Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
bính Huynh thường Liên Phong quang miền nhất Trọng nguyễn dũng

Share | 
 

 Nguyễn Hữu Huân

Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 2:58 pm

Nguyễn Hữu Huân
(1830-1875)


Vài nét về tác giả:

Nguyễn Hữu Huân (chữ Hán 阮友勳), được biết nhiều với danh hiệu Thủ Khoa Huân. Ông là một sĩ phu yêu nước, một lãnh tụ khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở Nam Kỳ (Việt Nam) vào khoảng cuối thế kỷ 19.

Nguyễn Hữu Huân là người làng Mỹ Tịnh An, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường; nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Thuở nhỏ ông thông minh và học giỏi. Tương truyền, năm Nhâm Tý (1852) dưới triều Tự Đức, ông dự thi Hương và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Sau đó, ông được bổ nhiệm và dần trải đến chức Giáo thụ phủ Kiến An.

Khi quân Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (trong đó có tỉnh Định Tường quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước khác, ông đã cầm vũ khí đứng lên chống Pháp vào tháng 5 năm 1859, và được cử giữ chức Phó quản đạo.

Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho. Khoảng tháng 6 năm 1862, Nguyễn Hữu Huân đem nghĩa quân gia nhập lực lượng Trương Định.

Ngày 5 tháng 2 năm 1863, quân Pháp tấn công vào căn cứ Tân Hòa (Gò Công). Căn cứ thất thủ, Trương Định kéo quân về vùng Lý Nhơn (nay thuộc huyện Duyên Hải, thành phố Hồ Chí Minh). Khi ấy, Nguyễn Hữu Huân về khởi nghĩa ở Bình Cách (Tân An), trực tiếp lãnh đạo lực lượng nghĩa quân ở Định Tường. Quân Pháp tấn công Bình Cách, Nguyễn Hữu Huân phải rút quân về Thuộc Nhiêu (nay thuộc Cai Lậy, Tiền Giang),

Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu. Đến đến cuối năm đó, thì ông rút quân đến An Giang gặp Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên Hộ Dương). Đầu năm sau (1864), ông cùng thủ lĩnh Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.

Nguyễn Hữu Huân cho chuyển quân về vùng Thất Sơn, An Giang tiếp tục chiến đấu. Bộ chỉ huy quân đội Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông này không tuân theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862).

Nghe tin ông bị bắt, vợ là Lê Thị Lộc đã đến An Giang để đưa đơn xin tha cho chồng nhưng không kịp. Bị giải đến Sài Gòn, mặc dù thực dân Pháp đem mọi thứ ra dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn kiên quyết chối từ. Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 8 năm 1864, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày đi Cayenne, là một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo cho các "sinh đồ" ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ.

Lợi dụng điều kiện đi dạy học, Nguyễn Hữu Huân liên lạc với các sĩ phu yêu nước và hội kín Hoa kiều Trường Phát, nhờ mua vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa. Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình bất lợi đó, ông ra lệnh giải tán, bí mật trốn khỏi nhà Tổng đốc Phương tìm đường về lại Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ ba (1872). Lần này dân chúng theo Nguyễn Hữu Huân rất đông, trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ...địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý - Cai Lậy.

Cuối năm 1874, quân Pháp có Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương đánh vào căn cứ ở Bình Cách. Cản ngăn không nổi, nghĩa quân bỏ chạy tán loạn. Nguyễn Hữu Huân thoát được về Chợ Gạo, đến khoảng tháng 3 năm sau, ông trở lại vùng Tân An để tập hợp lại lực lượng, thì bị bắt vì bị chỉ điểm.

Nhà cầm quyền Pháp giam Nguyễn Hữu Huân ở Mỹ Tho. Sau khi chiêu hàng không thành, họ kết án tử hình ông. Trước khi thụ hình, ông nhắn vợ con tế sống mình và gửi vải vào cho ông đề thơ và câu liễn (Liễn tuyệt mệnh) thờ.

Ngày 15 tháng 4 năm Ất Hợi (19 tháng 5 năm 1875), đối phương cho tàu chở Nguyễn Hữu Huân xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An và hành quyết ông lúc 12 giờ trưa.

Tác phẩm:

Nguyễn Hữu Huân làm nhiều thơ không nhiều, và hầu hết sáng tác của ông đều làm trong thời kỳ kháng Pháp. Thơ Nguyễn Hữu Huân không có tựa đề, đa phần các sách căn cứ nội dung để đặt tên cho bài, cho nên có khi tên bài ở mỗi sách mỗi khác. Và trong thơ của ông, ở một vài câu chữ cũng không tránh khỏi dị bản.

