

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay

Nhớ từ năm hãy thơ ngây

Cứ trong tướng pháp lắm thầy chê bai

415. Anh hoa phát tiết ra ngoài

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa

Trông người lại ngắm vào ta

Một dầy một mỏng biết là có nên".

Sinh rằng: "Giải cấu là duyên

420. Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

Chú Thích:

Câu 403: Động tác "múa bút", ngụ ý làm thơ nhanh.
Câu 406: Nàng Ban Siêu, Tạ Đạo Uẩn, hai người đàn bà giỏi văn thơ xưa.
Câu 407: Ý Kim là kiếp trước mình phải tu dầy nên giờ mới kết được Kiều!
Câu 408: Nhắc: nghĩa cổ là cân. Vẫn còn trong tiếng kép "cân nhắc". Nhiều bản để chữ "đổi" theo Phường bản.
Câu 410: B-T: THỜI.
Câu 414: B-T khác cả câu: CÓ NGƯỜI TƯỚNG SĨ ĐOÁN NGAY MỘT LỜI. Câu này KOM theo bản Kinh, B-T theo bản Phường.
Câu 417: B-T: ĐẾN ta.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:07 am

Từ Câu 421 - 440

Ví dù giải kết đến điều

Thì đem vàng đá mà liều cho thân".

Đủ điều trung khúc ân cần

Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng

425. Ngày vui vắn chẳng đầy gang

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài

Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai

Giã chàng nàng mới kíp dời song sa

Đến nhà vừa thấy tin nhà

430. Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về

Cửa ngoài vội rủ rèm the

Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình

Nhặt thưa gương giọi đầu cành

Ngọn đèn trông lọt trướng bình hắt hiu

435. Sinh còn tựa án thiu thiu

Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê

Tiếng sen sẽ động giấc hòe

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần

Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần

440. Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Chú Thích:

Câu 421: Giải kết: nghĩa đen là cởi và buộc, hai chữ này TT12 và B-T mỗi sách dẫn giải một kiểu, chúng tôi cũng hoang mang. Nhưng chợt nhớ chính Truyện Kiều có câu có thể giúp đoán nhận được ý hai chữ đó: "CHÉM CHA CÁI SỐ HOA ĐÀO, GỠ RA RỒI LẠI BUỘC VÀO NHƯ KHÔNG", cái số lận đận, trớ trêụ..?
Câu 422: B-T: với.
Câu 423: Trung khúc: nỗi khuất khúc trong lòng.
Câu 425: B-T phiên là NGẮN, xin phép phiên VẮN để giữ không khí "cổ kính", nhưng không coi là dị bản nên lần sau sẽ không chú nữa. KOM thống nhất dùng chữ VẮN này, không hề có chữ NGẮN () nào cả!
Câu 432: B-T: băng LỐI.
Câu 434: B-T: trướng HUỲNH.
Câu 435: B-T: Sinh VỪA.
Câu 437: Tiếng sen là tiếng gót sen, bước chân của người đẹp.
Câu 437: Giấc hoè: do điển GiẤC MỘNG NAM KHA, Thuần Vu Phần ngủ dưới gốc cây hoè, chiêm bao thấy hai sứ giả nước Hoè An vời vào làm phò mã, phong làm thái thú đất Nam Kha, vinh hiển hơn 20 năm, khi thức dậy thì chỉ thấy gốc cây hoè có ổ kiến, đó là nước Hoè An vậy, còn quận Nam Kha là cành cây phìa nam (chữ kha nghĩa là cành cây).
Câu 439: Sở Hoài Vương mộng thấy người đẹp đến hầu chăn gối, hỏi thì nói là thần núi Vu Giáp, sớm làm mây tối làm mưa, nên đỉnh Giáp non Thần chỉ việc mơ thấy người đẹp, và "mây mưa" chỉ việc ái ân.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:09 am

Từ Câu 441 - 460

Nàng rằng: "Khoảng vắng đêm trường

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

Bây giờ rõ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao".

445. Vội mừng làm lễ rước vào

Đài sen nối sáp song đào thêm hương

Tiên thề cùng thảo một chương

Tóc mây một món dao vàng chia đôi

Vầng trăng vằng vặc giữa trời

450. Đinh ninh hai mặt một lời song song

Tóc tơ căn vặn tấc lòng

Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn bình gương bóng lồng

455. Sinh rằng: "Gió mát trăng trong

Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam

Chày sương chưa nện cầu Lam

Sợ lần khân quá ra sờm sỡ chăng".