Nguồn: internet

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 3:11 pm

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 3:26 pm

Cảm hoài [1]


Kém danh vì bởi nước thăng trầm

Vùng vẫy không lên nỗi cạn dằm[2].

Khép háng anh hùng ngồi thở vắn,

Khoanh tay hào kiệt đứng than thầm.

Trong dò hàng giặc chưa xong giá[3],

Ngoài ngóng tin triều đã bặt tăm.

Chẳng biết bao giờ hồi phục lại,

Một tay buồm lái để ai cầm.



Nguyễn Hữu Huân
(Nguồn: Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất do nhóm tác giả: Phạm Thiều-Cao Tự Thanh-Lê Minh Đức biên soạn. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, tr. 101.)


1. Theo "Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tiểu truyện" (sách cũ, không rõ tác giả) thì bài này do ông làm lúc bị giam cầm ở đảo Cayenne. Tuy nhiên theo nghiên cứu của các tác giả sách "Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất", thì bài này được ông sáng tác trong khoảng thời gian bị quản thúc tại nhà Tổng đốc Phương ở Sài Gòn. Vì lẽ đó, nhóm tác giả sách đã đặt tên cho bài thơ như trên.
2. Dằm: Vết thuyền kéo trong bùn hoặc vết nước rẽ ra khi thuyền đi qua. Cạn dằm ở đây có nghĩa như là gặp lúc nước cạn, bị sa lầy.
3. Tác giả muốn đề cập tới tình hình ngoại giao giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp trước Hoà ước Giáp Tuất (1874).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 3:48 pm

Cây bắp


Luống chịu ba trăng[1] trấn cõi bờ,

Hiềm vì thương chút chúng dân thơ.

Nương oai tích lịch[2] ôm con đỏ,[3]

Vâng lịnh nam phong[4] phất ngọn cờ.

Miễn đặng an nhà thêm lợi nước

Chi nài dãi gió lại dầm mưa.

Biển hồ dầu lặng tăm kình bặt

Giải giáp[5] một phen chúng thảy nhờ.



Nguyễn Hữu Huân
(Theo "Việt Nam Danh Sĩ" tác giả: Nhất Tam, Tủ sách "Những Mảnh Gương" phần phụ sách "Huỳnh Mẫn Đạt", NXB Tân Việt 10-1956)


1. Ba trăng: ba tháng. (Lấy trăng làm độ thời gian, mỗi tuần trăng từ tượng hình đến tròn, khuyết rồi lặn là 1 tháng. Cũng như dùng chữ Thu hoặc Xuân dùng để chỉ năm, vì mỗi năm chỉ có một độ thu hay xuân. Như nói ba thu hoặc ba xuân tức ba năm)
2. Oai tích lịch: sấm sét, dữ dằn.
3. Con đỏ: Do chữ Xích tử. Trẻ sơ sinh còn đỏ hỏn, còn yếu ớt. Ý nói nâng niu lo lắng
3. Nam phong: gió Nam. Cơn mát mẻ, lúc có thể làm nên việc.
4. Giải giáp: cởi áo giáp. Nghĩa đen trong bài là lột vỏ bắp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 4:18 pm

Khi được tha về


Tòng cúc[1] tuy mừng hãy đặng còn

Râu mày thêm thẹn với sông non.

Miếu đường[2] cách trở bề tôi chúa,

Gia thất[3] riêng mang nỗi vợ con.

Áo Hán[4] nhiều phần thay vẻ lạ,

Rượu Hồ[5] một mặt đắm mùi ngon.

Giang Đông[6] mắng tiếng[7] đa tài tuấn[8],

Cuốn đất kia ai dám hỏi đon[9].




Nguyễn Hữu Huân
(Theo "Việt Nam Danh Sĩ" tác giả: Nhất Tam, Tủ sách "Những Mảnh Gương" phần phụ sách "Huỳnh Mẫn Đạt", NXB Tân Việt 10-1956)


VXTĐ: Xem thêm bản: Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất do nhóm tác giả: Phạm Thiều-Cao Tự Thanh-Lê Minh Đức biên soạn. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, tr. 93-94. Những chữ gạch dưới là những chữ khác nhau giữa 2 bản.

Tùng cúc ngày xưa thấy đặng còn
Thân này chẳng thẹn với sông non.
Miếu đường xa cách niềm tôi chúa,
Gia thất buộc ràng nghĩa vợ con.
Áo Hán mười phần thay cách lạ,
Rượu Hồ một mực đắm mùi ngon.
Giang Đông vẫn biết nhiều anh tuấn,
Cuốn đất kìa ai dám hỏi don.



1. Tòng cúc: Cây tùng và hoa cúc. Biểu hiện vẻ thanh cao, bậc có đạo đức, trung nghĩa thường lấy đó làm vui cảnh muộn.
2. Miếu đường: Nơi thờ phụng, chốn triều đình thâm nghiêm.
3. Gia thất: nhà cửa.
4. Áo Hán: dịch chữ Hán Y Quan. Ý nói người nước đã có nhiều bọn xu phụ thời thế mà thay đổi tâm chí.
5. Rượu Hồ: Ý nói bọn quên nước quên nòi đã đắm say những bã cám dỗ của nước ngoài.
6. Giang Đông: Nơi Hạng Vũ dấy binh, được quần chúng ủng hộ trong bước đầu.
7. Mắng tiếng: Nghe tiếng rằng
8. Đa tài tuấn: nhiều trang tài giỏi, mạnh mẽ.
9. Hỏi đon (hỏi don): là hỏi với vẻ sốt sắng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 4:52 pm

Mang gông


Hai bên thiên hạ thấy hay không?

Một gánh cang thường, há phải gông!

Oằn oại đôi vai quân tử trúc,[1]

Long lay một cổ trượng phu tòng[2].

Thác về đất Bắc danh còn rạng[3],

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không[4].

Thắng bại dinh hư[5] trời khiến chịu,

"Phản thần"[6], "đéo hỏa" đứa cười ông!




Nguyễn Hữu Huân
(Theo "Việt Nam Danh Sĩ" tác giả: Nhất Tam, Tủ sách "Những Mảnh Gương" phần phụ sách "Huỳnh Mẫn Đạt", NXB Tân Việt 10-1956)


1. Quân tử trúc: Thân trúc ngay thẳng ví như người quân tử. Đây ý nói cái gông.
2. Trượng phu tòng: Thân tùng hiên ngang ví như người trượng phu. Cũng nói về cái gông như câu trên. Ý tự hào.
3 & 4: Có bản chép: câu trên: "Sống về...", câu dưới "Thác ở...". E sai vì đây ý nói: Thà chết cho trọn tình cùng triều đình mà danh rạng ở ngàn thu còn hơn chịu đầu hàng để cầu lấy cái sống thì còn gì mà tự hào được nữa.
5. Dinh hư: Đầy vơi. Thằng bại dinh hư nghĩa: những cảnh thăng trầm từng trải.
6. Phản thần: Kẻ làm tôi không tròn tiết nghĩa, quên nòi quên nước.
7. Đéo hỏa: Hay "đéo oả", tiếng chửi ở miền Nam, có sách "đéo mẹ".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Mon Aug 06, 2012 5:00 pm

Nợ nước[1]


Muôn việc cho hay số ở trời

Cái thân chìm nổi biết là nơi.

Mấy hồi tên đạn ra tay thử,

Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.

Chén rượu Tân đình[2] nào luận tiệc

Câu thơ cố quốc[3] chẳng ra lời,

Cang thường[4] bởi biết mang nên nặng,

Hễ đứng làm trai chác nợ đời




Nguyễn Hữu Huân
(Theo "Việt Nam Danh Sĩ" tác giả: Nhất Tam, Tủ sách "Những Mảnh Gương" phần phụ sách "Huỳnh Mẫn Đạt", NXB Tân Việt 10-1956)


1. Bài thơ này có bản đặt tên là "Đi đày".
2. Tân đình: (nhà lớn ở một đám đất cao thoáng để làm nơi đón, đưa khách) Thân Bao Tư vì nước Sở mà sang Tần cầu cứu. Vua Tần không từ chối nhưng cũng không giúp gì cả chỉ lưu Bao Tư ngày qua ngày ở Tân đình khoản đãi. Bao Tư không thiết gì ăn uống, vì nước mà khóc nức nở.
3. Cố quốc: nước cũ.
4. Cang thường hay cương thường: Giềng mối thường, có ba giềng thường mà hệ trọng: Quân vi thần cang (Vua làm giềng mối cho bầy tôi); phụ vi tử cang (Cha làm giềng mối cho con); phu vi thê cang (Chồng làm giềng mối cho vợ).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 8:26 am

Tặng vợ bài 1 [1]


Xem qua thư gửi rất kinh hoàng,

Nhi nữ chà chà cũng lớn gan.