Nàng rằng: "Hồng diệp xích thằng

460. Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.

Chú Thích:

Câu 446: Đài sen: giá nến hình đài sen. Song đào: theo B-T thì LÔ ĐÀO đúng hơn, là cái lò hương hình hoa đào. Nhưng các bản Nôm để chữ SONG là cửa sổ, TT12 tôn trọng văn bản nên giải là hương đốt bên cửa sổ.
Câu 447: Tiên: tờ giấy.
Câu 450: B-T: hai MIỆNG.
Câu 453: Chén hà: chén màu ráng chiều đỏ tía. Quỳnh tương: rượu quý, quỳnh là một thứ ngọc.
Câu 454: Bình phong bằng kính, không phải cái bình là đồ đựng. Chữ Nôm vẫn còn chỗ được việc, vì viết Quốc ngữ thì không phân biệt được.
Câu 457: Xem chú thích Lam Kiều ở câu 266. Chưa có chày ngọc nện sương, ý là chưa phải vợ chồng.
Câu 458: Lần khân quá: ý là đòi hỏi quá.
Câu 459: Cũng như lá thắm chỉ hồng, đã chú.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:13 am

Từ Câu 461 - 480

Xin điều nguyệt nọ hoa kia

Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai".

Rằng: "Nghe nổi tiếng Cầm Đài

Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

465. Thưa rằng: "Tiện kỹ sá chi

Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng".

Hiên sau treo sẵn cầm trăng

Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày

Nàng rằng nghề mọn riêng tây

470. Làm chi cho nặng lòng này lắm thân

Lựa dần dây vũ dây văn

Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương

Khúc đâu Hán Sở chiến trường

Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau

475. Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu

Nghe ra như oán như sầu phải chăng

Kê Khang này khúc Quảng Lăng

Một rằng hoa nhạc một rằng quy vân

Quá quan này khúc Chiêu Quân

480. Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.

Chú Thích:

Câu 461: B-T: ĐỪNG, là theo Phường bản.
Câu 461: Kiểu câu đảo nghĩa: "xin điều hoa nguyệt thì thôi, ngoài ra ai có tiếc gì với ai". KOM cũng chú rõ bên cạnh: "ĐIỀU Phường tác ĐỪNG", vậy không nên hiểu câu này theo nghĩa đen.
Câu 463: B-T chú Cầm Đài là địa danh chỗ Tư Mã Tương Như ngồi gảy đàn trong điển tích. TT12 chú nghĩa rộng hơn: các người gảy đàn danh tiếng đều có một cầm đài.
Câu 464: Điển: Bá Nha là người gảy đàn giỏi thời Xuân Thu, có người bạn Chung Tử Kỳ hiểu thấu tiếng đàn từng cung bậc lên xuống (chữ nước non ở đây là lên non xuống nước, ám chỉ cung điệu). Sau Tử Kỳ chết Bá Nha dứt dây, đập đàn không gảy nữa vì cho rằng trong đời không còn ai hiểu thấu tiếng đàn của mình.
Câu 469: B-T, TT12, NTG đều để là riêng TAY, ý rõ ràng hơn.
Câu 470: B-T: BẬN lòng.
Câu 470: THÂN là tiếng đệm cổ như "lắm thay", có tác giả cho nó phải đọc là THĂN biến âm cổ của THAY (TẠP CHÍ HÁN NÔM số 1/1988)
Câu 471: B-T: SO dần.
Câu 475: Khúc PHƯỢNG CẦU HOÀNG của Tư Mã Tương Như để quyến rũ người đẹp Trác Văn Quân. Lời hát du dương: "PHƯỢNG HỀ, PHƯỢNG HỀ, QUY CỐ HƯƠNG, NGAO DU TỨ HẢI CẦU KỲ HOÀNG... "
Câu 477: Khúc QUẢNG LĂNG TÁN của Kê Khang, đời Tấn.
Câu 478: HOA NHẠC, QUY VÂN là hai khúc nhạc xuất xứ ở khúc QUẢNG LĂNG. B-T, TT12, NTG đều để "Một rằng LƯU THUỶ, HAI rằng HÀNH VÂN" cũng là các khúc nhạc cổ.
Câu 479: Do chuyện Chiêu Quân cống Hồ, khi qua ải gảy đàn Tỳ bà tả cảnh nhớ nước nhớ nhà thành khúc Quá quan này.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:18 am

Từ Câu 481 - 500

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau rầm rập như trời đổ mưa

485. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối khi cúi đầu

Khi vò chín khúc khi chau đôi mày

Rằng: "Hay thì thật là hay

490. Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Lựa chi những bậc tiêu tao

Dột lòng mình cũng nao nao lòng người".

Rằng: "Quen mất nết đi rồi

Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao

495. Lời vàng vâng lĩnh ý cao

Hoạ dần dần bớt chút nào được không".

Ngọn lan càng tỏ thức hồng

Đầu mày đuôi mắt càng nồng tấm yêu

Sóng tình dường đã xiêu xiêu

500. Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.

Chú Thích:

Câu 482: Đục: tiếng trầm đục, chứ không phải nước suối đục.
Câu 484: B-T: SẦM SẬP. Cũng có thể đọc RĂM RẮP.
Câu 487: Cái gối (đầu), cũng có bản Nôm viết gối là đầu gối (chân), còn Quốc ngữ thì không thể phân biệt được.
Câu 488: Vò chín khúc: vò chín khúc ruột, cách nói tu từ.
Câu 491: Bậc tiêu tao: những cung bậc buồn.
Câu 492: Dột: chữ cổ, như ủ dột.
Câu 493: Tức là: quen nết đi mất rồi! Chứ không phải MẤT NẾT theo nghĩa MẤT DẠY, VÔ LỄ.
Câu 497: B-T: HOA HƯƠNG. TT12 có dẫn lời giải của cụ Nguyễn Văn Tố thì NGỌN LAN là NGỌN ĐÈN bằng cỏ lan. Còn chính TT12 theo chữ HOA HƯƠNG và giải là vẻ đẹp của người con gái.
Câu 498: B-T: CUỐI.
Câu 498: Nguyên bản khắc chữ thiên, nhưng thế thì lạc mất vần, chỉ có thể do thợ khắc sai, vì dễ nhầm với chữ yêu, nhất là khi khắc gỗ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:21 am

Từ Câu 501 - 520

Thưa rằng: "Đừng lấy làm chơi

Để cho thưa hết một lời đã nao

Vẻ gì một đoá yêu đào

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh

505. Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên Bộc trong dâu

Những con người ấy ai cầu làm chi

Phải điều ăn xổi ở thì

510. Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương

Mây mưa đánh đổ đá vàng

Quá chiều trước đã chán chường yến anh

515. Trong khi chắp cánh liền cành

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên

Mái Tây để lạnh hương nguyền

Xui duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng

Gieo thoi trước chẳng giữ ràng

520. Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai.

Chú Thích:

Câu 502: B-T: DẼ cho. Chữ này cổ hơn nên có lẽ là nguyên tác.
Câu 503: Yêu đào: đào non, chỉ người con gái đẹp đến tuổi lấy chồng. Do câu Kinh Thi: "ĐÀO CHI YÊU YÊU, TRƯỚC TRƯỚC KỲ HOA, CHI TỬ VU QUY, NGHI KỲ THẤT GIA"...
Câu 505: Bố kinh: Chỉ người vợ hiền, chỉ dùng đồ giản dị áo vải (bố), thoa bằng gai (kinh).
Câu 507: Bộc-dâu: Chuyện xưa trai gái nước Vệ thường hẹn hò nhau ở bãi dâu bên bờ sông Bộc làm chuyện tà dâm.
Câu 508: B-T: THÌ con người ấỵ..
Câu 512: Truyện Tây Sương: Trương Quân Thuỵ cùng nàng Thôi Oanh Oanh phải lòng nhau ở MÁI TÂY chùa Phổ Cứu, đã cùng ăn nằm nhưng rồi sau lại sai nguyền, không lấy nhau thành gia thất.
Câu 514: B-T: NÊN đã.
Câu 516: B-T: DÀNH. Còn TT12 và NTG đều cho là KOM để chữ TRÌNH, nhưng xem thấy bộ khẩu bên trái chữ trình thì nên đọc chệch đi mới đúng cách. BẢNG TRA CHỮ NÔM cho nó có 4 âm: CHIỀNG (chiếng ra đó, lộ ra, trình), DÀNH (để dành sẵn đó), RÌNH (rình sẵn đó), XÍNH. Chỉ có XÍNH không hợp, còn ba âm kia đều có nghĩa và có cái hay riêng, có lẽ chữ DÀNH là có vẻ hợp lý hơn cả, nhưng KOM thường viết chữ DÀNH dạng khác, ở đây có thể KOM muốn đọc âm RÌNH: "Mà lòng rẻ rúng đã RÌNH một bên", ý cảnh cáo rõ hơn!
Câu 519: Tạ Côn ghẹo người con gái đương dệt, bị cô ta ném cái thoi gãy mất hai cái răng, chữ gieo thoi về sau chỉ người con gái biết giữ mình.
Câu 518: B-T, TT12, NTG: CHO DUYÊN...

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Sun Nov 27, 2011 11:26 am

Từ Câu 521 - 540

Vội gì liễu ép hoa nài

Còn thân còn một đền bồi có khi".

Thấy lời đoan chính dễ nghe

Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân

525. Bóng tàu vừa nhạt vẻ ngân

Tin đâu đã gõ cửa ngăn gọi vào

Nàng thì vội trở buồng thêu

Sinh thì dạo gót sân đào bước ra

Cửa ngoài vừa ngỏ then hoa

530. Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang

Mở xem thủ bút nghiêm đường

Nhắn rằng thúc phụ xa đường mệnh chung

Hãy còn ký táng liêu đông

Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê

Rày đưa linh sấn về quê

Thế nào con cũng phải về hộ tang

535. Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng

Băng mình lẻn trước đài trang tự tình

Gót đầu mọi nỗi đinh ninh

Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi.

Chú Thích:

Câu 525: B-T: giải TÀU là tàu lá, TT12 giải là mái nhà, Đào Duy Anh lại cho là cái MÁNG hứng nước dưới mái. Nguyên bản KOM viết chữ TÀU là "thuyền", vậy hiểu chính mặt trăng khuyết có hình con thuyền cũng hay!
Câu 526: B-T: đã THẤY.
Câu 529: B-T: cửa SÀI (CÂY CỦI). Có người đặt vấn đề cho cửa cành cây không đúng với nhà phú hộ, rồi giải tự rằng SÀI là trạng từ "đóng chặt", tức cửa đang đóng, nhưng TT12 chú là theo nghĩa đó thì phải đọc âm TRẠI. Theo KOM thì đỡ phải lý giải.
Câu 531:
Câu 534:
Câu 535: Sấn: áo trong, đây là áo quan đã liệm. Bản B-T để chữ LỮ THẤN (nếu đúng âm thì THẤN là : chết mới liệm mà chưa chôn).
Câu 536: 6 câu trên KOM đã theo bản Kinh. Còn B-T, TT12, NTG đều theo bản Phường chỉ để 4 câu thôi:
ĐEM TIN THÚC PHỤ TỪ ĐƯỜNG
BƠ VƠ LỮ THẤN THA HƯƠNG ĐỀ HUỀ
LIÊU DƯƠNG CÁCH TRỞ SƠN KHÊ
XUÂN ĐƯỜNG KÍP GỌI SINH VỀ HỘ TANG
Như vậy từ câu 546 sẽ phải trừ lùi 2 khi đối chiếu với bản B-T.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 7:18 am

Từ Câu 541 - 560

"Sự đâu chưa kịp đôi hồi

540. Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ

Trăng thề còn đó trơ trơ

Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng

Ngoài nghìn dặm chốc ba đông

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy

545. Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời".

Tai nghe ruột rối bời bời

Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau

"Ông tơ gàn quải chi nhau

550. Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi

Cùng nhau trót đã nặng lời

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ

Quản bao tháng đợi năm chờ

Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm

555. Đã nguyền hai chữ đồng tâm

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai

Còn non còn nước còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay".

Chú Thích:

Câu 551: B-T: GHÉT BỎ. Chú ý hai chữ GÀN QUẢI còn có thể đọc CÀN QUẤY hay GÀN QUẤY cũng là cách hiểu chấp nhận được.
Câu 556: B-T: nằm SƯƠNG.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:00 am

Từ câu 561 - 580

Dùng dằng chưa nỡ rời tay

560. Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà

Ngại ngùng một bước một xa

Một lời trân trọng châu sa mấy hàng

Buộc yên quảy gánh vội vàng

Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai

565. Buồn trông phong cảnh quê người

Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa

Não người cữ gió tuần mưa

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày

Nàng còn đứng tựa hiên tây

570. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ

Trông chừng khói ngút song thưa

Hoa trôi trát thắm liễu xơ xác vàng

Tần ngần dạo gót lầu trang

Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về

575. Hàn huyên chưa kịp giã giề

Sai nha bỗng thấy bốn bề lao xao

Người nách thước kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

Chú Thích:

Câu 574: B-T: GiẠT. Chữ này TT12 phiên "trác", NTG phiên "chác", tra cuốn BẢNG TRA CHỮ NÔM thì nó có hai âm GiẠT và TRÁT, như thế âm GiẠT của B-T cũng đúng, nhưng dễ bị hình dung là hoa trôi nổi trên sông nước, đáng phải hình dung là màu hoa héo úa lớp phấn nhung trên cánh nhạt đi.
Câu 577: Gĩa giề: gần như ĐÔI HỒI, đều đã thành tiếng cổ.
Câu 578: B-T: XÔN xao.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:04 am

Từ câu 581 - 600

Già giang một lão một trai

580. Một dây vô lại buộc hai thâm tình

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời khung dệt tan tành gói may

Đồ tế nhuyễn, của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham

585. Điều đâu bay buộc ai làm

Này ai đan giậm, giật giàm bỗng dưng

Hỏi ra sau mới biết rằng

Phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ

Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ

590. Tiếng oan dậy đất án ngờ loà mây

Hạ từ van vỉ suốt ngày

Điếc tai lân tuất phũ tay tồi tàn

Rường cao rút ngược dây oan

Dẫu mà đá cũng nát gan lọ người

595. Mặt trông đau đớn rụng rời

Oan này còn một kêu trời nhưng xa

Một ngày lạ thói sai nha

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.

Chú Thích:

Câu 581: Già giang: đóng gông, trói cổ. Già là cái gông, còn giang có thể đọc là giằng, chằng... tức là trói buộc; còn nguyên nghĩa chữ Hán, GIANG là khiêng đi, có thể hiểu là cõng cái gông đi?
Câu 582: Chính âm phải đọc: vô LOẠI.
Câu 584: B-T và bản Quan Vân Đường: Rụng rời GIỌT LIỄU tan tành GỐI MAI. Bản Liễu Văn Đường: Rụng rời GIỌT LIỄU tan tành CỘI MAI. Bản của Tản Đà thì theo bản KOM. Chữ Nôm GÓI có thể đọc GỐI, CỔI, CỖI, chúng tôi phiên GÓI may với ý là gói đồ nữ công, đối với khung dệt.
Câu 588: B-T: đan DẬP. GiẬM là thứ đồ tre đan sít để đánh vớt tôm cá nhỏ. Giàm: NTG giải là thứ bẫy để bắt chim, TT12 giải GiẬT GIÀM là giật sợi dây bẫy, mà không nói giàm là cái bẫy. Thực ra chữ DÀM ở quê quen dùng để gọi sợi dây buộc mũi châu bò.
Câu 590: TT12, NTG: LÀ. Chú ý đoạn này tới đoạn Thuý Kiều bán mình đã được trích giảng trong sách giáo khoa phổ thông.
Câu 593: B-T: van LẠY. Chú ý chữ Nôm VỈ còn có thể đọc VÁI, có lẽ gốc là VÁI đọc chệch đi, vái cũng gần với lạy.
Câu 594: Lân tuất: thương xót. Lân hay liên: thương, tuất: xót.
Câu 594: Phũ tay tồi tàn: đánh đập tàn nhẫn (tồi: đập).
Câu 596: B-T: Dẫu LÀ... KOM chú có bản để "Dẫu NGƯỜỊ.. "?

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:07 am

Từ câu 601 - 620

Sao cho cốt nhục vẹn tuyền

600. Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành

605. Quyết tình nàng mới hạ tình

Hãy cho để thiếp bán mình chuộc cha

Họ Chung có kẻ lại già

Cũng trong nha dịch lại là từ tâm

Thấy nàng hiếu trọng tình thâm

610. Vì nàng nghỉ cũng thương thầm xót vay

Tính bài lót đó luồn đây

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi

Hãy về tạm phó giam ngoài

Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày

615. Thương tình con trẻ thơ ngây

Gặp cơn vạ gửi tai bay bất kỳ

Đau lòng tử biệt sinh ly

Thân còn chẳng tiếc tiếc gì đến duyên.

Chú Thích:

Câu 605: Để qua lời chỉ non thề biển với chàng Kim.
Câu 608: B-T: DẼ cho. Có vẻ cổ hơn chữ HÃY củ KOM.
Câu 610: Chữ LÀ này nguyên bản viết phồn thể (chữ Hán LA).
Câu 612: B-T, TT12, NTG đều để NGHĨ, chú ý nguyên bản KOM viết chữ NGHỈ này không có bộ tài gảy ở giữa ()
Câu 616: Quy liệu: quy là mưu tính (như QUY HOẠCH), liệu: lo liệu.
Câu 617: B-T: thương LÒNG.
Câu 618: B-T, TT12: vạ GIÓ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:10 am

Từ câu 621 - 640

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn

620. Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

Sự lòng ngỏ với băng nhân

Tin sương đồn đại xa gần xôn xao

Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh

625. Hỏi tên rằng Mã Giám Sinh

Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Trước thầy sau tớ lao xao

630. Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra

Nỗi mình đương tức nỗi nhà

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng

635. Ngại ngùng giợn gió e sương

Nhìn hoa bóng thẹn trông gương mặt dày

Mối càng vén tóc bắt tay

Nét buồn như cúc điệu gầy như mai.

Chú Thích:

Câu 622: Thơ Mạnh Giao đời Đường, bài DU TỬ NGÂM nói về từ mẫu, có câu "DỤC TƯƠNG THỐN THẢO TÂM, BÁO ĐÁP TAM XUÂN HUY": muốn đem tấc lòng cỏ báo đáp ba tháng nắng xuân. Có mùa xuân mới có cỏ, như có cha thì mới có con.
Câu 623: Băng nhân: người mối.
Câu 628: Chắc họ Mã nói láo, vì đem Kiều về Lâm Tri. Về sau Kim Trọng tìm Kiều ở Lâm Thanh bao lâu không ra: "BIẾT BAO CÔNG MƯỚN CỦA THUÊ, LÂM THANH MẤY ĐỘ ĐI VỀ DẶM KHƠI".
Câu 631: B-T: XÔN xao.
Câu 635: B-T: THÊM tức.
Câu 637: B-T: RỠN gió? GIỢN có thể đọc DỢN do không phân biệt d/gi, nhưng không thể nhầm với RỠN được.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:20 am

Từ câu 641 - 660

Đắn đo cân sắc cân tài

640. Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ

Mặn nồng một vẻ một ưa

Bằng lòng khách mới tuỳ cơ dặt dìu

Rằng: "Mua ngọc đến Lam Kiều

Sính nghi vâng dạy bao nhiêu cho tường".

645. Mối rằng: "Đáng giá nghìn vàng

Ngặt nhà nhờ lượng người thương dám nài".

Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá chịu ngoài bốn trăm

Một lời thuyền đã êm giầm

650. Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi

Định ngày nạp thái vu quy

Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong

Một lời cậy với Chung công

Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà

655. Thương tình con trẻ cha già

Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu

"Nuôi con những ước về sau

Trao tơ phải lứa gieo cầu đáng nơi.

Chú Thích:

Câu 646: B-T: XIN.
Câu 648: B-T: DỚP nhà. Còn TT12 để là GẤP nhà. Các bản khác cũng không thống nhất chữ này.
Câu 650: B-T: VÀNG.
Câu 652: Thiếp để so tuổi hai bên trai gái theo tục cưới.
Câu 654: B-T: đã CÓ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:22 am

Từ câu 661 - 680

Trời làm chi cực mấy trời

660. Này ai vu thác cho người hợp tan

Búa rìu bao quản thân tàn

Nỡ đày đoạ trẻ càng oan khốc già

Một lần sau trước cũng là

Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau".

665. Theo lời càng chảy dòng châu

Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi

Vội vàng kẻ giữ người coi

Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can

"Vẻ gì một mảnh hồng nhan

670. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh

Lại thua ả Lý bán mình hay sao

Chồi xuân tuổi hạc càng cao

Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành

675. Lượng trên dù chẳng dứt tình

Gió mưa âu hẳn tan tành nước non

Thà rằng liều một mình con

Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.

Chú Thích:

Câu 661: B-T: CHO.
Câu 663: Nguyên KOM đê chữ PHỦ CÂN, nên đọc là BÚA RÌU theo cách đọc trong BẢNG TRA CHỮ NÔM.
Câu 668: B-T: ĐÃ.
Câu 674: Chữ "THUA" này nguyên bản viết chữ Hán (thâu: trộm cắp), xin phép để chữ chuẩn xác hơn là (thâu: thua).
Câu 674: Điển: Nàng Đề Oanh đời Hán dâng thư xin chuộc tội cho cha, Hán Văn đế cảm lòng hiếu thảo đó tha tội cho cha nàng. Và nàng Lý Ký đời Đường phải bán mình cho làng cúng thần rắn để cứu cha mẹ, sau nàng giết được thần rắn, vua nước Việt nghe tin đón nàng về làm vợ.
Câu 675: B-T: CỖI.
Câu 677: B-T: LÒNG TƠ.
Câu 679: B-T: THÂN. Ý nghĩa như nhau nhưng chữ THÂN đọc êm vần hơn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:25 am

Từ câu 681 - 700

Phận đành đành vậy cũng vầy

680. Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh

Cũng đừng tính quẩn toan quanh

Tan nhà là một thiệt mình là hai".

Phải lời ông cũng êm tai

Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang

685. Mái ngoài họ Mã vừa sang

Tờ hoa đã ký cân vàng mới trao

Trăng già độc địa làm sao

Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên

Trong tay đã sẵn đồng tiền

690. Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì

Họ Chung ra sức giúp vì

Lễ tâm đã đặt tụng kỳ cũng xong

Việc nhà đã tạm thong dong

Tinh kỳ giục giã đã mong độ về

695. Một mình nàng ngọn đèn khuya

Áo dầm giọt tủi tóc chia mái sầu

Phận dầu dầu vậy cũng dầu

Chút lòng đeo đẳng bấy lâu một lời.

Chú Thích:

Câu 681: B-T: Phận SAO.
Câu 682: Nguyên bản khắc chữ , cách viết khác của chữ chẳng .
Câu 683: B-T: LO quanh.
Câu 690: Hai câu trên do chuyện ông già ngồi trên cung trăng xe tơ duyên cho người dưới trần (nguyệt lão, ông tơ bà nguyệt).
Câu 693: Viết là chữ CHẤP, nhưng rõ ràng phải đọc GIÚP.
Câu 694: Tụng kỳ: kỳ xử án, TỤNG có trong chữ KIỆN TỤNG, TỐ TỤNG... Lễ tâm: lễ thành, thực ra đây là của đút (có ý châm biếm).
Câu 696: Tinh kỳ giục giã: Ý giục ngày rước dâu, vì rước dâu phải xem sao, xem ngày giờ.
Câu 696: B-T: TRỞ về.
Câu 698: B-T: Áo dầm giọt LỆ, tóc SE mái sầu.
Câu 700: B-T: XÓT lòng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:28 am

Từ câu 701 - 720

Công trình kể biết mấy mươi

700. Vì ta khăng khít cho người dở dang

Thề hoa chưa ráo chén vàng

Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa

Trời Liêu non nước bao xa

Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi

705. Biết bao duyên nợ thề bồi

Kiếp này thôi thế là thôi còn gì

Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

Nợ tình chưa trả cho ai

710. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan

Nỗi riêng riêng những bàn hoàn

Dầu chong trắng đĩa giọt tràn thắm khăn

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan

Một nhà để chị riêng oan một mình

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây".

Chú Thích:

Câu 703: Thề hoa: dịch chữ tiên thề, lời thê viết trên giấy hoa tiên.
Câu 705: Liêu Dương, nơi Kim Trọng về hộ tang chú.
Câu 708: B-T: THÌ.
Câu 710: Dựa theo thuyết luân hồi: Ý nói kiếp này mắc nợ (chưa dứt hương thề), thì kiếp sau (tái sinh) làm thân trâu ngựa mà trả nợ, đền cái tình nghĩa trúc mai cho người ta! NGHÌ là NGHĨA, cũng còn đọc là NGÃI.
Câu 712: Câu này B-T có dẫn một điển tích cổ, nhưng chúng tôi thấy câu rất rõ ý và rất hay, nên lược bỏ điển đó.
Câu 713: Bàn hoàn: lưu luyến, quấn quít bên nhau.
Câu 714: B-T: LỆ tràn THẤM khăn. Chú ý đãi trắng tức là hết đĩa.
Câu 720: B-T: VỚI.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:31 am

Từ câu 721 - 740

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong

Hở môi ra cũng thẹn thùng

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai

Cậy em, em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

725. Giữa đường đứt gánh tương tư

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kỳ

730. Hiếu tình khôn nhẽ hai bề vẹn hai

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

735. Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Chú Thích:

Câu 721: B-T: RỌN RÃ THỨC đầy.
Câu 737: B-T: chiếc VÀNH (vòng). B-T có nói các bản cũ và bản Kinh đều để chữ VÀNH, vì chiếc thoa đã tặng Kim Trọng. Nhưng theo phân tích của tác giả của TT12 thì vật Kiều tặng là khăn gấm quạt quỳ, còn chiếc thoa đã trả lại Kiều, nhưng thế thì "xuyến vàng đôi chiếc" (câu 318), mà Kim đem tặng Kiều ở đâu không thấy nhắc đến?

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:33 am

Từ câu 741 - 760

Mất người còn chút của tin

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy lựa tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

745. Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rẩy xin chén nước cho người thác oan

Bây giờ gương vỡ người tan

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên vắn vủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

755. Ôi Kim lang, hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây".

Cạn lời phách tán hồn bay

Một hơi lặng ngắt, đôi tay lạnh đồng.

Chú Thích:

Câu 744: B-T: SO tơ.
Câu 749: Dạ đài: đài đêm, chỗ tối tăm, tức là cõi âm.
Câu 750: Có bản phiên TƯỚI, nhưng không phải dị bản, chữ này có cả hai âm.
Câu 751: B-T: Bây giờ TRÂM GÃY GƯƠNG TAN. Chú ý VỠ có lẽ phải đọc LỞ, nghĩa cũng gần như VỠ, trong BẢNG TRA CHỮ NÔM không thấy có có âm VỠ, chúng tôi do dự nên cứ để VỠ theo TT12.
Câu 754: B-T: NGẮN NGỦI. Nghĩa cũng như nhau, nhưng chữ VẮN VỦI có vẻ cổ hơn, nên phiên VẮN VỦI để giữ chút không khí cổ.
Câu 756: Nguyên bản viết chữ làng giống như là , xin phép để chữ làng thông dụng.
Câu 759: B-T: HỒN NGẤT, MÁU SAY.
Câu 760: B-T: LẠNH ngắt.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   Mon Nov 28, 2011 8:36 am

Từ câu 761 - 780

Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng

760. Một nhà tấp nập kẻ trong người ngoài

Kẻ thang người thuốc bời bời

Mới dầu cơn vựng, chưa phai giọt hồng

Hỏi sao ra sự lạ lùng

Kiều càng nức nở mở không ra lời

765. Nỗi nàng Vân mới rỉ tai

"Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây

Này cha làm lỗi duyên mầy

Thôi thì nỗi ấy sau này đã em

Vì ai rụng cải rơi kim

770. Để con bèo nổi mây chìm vì ai

Lời con dặn lại một hai

Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng".

Lạy thôi nàng mới rén chiềng

"Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi

775. Sá chi thân phận tôi đòi

Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu".

Xiết bao kể nỗi thảm sầu

Khắc canh đã giục thú lâu mấy hồi.

Chú Thích:

Câu 764: B-T: DẦU hay GiẦU nghĩa là nguôi, dịu bớt (có lẽ còn có nghĩa là phai lạt, có chữ: dãi dầu), CƠN VỰNG là cơn mê, ngất.
Câu 768: B-T: Chiếc VÀNH này với tờ bồi NÀY đây, chữ bồi này là đền trả tức là thề bồi, chứ không phải tờ giấy bồi!
Câu 771: Sách BÁC VẬT CHÍ nói "hổ phách hút được hạt cải, đá nam châm hút được chiếc kim", do đó phận cải duyên kim chỉ lương duyên, còn rụng cải rơi kim chỉ sự chia lìa.
Câu 775: B-T: LẠI rén chiềng, chữ TRÌNH đọc trại ra CHIỀNG cho hợp vần.
Câu 780: B-T, TT12 đều để: NAM lâu.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đoạn Trường Tân Thanh   

Về Đầu Trang Go down
 
Đoạn Trường Tân Thanh
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 5 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next
 Similar topics
-
» Quy chế (bản dự thảo)
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Tiếp tục làm rõ các sai phạm của Vinashin
» Từ con diều giấy đến chiếc máy vi tính

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Truyện Thơ-
Chuyển đến