Đơn bẩm cuối lòn loài bạch quỷ[2],

Sân quỳ vất vả phận hồng nhan.

Bán mình đâu nệ phiền lòng sắt,

Chuộc tội thà xin trọn nghĩa vàng.

Tiết khí dưới trần coi ít mặt,

Cang thường càng chuộng gánh giang san.




Nguyễn Hữu Huân
(Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất, Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức biên soạn, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986. )


1. Khi tác giả bị Pháp bắt giam ở An Giang, vợ ông là bà Lê Thị Lộc đã lặn lội đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và đòi Pháp thả chồng. Được tin, ông xúc động làm ra hai bài thơ này (lúc đó, ông đã bị giải lên giam ở Sài Gòn).
2. Bạch quỷ: chỉ quân Pháp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 8:30 am

Tặng vợ bài 2 [1]


Đã sanh làm gái vẹn theo chồng

Hóa đá kìa ai cũng đứng trông

Vận rốt[2] kể gì cơn gió bụi,

Đạo hằng[3] hãy trọn với non sông.

Cửa gai[4] hiu hắt sương in mặt,

Trướng vải lôi thôi nguyệt tỏ lòng.

Tan hợp dẫu rằng cơ tạo hóa

Liễu bồ[5] ướm thử lúc trời đông.




Nguyễn Hữu Huân
(Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất, Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức biên soạn, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986). Đầu đề cũng do nhóm tác giả này đặt.


1. Khi tác giả bị Pháp bắt giam ở An Giang, vợ ông là bà Lê Thị Lộc đã lặn lội đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và đòi Pháp thả chồng. Được tin, ông xúc động làm ra hai bài thơ này (lúc đó, ông đã bị giải lên giam ở Sài Gòn).
2. Vận rốt: dịch từ chữ "mạt vận".
3. Đạo hằng: đạo lý mà mọi người đều thừa nhận và làm theo.
4. Cửa gai: dịch chữ "sài môn", chỉ cảnh nhà nghèo.
5. Liễu bồ: tức cây liễu và cỏ bồ, thường dùng để ví với người phụ nữ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 8:35 am

Tha bang cảm tác


Có ai tri kỷ nhắn đôi lời

Biết thú chi vui rủ dạo chơi.

Chốn cũ phong lưu quen những thuở,

Cảnh này quyến thức[1] nhắm không người.

Ở ăn tuy phải nương cùng tục

Khó nhọc đà nên cực nỗi đời.

Hương hỏa[2] ba sinh[3] dầu chẳng toại

Đừng đem hình dịch[4] để trêu ngươi.




Nguyễn Hữu Huân


1. Quyến thức: gia đình và bạn bè.
2. Hương hỏa: tức hương hỏa nhân duyên, là duyên gắn bó vốn có từ kiếp trước.
3. Ba sinh: ba kiếp sống luân hồi duyên nợ gắn bó của một con người.
4. Hình dịch: lao dịch trong nhà tù.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 8:39 am

Thuật hoài [1]


Khó gọi thâm nghiêm cửa chín trùng[2],

Ngày nào cha mẹ[3] cứu con cùng.

Bốn mùa man mác tình nhà cửa,

Trăm dặm đau buồn cảnh núi sông.

Mây trắng đã giăng trời Bến Nghé,

Nắng chiều dường cháy đất Gò Công.

Ngọn cờ phá lỗ[4] bao giờ thấy,

Thiên hạ người đều ngóng cổ trông.




Nguyễn Hữu Huân
(Nguyễn Hữu Huân: nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất, Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức biên soạn, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986).


1. Tương truyền, bài này tác giả làm để lại cho Đỗ Hữu Phương trước lúc trốn về An Giang khởi nghĩa lần thứ ba (nên có sách đã ghi đầu đề là Gửi Đỗ Hữu Phương).
2. Chín trùng: dịch chữ “cửu trùng”, chỉ nhà vua.
3. Cha mẹ: ý nói cha mẹ của dân (dân chi phụ mẫu). Ở câu này nó dùng để chỉ quan lại nhà Nguyễn.
4. Phá lỗ: phá giặc.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 9:00 am

Tuyệt mệnh thi [1]

Bản chữ Hán

絕命詩

汗馬難堪為國仇,
只因兵敗致身休。
英雄莫把贏偷論,
宇宙長看節義留。
無怖以驚胡虜魄,
不降甘斷將君頭。
當年萩水波流血,
龍島秋風起暮愁。
Phiên âm Hán Việt

Tuyệt mệnh thi

Hãn mã nan kham vị quốc cừu,
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu.
Anh hùng mạc bả doanh thâu luận,
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.
Vô bố dĩ kinh Hồ lỗ[2] phách,
Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu.
Ðương niên Tho thủy[3] ba lưu huyết,
Long đảo[4] thu phong khởi mộ sầu.

Dịch thơ:

Thơ tuyệt mệnh

Bản dịch Phan Bội Châu:

Ruổi dong vó ngựa trả thù chung,
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua sá kể với anh hùng!
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ,
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho Thuỷ ngày rày pha máu đỏ,
Ðảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.


Bản dịch Diệp Văn Kỳ:

Bâng khuâng thù nước mòn hơi câu,
Bại trận nên chi phận dãi dầu.
Tuấn kiệt đâu màng cơn được mất,
Trung trinh nào sợ bước lờ lu.
Rơi đầu chẳng chịu hàng quân giặc
Lớn mật làm cho rúng lũ thù.
Sông Mỹ năm xưa tràn giọt máu,
Cồn Rồng đêm tối gió buồn thu.


Bản dịch Thượng Tân Thị:

Mồ hôi ngựa nước thù khó nổi
Nhân thua binh đến nỗi mình không.
Hơn thua chớ luận anh hùng
Dài xem tiết nghĩa lưu trong cõi bờ.
Lòng chả sợ hải hơ phách giặc,
Đầu tướng quân đành chặt không hàng.
Sông Tho nay giọt máu tràn,
Chiều Thu gió thổi sầu lan cồn Rồng.


Bản dịch Nàng Út:

Ngựa đẫm mồ hôi báo quốc cừu,
Binh tàn thân chết, xiết ưu tư.
Miễn còn tiết nghĩa trong trời đất,
Đừng nghĩ anh hùng chuyện được thua.
Tai giặc hoảng nghe lời khẳng khái,
Đầu rơi ông tướng chẳng hàng đâu.
Năm xưa, sông Mỹ tuôn dòng máu,
Long đảo chiều thu nổi gió sầu.




1. Tương truyền, bài này tác giả làm ngay trước lúc bị hành hình ở chợ Thân Trong (tức chợ Phú Kiết, Mỹ Tho). Khi ấy một đại tá Pháp vốn mến mộ tiết tháo của ông đã hỏi ông còn nguyện vọng gì không. Ông chỉ xin cho vợ con tế sống ông và xin vải viết bài thơ này với đôi liễn cho vợ con thờ.
2. Hồ lỗ: trong câu này dùng chỉ quân Pháp.
3. Tho thủy: sông Mỹ Tho.
4. Đảo Rồng: cù lao Rồng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   Tue Aug 07, 2012 9:23 am

Đôi liễn thờ [1]


Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,

Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.



Tạm dịch


(Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng

Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua)





Nguyễn Hữu Huân
(Theo "Việt Nam Danh Sĩ" tác giả: Nhất Tam, Tủ sách "Những Mảnh Gương" phần phụ sách "Huỳnh Mẫn Đạt", NXB Tân Việt 10-1956)


1. Trước lúc bị hành hình ở chợ Thân Trong (tức chợ Phú Kiết, Mỹ Tho). Khi ấy một đại tá Pháp vốn mến mộ tiết tháo của ông đã hỏi ông còn nguyện vọng gì không. Ông chỉ xin cho vợ con tế sống ông và xin vải viết bài thơ Tuyệt Mệnh với đôi liễn này cho vợ con thờ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Hữu Huân   

Về Đầu Trang Go down
 
Nguyễn Hữu Huân
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Con Lưu Ngọc Tuấn, Lê Hữu Sang, và Phan Nguyễn quốc Tú
» Cây si trên tàu- Gửi Phan Nguyễn Quốc Tú
» Tài liệu Điều động tàu của thầy Nguyễn Viết Thành
» KHÁNH THÀNH NGÔI NHÀ TÌNH BẠN
» gởi chú Phan Nguyễn Quốc Tú

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến