Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

October 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Khuyến
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords
miền Liên

Share | 
 

 Nam Hải Dị Nhân

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 1:55 pm

Nam Hải Dị Nhân
- Phan Kế Bính -



Vài nét về tác giả:

Phan Kế Bính (1875 – 1921), hiệu là Bưu Văn, bút hiệu Liên Hồ Tử, là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Phan Kế Bính quê ở làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội). Năm Bính Ngọ (1906), Phan Kế Bính dự thi Nho học và đỗ Cử nhân, nhưng không ra làm quan, mà ở nhà dạy học. Trong thời gian này, ông công khai hưởng ứng phong trào Duy Tân, nhưng không trực tiếp chỉ đạo. Từ 1907, ông bắt đầu viết báo cho nhiều tờ báo trong nước, trong vai trò là một trợ bút, chủ yếu là dịch thuật, biên khảo sách chữ Hán. Sau đó ông lần lượt cộng tác với các tờ báo: Ðông Dương tạp chí, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn. Đặc biệt là với tờ Đông Dương tạp chí, ông có thời gian làm trong ban biên tập Đông Dương tạp chí, và tác phẩm của ông phần lớn đều từng đăng trên tạp chí này.

Tác phẩm
Các sách biên khảo:

"Việt Nam phong tục" (1915): nghiên cứu nghiêm túc, có tính phản biện, về thuần phong mỹ tục của Việt Nam;
"Hán Việt văn khảo" (1918): bàn về văn chương chữ Hán ở Trung Quốc, Việt Nam và triết học Trung Quốc;
Các sách viết về danh nhân Việt Nam: "Nam hải dị nhân" (1909), "Hưng Đạo Đại vương" (1912).

Sách dịch thuật:

"Đại Nam nhất thống chí" (1916);
"Ðại nam điển lệ toát yếu" (1915 - 1916);
"Việt Nam khai quốc chí truyện" (1917);
"Đại Nam liệt truyện tiền biên" (1918);
"Ðại Nam liệt truyện chỉnh biên" (1919);
Đặc biệt là bộ "Tam quốc chí diễn nghĩa" dịch chung với Nguyễn Văn Vĩnh.

Phan Kế Bính mất lúc mới 46 tuổi vào năm Tân Dậu (1921).

Nguồn: internet

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 2:22 pm

MỤC LỤC
CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT
  • LÝ THÁI TỔ
  • LÊ THÁI TỔ

  • CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN
  • TRỊNH KIỂM
  • LƯƠNG HỮU KHÁNH
  • PHẠM ĐÌNH TRỌNG
  • CHƯƠNG THỨ III: CÁC BẬC DANH HIỀN
  • NGUYỄN BỈNH KHIÊM
  • ĐẶNG ĐÌNH TƯỚNG
  • CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI
  • PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG
  • LÊ NHƯ HỔ
  • PHÙNG KHẮC KHOAN
  • LÊ QUÍ ĐÔN
  • CHƯƠNG THỨ V: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG
  • ĐINH VĂN TẢ
  • VÕ TÁNH
  • NGUYỄN VĂN THÀNH
  • LÊ VĂN DUYỆT

  • CHƯƠNG THỨ VI: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG
  • TÔ LỊCH GIANG THẦN
  • BẠCH MÃ THẦN
  • SÓC THIÊN VƯƠNG
  • LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA
  • CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH
  • TỪ ĐẠO HẠNH
  • NGUYỄN MINH KHÔNG
  • TRẦN LỘC
  • CHƯƠNG THỨ VIII: CÁC NGƯỜI CÓ DANH TIẾNG
  • TẢ AO
  • NGUYỄN THỊ ĐIỂM

  • Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 2:33 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    TỰA


    Hào kiệt anh tài là khí tinh anh của một nước, cho nên nước nào cũng có, mà thời nào cũng có. Lớn thì gây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông; nhỏ thì lập nên công nghiệp, để danh tiếng về sau; cũng là làm gương cho người đời cả.

    Nước Nam ta từ xưa đến nay, trải hơn 4.000 năm, chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng; nhưng bởi vì sự tích xa xôi mà không rõ, hoặc vì sử sách biên sót mà không tường. Chỉ còn người nào ghi vào sử, hoặc chép vào ký tái của các tư gia, thì còn có thể lưu truyền lại được.

    Nhưng lại ngặt vì sách thì ít, cho nên lưu truyền ra không được rộng. Người ta nói truyện cổ tích chẳng qua chỉ một vài người được trông vào sách, rồi thì truyền khẩu cho nhau, lõm bõm người nhớ khúc này, kẻ nhớ khúc kia, mỗi người truyền đi lại sai một tý, té ra nhầm lẫn sai cả sự thực của người xưa. Vả chăng mình là người nước Nam, mà sự tích các bậc danh giá trong nước Nam mình không biết, chẳng hóa ra kiến thức của mình kém lắm dư?

    Vì vậy chúng tôi kê cứu trong chính sử và các tạp ký tìm những truyện các người có danh vọng, có sự tích lạ lùng, chia ra từng môn từng mục, cứ theo thể thức trước sau mà đặt, gọi là “Nam Hải dị nhân liệt truyện”, trước là để lưu cái sự tích của người trước, sau là để các văn nhân tài tử xem cho biết anh tài nước mình, thì chẳng những là giúp được khi vui cười, mà cũng có thể tư ích trí khôn được cho người ta nữa.

    Còn như những sự quái lạ, là lời tục truyền để lại, thì chúng tôi cũng theo mà chép vào đây, hoặc có, hoặc không, tùy người xem nên lấy nghĩa lý mà đoán, chớ cũng không dám chắc là có những việc ấy cả.

    Ngày 27 tháng sáu năm Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân thứ Sáu (le 9 Avril 1912).

    PHAN KẾ BÍNH cẩn tựa
    LÊ VĂN PHÚC hiệu chính


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 2:45 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT

    TRƯNG VƯƠNG



    Hình minh họa nguồn internet
    Xưa về thời nội thuộc nhà Đông Hán, ở huyện Mê Linh, đất Phong Châu (tức huyện An Lãng, tỉnh Phúc Yên bây giờ), có quan Lạc tướng họ Hùng sinh được hai người con gái, chị tên là Trắc, em tên là Nhị; hai chị em vốn có tiếng anh hùng.
    Chị lấy chồng tên là Thi Sách, về dòng dõi vua Hùng Vương, làm quan châu ở bộ Chu Diên (bây giờ là phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên).

    Quan Thái thú bấy giờ tên là Tô Định, tính tham tàn hay hại người, thấy Thi Sách lấy được bà ấy, sợ về sau có mưu phản gì chăng, mới kéo binh vây thành Chu Diên, giết mất Thi Sách.

    Bà ấy tức giận lắm, cùng với em là Nhị chiêu binh tập mã, để đánh bào thù chồng. Các hào kiệt trong nước ai cũng có bụng oán Tô Định, tranh nhau kéo đến theo bà ấy; không bao lâu được hơn 10 vạn quân, bà ấy mới đem quân đến đánh Tô Định. Tô Định chống giữ không nổi, phải chạy ra bể Nam Hải rồi lẻn về Tàu. Bà ấy thừa thế đánh tràn, hạ được 56 thành ở xứ Lĩnh Nam (thuộc hạt Quảng Đông, Quảng Tây, nước Tàu); mới đổi là họ Trưng, tự lập lên làm vua, gọi là Trưng Vương, bấy giờ là năm Canh Tý niên hiệu Kiến Võ thứ 16 đời vua Quang Vũ nhà Hán (sau Thiên Chúa 40 năm).

    Bà Trưng Vương làm vua được 3 năm, vua Quang Vũ sai quan Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem binh sang đánh. Bà Trưng Vương đem quân chống nhau với quân Tàu ở hồ Lãng Bạc (tức hồ Tây, Hà Nội). Mã Viện tài kiêm văn võ, mà lại khéo dùng binh, đánh nhau mấy trận thì quân của bà Trưng Vương cùng thua cả, mới lui về giữ Cấm Khê (bây giờ thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây). Bà ấy nghĩ mình là quân ô hợp, không thể đương được với quân Mã Viện, mà hàng thì bà ấy cũng không chịu hàng. Sau mới rút quân về đến xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc (tức là huyện Phúc Thọ, thuộc Sơn Tây), thì bà ấy bức chí nhảy xuống sông Hát giang tự tận.

    Em là Trưng Nhị thấy chị đã liều mình xuống sông, cũng liều mình xuống theo chị nốt.

    Than ôi! Một đôi nữ anh hùng nước Nam, tuy vì tài liễu yếu đào thơ, không làm được công nghiệp oanh oanh liệt liệt; nhưng biết giận kẻ tàn ác, khởi binh đánh đuổi đi, cũng lừng lẫy được một thời mà lưu danh thiên cổ, gây dựng nền độc lập cho đời sau. Khá khen thay! Khá khen thay!

    Từ lúc hai bà ấy xuống sông, rồi hóa ra hai người bằng đá, nổi lênh đênh trên mặt nước trôi đi. Các làng quanh sông thấy vậy, tranh nhau ra khấn để vớt về thờ, nhưng chỉ cho làng Đồng Nhân huyện Thanh Trì (bây giờ thuộc về tỉnh Hà Đông) vớt được, mới lập đền thờ ở bãi làng ấy. Dân xã Hát Môn thấy sự thiêng làm vậy, cũng lập đến thờ vọng ở bên sông.

    Đến đời vua Anh Tôn nhà Lý, chỗ bãi Đồng Nhân lở gần đến miếu thờ. Vua sai làng Hưng Viên bên trong đê, ra đền rước tượng hai bà ấy vào, rồi vua ban tiền bạc cho dân lập miếu mà thờ, phong sắc là “Trinh linh chi phu nhân”. Đền ấy bây giờ vẫn còn, tục gọi là đền Hai Bà.

    Đến đời nhà Trần, lại phong thêm tám chữ: “Uy liệt chế thắng thuần trinh bảo thuận”.

    Đến bây giờ vẫn còn anh linh lắm.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 2:51 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT

    BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Về thời nội thuộc nhà Đường ở quận Đường Lâm (bây giờ là làng Cam Lâm thuộc huyện Phúc Thọ, Sơn Tây), có ông Phùng Hưng, nguyên đời đời được tập phong làm Tù trưởng châu ấy (tức là quan lang).

    Nhà ông Phùng Hưng giầu có quyền hành nhất vùng ấy, lại có sức khỏe lạ thường, có thể đấm chết hổ, đẩy ngã trâu. Em tên là Phùng Hãi, cũng có sức khỏe đội nổi nghìn cân, đi hơn 10 dặm. Các người rợ đâu đâu cũng phục nhà ông ấy.

    Trong năm Trinh Nguyên nhà Đường (791), nước Nam có đám loạn quân khởi biến. Hai anh em ông Phùng Hưng nhân dịp ấy, mới đem quân đi dẹp loạn các nơi lân ấp, đi đến đâu dẹp tan đến đấy.

    Ông ấy đắc chí rồi, đổi tên gọi là Cự Lão, tự xưng là Đô quân. Em thì đổi tên là Cự Lực, tự xưng là Đô bảo. Nhân dùng mẹo của bộ tướng tên là Đỗ Anh Luân, đem quân tràn ra các châu quận, người theo về ngày càng nhiều, có ý muốn đến phá phủ Đô hộ.

    Quan Đô hộ bấy giờ là Cao Chính Bình, đem quân đi đánh bị thua, rồi lo lắng thành bệnh mà chết. Ông Phùng Hưng chiếm giữ phủ thành, tự coi việc Đô hộ, được 7 năm thì mất.

    Chúng muốn lập em là Hãi lên nối ngôi, nhưng trong bọn bầy tôi có người đầu mục tên là Bồ Phá Lặc, có sức khỏe đạp đổ núi, nhắc nổi vạc, người ấy nhất định không nghe, mới lập con ông Hưng tên là An lên nối nghiệp, mà đem quân ra cự nhau với Phùng Hãi. Hãi chịu thua. Bồ Phá Lặc bắt đầy ra ở đỗng Chu Nhan.

    An được lập rồi, tôn vua cha gọi là Bố Cái đại vương (tục bấy giờ gọi cha là Bố, gọi mẹ là Cái). Được hai năm, vua Đức Tôn nhà Đường sai Triệu Xương sang làm Đô hộ. Triệu Xương sai sứ đến dụ hàng, An chịu hàng, cơ nghiệp họ Phùng mới đổ.

    Khi trước ông Phùng Hưng mới mất, thường có hiển linh ở trong dân thôn, hiện hình ra nghìn xe, muôn ngựa, bay ở trên các mái nhà, cùng là trên ngọn cây cổ thụ, trông tựa hồ đám mây ngũ sắc. Lại có tiếng đàn sáo bát âm ở trên không, và tiếng quát tháo. Lại thấp thoáng trông thấy cả cờ, tàn, võng, lọng. Phàm trong làng có việc gì mừng hay sợ, tất báo mộng trước cho các người hào trưởng. Dân gian thấy lắm sự hiển linh, mới lập miếu ở mé tây phủ Đô hộ để thờ. Dân có việc cầu đảo, thường ứng nghiệm lắm.

    Đến thời Ngô chủ Quyền, có giặc Bắc sang xâm. Ngô chủ nằm mơ thấy một ông cụ đầu bạc phơ phơ, áo mũ tề chỉnh, tự xưng là Phùng Hưng và nói rằng: “Tôi xin lĩnh một muôn thần binh, phục sẵn ở chỗ hiểm yếu, ông nên tiến binh mà đánh giặc đi, đã có tôi giúp, không cần phải lo”. Đến lúc Ngô chủ đánh nhau với Hoằng Thao ở sông Bạch Đằng, quả nhiên nghe trên không có tiếng xe ngựa ầm ầm. Ngô chủ phá được quân Nam Hán trở về, sai sửa sang đình miếu cho hoa mỹ rồi dùng lễ thái lao đến tạ ơn.

    Từ bấy giờ triều nào cũng có phong tặng, phong làm bộ “Phu hựu chương tín sùng nghĩa đại vương”.



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 3:06 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT

    ĐINH TIÊN HOÀNG



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Tiên Hoàng họ Đinh tên là Hoàng, người ở đỗng Hoa Lư, phủ Đại Hoàng (bây giờ là phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình), nguyên là con quan nha tướng của Dương Đình Nghệ tên là Đinh Công Trứ.

    Tục truyền ở đỗng Hoa Lư xưa có con rái cá cực to, vợ ông Công Trứ một hôm tắm ở dưới suối, bị con rái cá hiếp, về mới có mang. Khi con rái cá bị người ta bắt được ăn thịt, quẳng xương ra đường cái, thì bà ấy nhặt về mà gác lên gác bếp.

    Về sau, ông Công Trứ mất rồi, bà ấy mới sinh ra Đinh Tiên Hoàng. Tiên Hoàng lớn lên, thông minh nhanh nhẹn mà tài nghề lội nước. Nhà nghèo phải nương nhờ ở với chú. Bấy giờ có một thầy địa lý Tàu sang nước ta xem đất, đi từ Hưng, Tuyên theo long mạch đến mãi phủ Đại Hoàng, trông xuống dòng sông thấy nước sâu thăm thẳm mà xoáy mạnh lắm, đồ là ở đấy tất có huyệt đế vương. Mới gọi trẻ thuê tiền cho lặn thử xuống chỗ ấy xem làm sao. Tiên Hoàng vốn tài lặn, mới nhận lời lặn xuống, thì sờ thấy có con ngựa bằng đá đứng ở dưới đáy sông, mới lên bờ bảo với người khách, người khách đưa cho nắm cỏ, bảo thử xuống dử vào mồm ngựa xem ra làm sao, ngài cầm nắm cỏ xuống dử thì con ngựa há miệng ra đớp ngay.

    Ngài lại lên nói chuyện với người khách, người khách lấy tiền thưởng cho ngài rồi đi. Ngài vốn thông minh, biết ngay chỗ ấy hẳn là đại huyệt, về nói chuyện với mẹ, xem mả cha ở đâu, để đem táng vào huyệt ấy. Bà mẹ trở lên gác bếp, rồi lấy nắm xương đưa cho ngài, ngài đem ra, lại lặn xuống chỗ vực sâu ấy, cũng lấy cỏ bọc nắm xương dử vào mồm ngựa thì con ngựa cũng đớp mà nuốt đi.

    Từ đấy ngài sinh ra bạo tợn, các trẻ chăn trâu bò đều sợ, bầu ngài lên làm tướng, bẻ hoa lau làm cờ, chặt tre làm khí giới, đi đánh nhau với trẻ làng khác. Đi đến đâu, các trẻ phải sợ hãi kính phục. Một bữa, hội hết trẻ các làng ở ngoài đồng, nhân có con bò của chú cho đi chăn, mổ ngay ra làm cỗ để khao các chúng. Chú ở nhà nghe tin, vác gậy ra đồng xem làm sao, thì thấy chúng đã ăn tiệc xong rồi. Chú tức giận lắm, vác gậy đuổi đánh, ngài sợ hãi, chạy đã bí đường, phải nhảy choàng xuống sông, bỗng dưng có con rồng vàng ở dưới sông hiện ra đội ngài lên, người chú thấy vậy kinh hoàng, vội vàng bỏ gậy mà lạy phục xuống đất.

    Từ bấy giờ danh tiếng ngài lừng lẫy, các hào kiệt trong nước để lòng trông mong về ngài. Nhân bấy giờ về cuối đời Nam Tấn, nước Nam có 12 ông Sứ quân nổi lên, mỗi người chiếm giữ một phương, như là:

    1. – Ngô Xương Xí giữ ở Bình Kiều.
    2. – Kiều Công Hãn giữ ở Phong Châu (nay là Bạch Hạc, Vĩnh Yên), tự xưng là Tam chế.
    3. – Nguyễn Khoan giữ phủ Tam Đái (nay là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên), tự xưng là Thái bình công.
    4. – Ngô Nhật Khánh giữ châu Đường Lâm (nay là làng Cam Lâm, huyện Phú Thọ, Sơn Tây), tự xưng là Anh hiền công.
    5. – Đỗ Cảnh Thạc giữ ở Tương giang (tức là Đỗ Động giang nay thuộc Thanh Oai, Hà Đông).
    6. – Lý Khuê giữ ở Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh).
    7. – Nguyễn Thủ Tiệp giữ ở Tiên Du (thuộc Bắc Ninh), tự xưng là Nguyễn lịnh công.
    8. – Lã Đường giữ ở Tế giang (nay là Văn giang, Bắc Ninh), tự xưng là Tá công.
    9. – Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (thuộc Thanh Trì, Hà Đông), tự xưng là Nguyễn thạch công.
    10. – Kiểu Thuận giữ ở Hồi Hồ (nay là huyện Cẩm Khê, Phú Thọ), tự xưng là Kiểu linh công.
    11. – Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (nay là Khoái Châu, Hưng Yên), tự xưng là Phạm phòng át.
    12. – Trần Lẫm giữ ở cửa Bố Chính (nay là Kỳ Bố thuộc phủ Kiến Xương), tự xưng là Trần minh công.

    Tiên Hoàng nhân dịp ấy, theo về nương nhờ với Trần minh công. Trần minh công thấy ngài là dòng dõi tướng võ, và có tài cán, mới dùng cho cai quản binh lính. Không bao lâu, Trần minh công mất, ngài thay lĩnh hết cả quân quyền, tự xưng là Đinh Bộ Lĩnh, dần dần đem quân đi dẹp các nơi, thì đi đến đâu dẹp tan đến đấy, tự xưng là Vạn Thắng Vương. Rồi lại nhất thống được hết mọi nơi mới lên ngôi Thiên tử đóng đô ở Hoa Lư, sửa sang thành quách, cung điện, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.

    Khi trước thầy địa lý Tàu về lại trở sang, toan mang mả tổ táng vào thủy mã huyệt, sang đến nơi thì đã thấy ngài nổi lên hùng dũng, biết là ngài được đất ấy rồi. Người khách không sao được, muốn lập mưu để phản lại, mới vào hầu mà nói rằng:

    - Ngài được ngôi đại địa ấy, cũng bởi lúc phúc nhà ngài mà trời cho đấy; nhưng có ngựa phải có kiếm thì mới tung hoành ra bốn bể, vậy ngài nên để thêm thanh kiếm lên cổ ngựa thì mới hay.

    Tiên hoàng tưởng nó nói thật, mới lấy thanh gươm gác lên trên cổ ngựa, không ngờ kiếm có sát khí[1], có kiếm thì tuy làm được lừng lẫy, nhưng không được lâu dài. Vì thế ngài ở ngôi được 11 năm thì bị Đỗ Thích giết mất, mà đến đời con là Vệ vương, thì cơ nghiệp lại về tay triều khác.




    1. Có bản cho người khách xui đeo thanh kiếm vào tai ngựa, rồi nước ở chỗ ấy xoáy mạnh lắm, lâu ngày thanh kiếm cưa đứt cổ ngựa, cho nên mới hại.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 3:23 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT

    LÝ THÁI TỔ



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Thái Tổ họ Lý tên là Công Uẩn, người làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh.

    Tục truyền đời ông thân sinh ra ngài, nhà nghèo khó, đi làm ruộng thuê ở chùa Tiêu Sơn, huyện An Phong, phải lòng một người tiểu nữ có mang[1], nhà sư thấy thế đuổi đi chỗ khác. Hai vợ chồng mang nhau đi, đến chỗ rừng Báng, mỏi mệt ngồi nghỉ mát. Chồng khát nước, xuống chỗ giếng giữa rừng uống nước, chẳng may sẩy chân xuống giếng chết đuối. Vợ ngồi chờ lâu không thấy, đến giếng xem thì đất đã đùn lấp giếng rồi, ngồi khóc lóc một hồi, rồi vào ngủ nhờ trong chùa Ứng Tâm gần đấy.

    Ông sư chùa Ứng Tâm, đêm hôm trước nằm mơ thấy ông Long thần báo mộng rằng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến”. Nhà sư tỉnh dậy, sai tiểu quét dọn sạch sẽ, chực đợi từ sáng đến chiều, chỉ thấy một người đàn bà có mang xin vào ngủ nhờ.

    Nhà sư lấy làm lạ hỏi rằng:

    - Chồng con quê quán ở đâu?

    Người đàn bà kể tên họ nhà chồng, và nói lại truyện sa xuống giếng. Nhà sư cho ở nhờ ngoài cửa tam quan. Được vài tháng, có một đêm, thơm nức cả chùa, nhà sư thức dậy trông ra tam quan, thì thấy sáng rực lên. Nhà sư sai bà hộ chùa ra thăm, thì người đàn bà ấy đã sinh ra một đứa con trai. Bà hộ chùa bế đứa bé vào chùa cho nhà sư xem thì thấy hai bàn tay có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc”. Xem rồi, bỗng nhiên trời nổi cơn mưa to gió lớn. Đến lúc bà hộ chùa trở ra, thì người đàn bà đã chết rồi, nhà sư sai đem chôn ở đàng sau vườn.

    Từ đấy, nhà sư nuôi người con trai, lên sáu tuổi đã có khí phách thông minh. Một hôm nhà sư sai mang oản lên chùa dâng cúng, thì chú nhỏ đã khoét lấy ruột oản ăn trước. Đến đêm, ông Long thần báo mộng cho nhà sư. Sáng mai, nhà sư gọi mắng chú nhỏ ấy. Chú nhỏ hỏi:

    - Ai nói với ông như thế?

    Nhà sư kể sự ông Long thần báo mộng, chú kia tức lắm, lên chùa đánh vào cổ ông Long thần ba cẳng tay, rồi viết vào sau lưng lưng bốn chữ rằng: “Lưu tam thiên lý”. Đến đêm ông Long thần lại báo mộng cho ông sư rằng: “Hoàng đế đã đuổi tôi rồi, thì ông nghỉ lại để tôi đi”. Nhà sư thức dậy sớm, vội vàng lên chùa soát xem, thì thấy sau lưng ông Long thần có mấy chữ ấy, mới bắt tiểu lấy nước vào rửa, thì rửa làm sao cũng không sạch. Nhà sư bảo chú nhỏ ấy rửa, thì chỉ nhổ ít nước bọt chùi đi sạch ngay.

    Khi 8, 9 tuổi, nhà sư cho chú nhỏ ấy theo học ông sư ở chùa Tiêu Sơn tên là Vạn Hạnh. Một khi học không thuộc, phải ông thầy trói lại bắt nằm dưới đất một đêm, mới ngâm một câu thơ rằng:

    “Canh khuya không dám dang chân ruỗi,
    Vì ngại non sông, xã tắc xiêu.”

    Vạn Hạnh thấy có khẩu khí thiên tử, tự bấy giờ có lòng kính trọng lắm.

    Ngài lớn lên, khảng khái có chí to, nhân có công, làm quan thời vua Thiếu Đế nhà Lê. Khi vua Thiếu Đế bị giết, thì ngài nằm ôm lấy thây vua mà khóc. Vua Ngọa Triều khen là trung, nhắc lên làm Tứ tương quân chế chỉ huy sứ, thống lĩnh hết quân túc vệ.

    Bấy giờ ở làng Cổ Pháp có cây gạo cổ thụ, bị sét đánh tước lần da ngoài, trong thân cây có mấy câu sấm rằng:

    Thụ căn liểu liểu;
    Mộc biểu thanh thanh,
    Hòa đao mộc lạc,
    Thập bát tử thành.

    …….........

    Vạn Hạnh xem câu sấm ấy, biết là điềm nhà Lê đổ mà nhà Lý sắp lên, bảo riêng với ngài rằng:

    - Xem câu sấm ấy, thì chắc nhà Lý lên làm vua. Thiên hạ tuy cũng nhiều họ Lý, nhưng xem ra thì không ai bằng ngài có bụng nhân từ khoan thứ, vả lại lòng dân tin mến nhiều, thì phi ngài không ai làm nổi.

    Ngài thấy nói làm vậy, sợ nói lộ truyện ra ngoài, phải giấu Vạn Hạnh ở chùa Tiêu Sơn. Đến khi vua Ngọa Triều mất, vua kế tự còn nhỏ, ngài cầm quân túc vệ trong chốn cung cấm. Có quan chi hậu là Đào Cam Mộc mưu với các quan triều, lập ngài lên làm thiên tử.

    Ngài đã lên trị vì, thấy chỗ kinh đô Hoa Lư hẹp hòi lắm, mới thiên lên đóng đô ở Đại La thành, nhân có điềm rồng vàng hiện ra, mới đổi tên gọi là thành Thăng Long (tức thành Hà Nội bây giờ).

    Ngài ở ngôi được 18 năm thì mất.

    Xét ngôi huyệt chỗ giếng trong rừng Báng ấy, những gò ở chung quanh trông hình như cái hoa sen nở ra tám cánh, cho nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời, bây giờ thuộc về làng Đình Bảng, huyện Đông Ngàn.

    Vì ngài sinh ra ở chùa Ứng Tâm, cho nên chùa ấy bây giờ thành tên gọi là chùa Dặn.




    1. Ở sử nói là bà mẹ ngài nằm mơ thấy giao cảm với thần núi Tiêu Sơn, có mang sinh ra ngài. Ông sư chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân nuôi ngài làm con nuôi, cho nên theo về họ Lý.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 3:44 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ I: CÁC BẬC ĐẠI ANH KIỆT

    LÊ THÁI TỔ



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Thái Tổ nhà Lê tên là Lợi, người làng Lam Sơn, xứ Thanh Hóa, có chí khí từ thuở nhỏ.

    Tục truyền ông tổ tam đại nhà ngài nguyên là người làng Như Áng, một bữa đi qua Lam Sơn thấy có đàn quạ xúm xít bay, liệng trên một cái gò. Ông cụ ấy nói rằng: “Chỗ này là chỗ đất hay đây!”, mới đem nhà làm ở dưới cái gò, từ bấy giờ con cái làm hào trưởng ở xứ ấy. Được ba đời thì sinh ra ngài.

    Cuối đời nhà Trần, Hồ Quý Ly cướp ngôi, nhà Minh sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh sang đánh, bắt được cả hai bố con Hồ Quý Ly đem về Tàu rồi chiếm giữ lấy nước Nam, làm ra lắm sự tàn ác: Nào là bắt dân khai mỏ vàng, săn voi trắng; nào là bắt dân mò hạt trân châu. Lại cấm dân không cho nấu muối riêng. Bắt phải nộp cống hươu trắng, rùa rùa chín đuôi, vượn bạch, trăn to. Lại lắm chính sự tàn ác, thuế má nặng nề, hơn 20 năm, dân sự lấy làm khổ ải, bởi thế trộm giặc chỗ nào cũng nổi lên như ong, dân gian lại càng khốn đốn lắm.

    Thái Tổ trông thấy tình hình làm vậy, có chí muốn ra dẹp loạn để yên dân.

    Người nhà Minh vốn biết ngài là hào kiệt nước Nam, muốn dụ ngài ra làm quan, ngài không thèm ra, nói rằng:
    - Đại trượng phu nên giúp nước lúc nạn to, lập nên công lớn, chứ lại thèm làm đầy tớ người ta à!

    Đến năm Mậu Tuất (1418), ngài nhận được thanh thần kiếm, và được bọn Nguyễn Trãi, Trần Hãn đến giúp, nhân đó, mới mộ quân khởi nghĩa chiêu dụ hào kiệt. Đánh nhau với quân nhà Minh, lắm trận gian truân, mà chí ngài vẫn không núng.

    Một khi, ngài thua trận ở Côi huyện, quân sĩ tan chạy mất cả, chỉ còn độc một mình tìm đường chạy trốn. Tướng nhà Minh đem quân đuổi theo, ngài túng thế không biết làm thế nào, xảy gặp một ông lão nhà quê đang tát ruộng cấy mạ, ngài nhảy ngay xuống ruộng cầm mạ cấy đỡ cho ông ấy. Một lát quân Minh đuổi đến nơi, thấy người làm ruộng, hỏi thăm rằng:

    - Có thấy ai chạy qua đây không?

    Ông lão làm ruộng đã biết ý, chắc ngài là vua Lê, mới trỏ tay về phía trước mặt nói rằng:

    - Tôi vừa thấy một người chiến tướng, hớt hơ hớt hải chạy về mé trước kia kìa!

    Quân nhà Minh tưởng thực, kéo cả đi về mé trước, ngài nhân thế được thoát.

    Lại một bữa quân Minh đuổi kíp quá, phải núp mình vào trong bụi rậm. Quân Minh có con chó săn cực khôn, lồng lẫy cắn vào bụi. Quân Minh cầm giáo xỉa vào, bỗng thấy một con cáo chạy ra, quân mới bỏ đám ấy mà đi, nhân thế lại được thoát.

    Lại một buổi đánh nhau với Tham tướng Minh là Phùng Quí, thua trận chạy về đến núi Linh Sơn, quân hết lương ăn, phải nhịn đói mất hơn hai ngày, chỉ đào củ chuối và hái rau ăn trừ bữa.

    Tuy vậy, càng thua lại càng phấn chấn, chớ không ngã lòng, vả lại được các tướng giúp đỡ, như bọn Lê Sát, Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Triện, ai nấy cùng dốc một lòng, cho nên dần dần lại chuyển thua thành được. Về sau, đánh được Trần Trí, đuổi được Phương Chính, chém được Liễu Thăng ở núi Mã An, bắt sống được bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc, trong mười năm trời quét sạch bờ cõi, bấy giờ ngài mới lên ngôi Hoàng đế.

    Khi ngài thành công rồi, một bữa ngự thuyền rồng chơi trong hồ Tả Vọng, bỗng thấy một con rùa to bơi trên mặt nước, ngài cầm thanh thần kiếm chỉ xuống, không ngờ bị con rùa ấy đớp lấy rồi lặn mất, bởi thế đổi tên hồ ấy là hồ Hoàn Kiếm, nghĩa là trả gươm của trời.

    Ngài đem lại nước Nam, làm nên công nghiệp hiển hách, truyền đời ngót 400 năm trời, thực là một vị đại anh hùng đệ nhất nước Nam.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 3:50 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    LÝ THƯỜNG KIỆT



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Thường Kiệt tự là Hi Liệt, người làng Thái Hòa huyện Thọ Xương (tức là thành phố Hà Nội bây giờ), có tài kiêm cả văn võ. Khởi thân làm Thái giám. Đến đời vua Nhân Tôn nhà Lý, làm lên đến chức Thái úy. Trong năm Thái Ninh, nước Chiêm Thành đến quấy nhiễu xứ Nghệ An, vua sai Thường Kiệt cầm quân đi đánh, Thường Kiệt đánh đuổi về mãi nước Chiêm, lấy được châu Bố Chính, châu Địa Lỵ và châu Ma Linh, mới sai vẽ địa đồ ba châu ấy, đổi châu Địa Lỵ làm phủ Tân Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh (tức là tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ), chiêu mộ dân nghèo cho sang ở đấy khai khẩn.

    Đến năm Thái Ninh thứ tư, vua Thần Tôn nhà Tống sau Thẩm Khởi, Lưu Lộng ra coi Quí Châu, có ý muốn dòm nom nước Nam. Vua Nhân Tôn sai Thường Kiệt đem quân đi cự quân Tống, Thường Kiệt đánh tràn sang nước Tàu, hạ được châu Khâm, châu Liêm, và vây hãm châu Ung, giết hại quân nhà Tống hơn 10 vạn người.

    Năm sau, vua Tống sai Quách Quì làm Chiêu thảo sứ, đem 9 tướng chia đường đi sang hội với nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, để quấy nhiễu nước Nam. Vua lại sai Thường Kiệt đi đánh, đánh trận nào được trận ấy, quân nhà Tống chết hơn nghìn người, phải bỏ mà về.

    Khi ấy, Lý Giác khởi loạn ở xứ Nghệ. Giác có yêu thuật, làm cho cỏ cây biến thành binh mã, quan quân đánh mãi không phá được. Thường Kiệt bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, tình nguyện xin đi đánh, thì mới dẹp tan được đám ấy.

    Nhân có những công to ấy, được tiến tước phong làm đại vương. Về sau mất được phong làm Thượng đẳng phúc thần.



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 3:59 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Vương họ Trần tên là Quốc Tuấn, quê ở làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định, con ông An sinh vương Liễu (anh ruột vua Trần Thái Tôn).

    Khi trước An sinh vương phu nhân, nằm mơ thấy một ông thần tinh vàng tướng ngọc tự xưng là Thanh tiên đồng tử phụng mệnh Ngọc hoàng xuống xin đầu thai, nhân thế có mang. Đến lúc sinh ra vương, có hào quang sáng rực cả nhà và có mùi hương thơm ngào ngạt.

    Vương khôi ngô kì vĩ, thông minh sớm lắm, lên 5,6 tuổi, đã biết làm thơ ngũ ngôn, và hay bày chơi đồ bát trận. Khi gần lớn, học rộng các sách, thông hết lục thao, tam lược, có tài kiêm cả văn võ.

    Trong năm Nguyên Phong thứ bảy thời vua Thái Tôn (1257), có giặc Mông Cổ lấn vào phận Hưng Hóa, vua sai vương cầm quân lên giữ mặt thượng du.

    Đến thời vua Nhân Tôn, Mông Cổ lại sai Thoát Hoan đem bọn Toa Đô, Ô Mã Nhi chia đường sang đánh nước Nam, vương phụng mệnh thống lĩnh các quân của vương, hầu, hội cả ở trại Vạn Kiếp, để chống nhau với quân Mông Cổ. Bấy giờ thanh thế Mông Cổ đang mạnh, vương phải rước xa giá Hoàng đế lánh vào Thanh Hóa. Hoàng đế thấy sự thể nguy cấp, muốn hàng, vương không nghe, tâu rằng:

    - Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hết chặt đầu thần đi đã, rồi sẽ hàng cũng chưa muộn. Đầu thần còn thì xã tắc cũng còn, xin bệ hạ chớ lo.

    Vua thấy nói cứng cỏi làm vậy, trong bụng cũng yên. Đến tháng tư, phá được quân Mông Cổ ở cửa sông Hàm Tử. Tháng năm, lại đánh vỡ quân Mông Cổ và chém được đại tướng là Toa Đô ở đất Tây Kết, Thoát Hoan phải rút quân về Tàu.

    Năm Trùng Hưng thứ ba, Thoát Hoan lại đem bọn Ô Mã Nhi, A Bát Xích sang quấy thứ nữa. Vương sai Trần Khánh Dư phục quân chặn đường, đốt phá được hết thuyền lương của giặc ở cửa bể Lục Hải (thuộc về huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Yên). Thoát Hoan cạn lương, muốn rút quân về, vương phục sẵn quân ở sông Bạch Đằng, đóng cột chông ngầm dưới nước, chờ lúc thủy triều lên ra khiêu chiến, dử cho giặc đuổi đến chỗ mai phục, thì nước vừa xuống, thuyền giặc vướng mắc cột chông chìm đắm mất nhiều, mới thả quân mai phục ra đánh, bắt sống được Ô Mã Nhi, và bắn chết được Trương Ngọc, còn A Bát Xích, Thoát Hoan trốn được về Tàu.

    Tự bấy giờ quân Mông Cổ sợ uy danh của ngài, không dám gọi tên, chỉ gọi là Hưng Đạo vương, và không dám sang quấy nhiễu nữa.

    Khi Thoát Hoan sang xâm thứ ba, có một tên ti tướng là Nguyễn Bá Linh (tức là Phạm Nhan) có yêu thuật, biến hiện trăm chiều, vương phải lập cửu cung mới phá được. Khi bắt được Bá Linh rồi, chém thế nào nó cũng không chết, vương lại dùng đến thần kiếm chém nó mới chịu.

    Vương ba lần phụng mệnh chống nhau với quân Mông Cổ, trải lắm phen gian truân, mà vẫn vững một niềm không núng, cho nên về sau phá được quân giặc, lập nên công to, để cho nước Nam lại vững như cái âu vàng.

    Ngài nhân có công ấy, được tiến phong làm Thái sư thượng phụ Hưng Đạo đại vương. Vua tôn kính coi như đạo cha, lập ra miếu sinh từ ở Vạn Kiếp và khắc văn bia để tỏ công đức của ngài.

    Ngài thường soạn ra một quyển sách gọi là “Binh pháp yếu lược” để ban cho các tướng, lại lập ra trận đồ cửu cung bát quái, thần diệu vô cùng.

    Khi ngài già, về trí sĩ ở trại Vạn Kiếp, hưởng thọ ngoài 70 tuổi mới mất, trên từ vua cho chí các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng thương tiếc.

    Bây giờ mỗi năm về hôm 20 tháng tám là ngày húy nhật ngài, thiện nam tín nữ đến lễ bái đền Vạn Kiếp thành ra một ngày hội to.



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 4:10 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    NGUYỄN TRÃI



    Hình minh họa nguồn: viettoon.net
    Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai tiên sinh, cha ông ấy là Tự khanh công, nguyên người ở huyện Phượng Nhỡn. Ông cụ ấy hay địa lý, mới đem tiên phần sang táng ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, rồi làm nhà và nhập tịch làng ấy.

    Đời con là Nguyễn Trãi, đỗ tiến sĩ về thời nhà Hồ, làm đến Ngự sử đài chánh chưởng. Đến lúc nhà Hồ mất, ông ấy về ẩn ở núi Côn Sơn, có bụng muốn ra dẹp loạn cứu đời.

    Bấy giờ có người ở làng Hoắc Sa tỉnh Sơn Tây tên là Trần Nguyên Hãn, đi bán dầu kiếm ăn. Một bữa trời tối, đi qua làng Chèm, mới vào đền Chèm nằm ngủ. Nửa đêm nghe có tiếng ông thần làng khác vào rủ ông Chèm lên chầu trời. Ông Chèm nói có quốc công ngủ trọ không đi được. Đến gà gáy ông thần kia trở về. Ông Chèm hỏi trên trời có việc gì, thì ông kia nói rằng:

    - Thượng đế thấy nước Nam chưa có chúa, có cho ông Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ) làm chúa, mà ông Nguyễn Trãi thì làm bày tôi.

    Trần Nguyên Hãn nghe rõ câu ấy, chịu khó hỏi dò tìm đến nhà ông Nguyễn Trãi, kể lại chuyện ấy. Nguyễn Trãi không tin, lại về đền Chèm cầu mộng, thì thấy thần báo mộng rằng:

    - Việc thiên đình bí mật lắm, không dám nói lộ ra ngoài. Có chị Tiên Dong biết tường việc ấy, vả lại là đàn bà, thì trời không trách đến, ông nên đem vàng đến nơi ấy mà hỏi.

    Ông Nguyễn Trãi nghe lời ấy, đến cầu mộng đền bà Tiên Dong, thì mơ thấy bà ấy gọi bảo rằng:

    - Nguyễn Trãi! Lê Lợi làm vua, mà anh thì làm bầy tôi, anh chưa biết chuyện ấy à?

    Ông ấy hỏi cặn kẽ lại thì mới biết ông Lê Lợi là người làng Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa. Mới cùng với Trần Nguyên Hãn vào Lam Sơn, hỏi thăm đến nhà ông Lê Lợi. Bấy giờ Thái Tổ còn hàn vi, khi hai ông kia đến, thì ngài đang mặc cái áo cánh cộc, vai vác bừa, tay dắt bò ở ngoài đồng về. Hai ông xin vào hầu, Thái Tổ mời nghỉ lại trong nhà. Xảy gặp hôm ấy nhà có giỗ, hai ông kia xuống bếp thổi nấu, trông trộm lên nhà trên, thì thấy ngài cầm dao thái thịt, đang vừa thái vừa ăn.

    Hai ông kia bàn riêng với nhau rằng:

    - Bà Tiên Dong nói lừa chúng ta đây, có lẽ đâu khí tượng thiên tử mà lại thế kia bao giờ?

    - Lê Lợi làm vua, trời đã nhất định như thế rồi, chỉ vì chưa có thiên tinh giáng đấy thôi.

    Hai ông lần sau lại đến thăm Thái Tổ, thì bấy giờ ngài đã được quyển thiên thư. Khi ấy đang đêm đóng cửa xem sách. Liền cáo từ ra về, lại đến cầu mộng đền bà Tiên Dong, thì thấy báo mộng rằng:

    - Lê Lợi làm vua, trời đã nhất định như thế rồi, chỉ vì chưa có thiên tinh giáng đấy thôi.

    Hai ông lần sau lại đến thăm Thái Tổ, thì bấy giờ ngài đã được quyển thiên thư. Khi ấy đang đêm đóng cửa xem sách. Nguyễn Trãi đứng ngoài cửa dòm vào, rồi đẩy cửa, hai ông cùng vào. Thái Tổ cắp thanh gươm đi ra, hai ông cùng lạy phục xuống đất và nói rằng:

    - Chúng tôi xa xôi lặn ngòi noi nước đến đây, là vì thấy ngài làm được chúa thiên hạ, xin cho chúng tôi được theo hầu.

    Thái Tổ cười, lưu hai người ở lại, mưu việc khởi binh. Ông Nguyễn Trãi lấy mỡ viết vào lá cây tám chữ: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Về sau sâu cắn những lá ấy rụng xuống, người ta thấy vậy cho là sự trời định, đồn rực cả lên, bởi thế nhân dân tranh nhau theo về với ông ấy, quân thế mỗi ngày một thịnh.

    Đến năm Mậu tuất, mới bắt đầu ra đánh nhau với quân nhà Minh, ông Nguyễn Trãi bàn mưu lập kế giúp vua Thái Tổ đánh hơn 20 trận. Năm Bính ngọ, quân ta thắng trận, tiến sát đến Đông Đô, tướng nhà Minh là Vương Thông giữ vững trong thành. Nhà Minh lại sai An viễn hầu là Liễu Thăng và Kiềm quốc công là Mộc Thạnh chia quân làm hai đường sang cứu Đông Đô. Thái Tổ đón đánh ở núi Mã An, chém được Liễu Thăng, và bắt sống được bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ hơn 300 người, Mộc Thạnh phải trốn về nước, Vương Thông mở cửa thành ra hàng.

    Tự bấy giờ hai nước lại thông hiếu, nội là tờ bồi giao thiệp với Tàu, do tự một tay Nguyễn Trãi cả.

    Vì có công được phong quốc tính, gọi là họ Lê, lại mà thăng lên làm Vinh lộc đại phu nhập nội hành khiển coi cả việc trong ba quân và được phong là Tế văn hầu.

    Trần Nguyên Hãn thì được phong làm quốc công, đến khi mất, lại được phong làm thành hoàng, bây giờ còn đền thờ ở làng Hoắc Xa.

    Nguyễn Trãi văn chương hùng dũng, có khí lực, phàm các bài như là văn “Bình Ngô đại cáo” cùng là văn bia “Lam kinh thần đạo” có chép vào bộ Thực lục là tự tay ông ấy soạn ra cả.

    Tính ông ấy điềm đạm, không ham mê danh lợi, thường có chí muốn từ chức về nhà. Ông ấy có một trại riêng ở tỉnh Bắc, gọi là Tiêu Viên. Đến đời vua Thái Tôn, Nguyễn Trãi trí sĩ về ẩn ở trại ấy. Cuối đời Thiệu Bình, vua Thái Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi trại Tiêu Viên, Nguyễn Trãi đi vắng, có nàng hầu là Thị Lộ, ở nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất, đình thần cho là Thị Lộ giết vua, bởi thế cả nhà ông Nguyễn Trãi phải tội tru di.

    Khi trước đánh nhau ở núi Mã An, Nguyễn Trãi bắt được Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc. Hoàng Phúc giỏi nghề địa lý, khi ở nước Nam, bao nhiêu chỗ kiểu đất hay, đã biên kỳ lấy cả. Bấy giờ phải bắt, Nguyễn Trãi có ý khinh bỉ.

    Hoàng Phúc cười bảo rằng:

    - Mả tổ nhà tôi có Xá văn tinh, chẳng qua chỉ phải nạn trong năm ngày là cùng, không đến nỗi như ông có đất phải tru di tam tộc.

    Bấy giờ cũng cho lời ấy nói xằng, về sau Hoàng Phúc quả nhiên được tha về, mà Nguyễn Trãi thì mắc nạn, mới biết lời trước là nghiệm.

    Tục truyền khi ông Nguyễn Trãi chưa đỗ, dạy học trò ở làng Nhị Khê, thường có sai học trò dọn cỏ một cái gò ở ngoài đồng để làm trường dạy học. Đêm hôm trước, mơ thấy một người đàn bà vào kêu rằng: “Tôi mẹ yếu con thơ, xin ông khoan cho ba ngày để tôi đem con tôi đi chỗ khác, rồi ông sẽ sai dọn cỏ”. Sáng sớm, thức dậy ra đồng xem thì học trò đã dọn sạch rồi, và bắt được hai cái trứng rắn.

    Nguyễn Trãi hỏi thì học trò nói rằng:

    - Ban nãy chúng tôi thấy con rắn ở trong đám cỏ rậm, đánh nó đứt đuôi mà chạy mất, chỉ bắt được hai cái trứng ở đây.

    Nguyễn Trãi nghĩ con rắn hẳn là người đàn bà báo mộng hôm qua, phàn nàn không ngần nào, mới đem hai cái trứng về nhà nuôi cho nở. Đêm hôm ấy, đang ngồi xem sách, có con rắn trắng leo lên xà nhà rỏ máu trúng vào chữ đại[1] (代) trong trang sách, thấm xuống ba tờ giấy. Nguyễn Trãi biết là nó tất báo oán đến ba đời, đến khi hai cái trứng kia nở ra, thì một con dài, một con ngắn. Nguyễn Trãi sai đem thả xuống sông Tô Lịch ở cạnh làng.

    Khi Nguyễn Trãi đã hiển đạt, một bữa, ở trong triều về, đi qua hàng chiếu, trời đã tối sâm sẩm, gặp một đứa con gái đi bán chiếu, nhan sắc tuyệt trần, Trãi đọc lên bốn câu thơ để hỏi đùa.
    Thơ rằng:

    Ả ở đâu đi bán chiếu gon?
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
    Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi?
    Đã có chồng chưa được mấy con?


    Người con gái ấy cũng đọc lên một bài đáp lại.
    Thơ rằng:

    Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon,
    Nỗi chi ông hỏi hết hay còn?
    Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ.
    Chồng còn chưa có, có chi con!


    Nguyễn Trãi thấy nói đối đáp ngay được, lấy làm khoái chí lắm. Hỏi tên thì nói tên là Thị Lộ, mới đem về cho làm nàng hầu. Vua Thái Tôn nghe tin nàng ấy đẹp và hay chữ, sai làm nữ học sĩ, thường thường cho ra vào trong cung.

    Khi vua vào chơi nhà ở Tiêu Viên, thì ông Nguyễn Trãi đi vắng, chỉ có Thị Lộ ở nhà. Nàng ấy pha nước dâng lên vua xơi, vua uống phải thì mất ngay. Nguyên Thị Lộ tức là con rắn hiện hình ra làm người để báo thù. Khi nó pha nước thì nó nhả cái nọc độc vào trong chén nước, cho nên vua trúng độc mà mất.

    Các quan bắt con Thị Lộ vào tra hỏi, thì nó xưng là ông Nguyễn Trãi xui nó, đình thần mới chiểu luật bắt tội nhà ông ấy, mà bỏ con Thị Lộ vào cũi đem quăng ra sông Nhị Hà, thì nó lại hóa ra con rắn ở trong cũi chui ra đi mất.

    Lúc nhà ông Nguyễn Trãi đang phải nạn, có người vợ lẽ đang có mang, chạy trốn xuống ở tỉnh Nam. Về sau sinh được người con trai đặt tên là Anh Võ. Ở đã lâu, chủ nhà mới biết là vợ lẽ ông Nguyễn Trãi.

    Đến thời Quang Thuận, vua Thánh Tôn thương ông ấy mắc phải tội oan, ban chiếu giải oan, và phong tặng làm Thái sư Tuệ quốc công. Sai tìm dòng dõi nhà ông ấy, thì mới tìm thấy Anh Võ. Vua phong quan chức cho Anh Võ, để nối dõi nhà ông ấy. Đến sau Anh Võ sang sứ Tàu, đi qua hồ Động Đình, bỗng thấy con rắn ở dưới nước bò lên, rồi thì phong ba nổi lên ầm ầm. Anh Võ biết lại là con rắn trước báo oán, mới khấn rằng: “Xin cho trọn việc nước, rồi đến lúc trở về sẽ xin chịu tội”. Khấn vừa đoạn thì sóng gió lại yên. Đến lúc việc sứ xong trở về, quả nhiên lại nổi cơn sóng gió, đắm thuyền mà mất.
    Vua Thái Tôn truy tặng cho làm Thái sư Sùng quốc công.

    Trong năm Cảnh Hưng, triều đình duyệt lại các sắc phong của các ông khai quốc công thần. Khi duyệt đến sắc ông Nguyễn Trãi thì quan Thị lang là ông Lê Quí Đôn xé đạo sắc ấy ra nói rằng:

    - Bọn loạn thần tắc tử, còn để cáo sắc làm gì nữa!

    Nói vừa buông lời, bỗng nhiên ngã gục ngay xuống, rồi thấy hai tên lính bắt đi, đưa đến một chỗ đền đài, tường liễu chung quanh, có các cây cổ thụ to hàng mười ôm. Trong đền có vài chục chiếc ỷ. Ở mé hữu có một tấm sập, trên sập có một ông quan ngồi, đầu đội mũ, mình mặc áo bố tử. Lính hầu xúm xít chung quanh. Hai tên lính bắt ông Lê Quí Đôn quì ở dưới thềm, rồi ông quan ngồi trên sập thét lên rằng:

    - Ta là Tế văn hầu đây, ngươi là sơ học tiểu sinh, sao dám bỉ báng người có công tiền triều, tội ngươi đáng chết!

    Lê Quí Đôn ngồi nín lặng, không dám ngẩng mặt lên nhìn. Bên cạnh có người đội khăn lượt mặc áo xanh, kêu van thay cho Quí Đôn, ông quan lại nói rằng:

    - Công danh sự nghiệp của ta, không thèm so sánh với ngươi, ngươi đừng tưởng ngươi đỗ Bảng nhỡn mà đã khinh người, cho về mà thử xem bài “Bình Ngô đại cáo” của ta, nếu ngươi làm hay hơn được bài ấy, thì xé sắc của ta cũng phải.

    Lê Quí Đôn tỉnh dậy, kinh hãi lắm, lập tức viết lại sắc của ông Nguyễn Trãi. Vì thế sắc của công thần không ai phải tước cả.



    1. Đại: nghĩa là đời.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 4:33 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    TRỊNH KIỂM



    Tượng Thái Vương Trịnh Kiểm thờ trong Đền
    Trịnh Kiểm người làng Sóc Sơn, huyện Chân Phúc, tỉnh Thanh Hóa. Khi còn hàn vi, nhà nghèo lắm, mà thờ mẹ rất hiếu. Mẹ tính hay ăn thịt gà, mà nhà thì không có, ngày nào cũng phải ăn trộm một con gà của láng giềng để nuôi mẹ. Láng giềng ai cũng ghét, một bữa nhân ông ta đi chơi vắng, bắt mẹ ông ta ném xuống vực Tôm ở cạnh làng, để khỏi ăn trộm gà nữa. Không ngờ lòng trời run rủi, chỗ vực ấy chính là một huyệt to. Đêm hôm ấy, trời nổi cơn mưa gió lớn, rồi vực ấy bỗng dưng nổi đất lên thành mộ. Về sau có người địa lý Tàu xem ngôi đất ấy, nói rằng: “Ngôi đất này phát ra không phải đế, cũng không phải bá, mà có quyền nhất cả thiên hạ, truyền được tám đời, rồi vạ tự trong nhà sinh ra”.

    Trịnh Kiểm từ khi mẹ mất, đi lơ bờ kiếm ăn, nấn ná sang Ai Lao, ở chăn ngựa cho đức Triệu tổ Nguyễn triều ta[1]. Nguyên bấy giờ nhà Mạc chiếm mất ngôi nhà Lê, đức Triệu tổ đương làm Điện tiền tướng quân, rước con cả vua Cung đế nhà Lê là vua Trang Tôn chạy sang Ai Lao, tìm kế khôi phục, cho nên ở bên ấy.

    Một hôm, đang đêm Triệu tổ đứng dậy mở cửa ra sân, trông xuống dưới trại, thấy có hai khối tinh đỏ đòng đọc, tựa hồ như hai bó đuốc, sai người đánh đuốc xuống xem cái gì, thì té là Trịnh Kiểm đang ngủ ở chỗ ấy, hào quang từ trong mắt ánh ra. Triệu tổ lấy làm kỳ, gọi lên hỏi chuyện, thì ứng đối giỏi giang, tài đảm hơn người.

    Triệu tổ thấy người có tướng lạ, biết không phải người tầm thường, đem lòng yêu mến, cử lên làm tướng bộ hạ và gả con gái là nàng Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm.

    Tự khi ấy, Trịnh Kiểm theo Triệu tổ đi đánh giặc lập được nhiều công trạng to, Triệu tổ lại càng kính trọng lắm, cử lên làm đại tướng, sai đốc binh ra đánh Nghệ An, dần dần tiến ra đến Thanh Hóa khôi phục được Tây đô.

    Đến khi Triệu tổ mất bao nhiêu quyền chính của ngài, vua Trang Tôn giao phó cả về tay Trịnh Kiểm, Trịnh Kiểm có quyền to tự đấy.

    Trịnh Kiểm tuy người võ, nhưng mưu trí hơn người, giúp vua Trang Tôn, đánh nhau với nhà Mạc, lập lên công trạng, được tiến vị phong làm Thái sư, Dực quận công, sau lại thăng làm Lang quận công. Đến đời con là Trịnh Tùng lại sắc sảo lắm, giúp vua Anh Tôn, phá được quân nhà Mạc ở cửa bể Thần Phù, dần dần tiến binh ra thành Thăng Long, bắt được Mạc Mậu Hiệp, đem lại được giang sơn cho nhà Lê, được tiến phong làm Bình an vương.

    Từ bấy giờ con cháu họ Trịnh, đời đời tập phong tước vương, quyền chính lấn cả thiên tử. Trải 200 năm, tám đời truyền kế nhau, đến đời Trịnh Khải bị Bắc bình vương[2] giết mất, bấy giờ mới hết.



    1. Tổ đầu của nhà Nguyễn, Phan Kế Bính viết quyển này trong năm Duy Tân thứ 6 nên mới tôn xưng như thế (BT).
    2. Tức Quang Trung Nguyễn Huệ (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Tue Aug 07, 2012 4:46 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    LƯƠNG HỮU KHÁNH



    Hình minh họa, nguồn internet
    Chi họ Lương ở Thanh Hóa, phong phú có tiếng nhất ở vùng ấy. Tổ họ ấy khi xưa sinh được ba con trai, thành ra ba chi. Đang khi cuối nhà Trần loạn lạc, một chi xiêu dạt sang Tàu, ngụ ở tỉnh Vân Nam. Có người làm nên, đời đời được tập phong tước vương. Một chi thiên ra ở xã Tào Sơn huyện Ngọc Sơn, cũng kế thế đăng khoa. Còn một chi thì ở xã Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, sinh ra ông Lương Đắc Bằng, đỗ Bảng nhãn trong thời Cảnh Thống đời vua Hiến Tôn nhà Lê.

    Lương Đắc Bằng vì có người họ ở Tàu, mới mua được nhiều thứ sách quí, cho nên học giỏi về nghề lý số. Ngoại 50 tuổi, chưa có con trai, chỉ có người vợ lẽ có mang được ba tháng. Khi gần mất, dặn vợ lẽ rằng:

    - Nếu mai sau sinh được con trai, thì tất nó làm nên công danh sự nghiệp, tỏ rạng cửa nhà. Khi nào con lớn, thì nên cho đến học ông Trạng Trình ở huyện Vĩnh Lại, thì mới giữ được nền nếp nhà ta.

    Nói đoạn thì mất. Về sau người vợ lẽ quả sinh được con trai, mới đặt tên là Hữu Khánh. Hữu Khánh thông minh sớm, mười tuổi đã biết làm văn, mà sức ăn cực khỏe, thường ăn gấp ba bốn phần người thường mới no. Mẹ lắm khi phải nhịn đói để con ăn.

    Nhà ông ấy nghèo, mới bảo với mẹ rằng:

    - Cha tôi khi xưa làm quan thanh liêm, đến nỗi con cháu không đủ cơm cháo mà ăn. Vậy mẹ cho tôi đi nơi khác, tùy đường kiếm ăn, kẻo để phiền đến bụng mẹ.

    Mẹ buồn rầu nói rằng:

    - Mẹ con không nuôi được nhau, đến nỗi để con đi tha phương cầu thực, mẹ lấy làm đau xót ruột lắm.

    Nói thế rồi, ứa hai hàng nước mắt. Ông ấy từ mẹ đi ra, sang các nhà học trò bên cạnh huyện ngâm thơ làm phú để độ thân.

    Một khi đi qua bến đò sông Tam Kỳ, gặp 5, 6 nhà sư tự đám chay về, mang một cái đẫy có 100 phẩm oản. Nhà sư thấy ông ấy có dáng đói, cho vài chiếc oản. Ông ấy từ nói rằng:

    - Học trò nghèo nhịn đói, đã mấy hôm nay, may gặp được Đại bồ tát, tưởng là có bụng bố thí làm sao, lại bủn xỉn cho được vài phẩm oản, thì ăn chả bõ dính mồm.

    Có một nhà sư già cười nói rằng:

    - Thầy kia đã gọi là học trò, thì thử làm một bài thơ “Học trò đi thuyền chung với nhà sư”, hễ sang khỏi sông mà xong bài thơ, thì có bao nhiêu oản xin biếu cả.

    Ông ấy ngồi trong thuyền, ngâm ngay một bài thơ như sau này:

    Một pho kinh sử bộ kim cương,
    Đây đấy cùng thuyền khéo một đường.
    Trong hội cồ đàm ngươi thỏa thích;
    Trên ngôi đài các tớ nghênh ngang.
    Truyện xưa ngươi vẫn căm Hàn Dũ [1]
    Việc trước ta còn oán Thủy Hoàng [2].
    Gặp gỡ mảy may rồi lại biệt,
    Kể tròn quả phúc, kẻ vinh xương.


    Chưa sang khỏi đò đã vịnh xong bài thơ. Nhà sư mừng rỡ, dốc cả đẫy oản ra cho ông ấy. Ông ấy ngồi ngay đầu thuyền ăn một lúc hết 80 phẩm oản. Người trong thuyền ai cũng ngạc nhiên, nhà sư lấy làm kỳ dị, lại tặng thêm một quan tiền nữa và nói rằng:

    - Thầy có tài như thế, nay tuy còn ở trong trần ai, nhưng tất có ngày làm nên hách dịch. Sư nghèo này xin dâng một bữa, ngày sau có đắc chí, đánh dẹp đốt phá ở đâu, thì xin chừa những nơi chùa chiền ra, mới là ân huệ.

    Sang khỏi đò, ông ấy từ bọn sư rồi đi. Bấy giờ đang lúc Lê, Mạc đánh nhau, dân xã điêu tàn, ông ấy đi đến đâu, không một kẻ nào nhìn đến, có khi ba ngày mới được ăn một bữa, thường vẫn phải làm mướn kiếm ăn.

    Một buổi sớm, đến làng Vĩnh Trị, gặp một bà già ra chợ, gọi người thuê làm ruộng hoang. Hỏi mấy mẫu, thì bà già đưa đến chỗ ruộng sâu, trỏ ra bảo rằng:

    - Chỗ ruộng kia nước sâu, mà cỏ mọc bùm tum, ước chừng năm mẫu.

    Ông ấy bảo rằng:

    - Bà cụ về nhà thổi cơm độ mười người ăn, và đem sẵn tiền gạo thuê công đến bờ ruộng này, để tôi gọi giúp người làm cho.

    Bà kia y lời ấy trở về làm cơm. Ông ấy mới cầm một con dao to lội xuống ruộng dọn cỏ, chưa đến buổi trưa, đã dọn quang cả 5 mẫu ruộng. Dọn xong, nằm ngủ dưới gốc cây, tiếng ngáy như sấm.

    Một lát, bà già sai người nhà đem cơm đến, gọi ông ấy thức dậy, ông ấy ăn một lúc, hết cả hai mâm cơm, rồi lấy tiền gạo mà đi.

    Chúng[3] tưởng là thần, dần dần mới biết là con quan Bảng nhãn ai nấy phàn nàn không ngần nào.

    Đến năm 18 tuổi, nhớ lời cha dặn, mới đến học quan Trạng Trình. Bấy giờ học trò quan Trạng hơn 3.000 người, duy có ông Kế Khê là hay chữ nhất trường. Khi ông Hữu Khánh đến học, mới làm ba kỳ văn, đã đè trên ông Kế Khê.

    Trình tiên sinh vốn là học trò ông Lương Đắc Bằng khi xưa, nay thấy con thầy đến học, hay chữ như thế, có bụng quí trọng trăm phần, thường tư cấp cho để mà học.

    Bấy giờ nhà Mạc mở khoa thi, ông Lương Hữu Khánh vốn không có bụng làm quan với nhà Mạc, nhưng ngặt vì nhà nghèo và còn mẹ già, bất đắc dĩ phải ra thi. Khi thi thì bốn kỳ cùng thứ nhất, mà văn ông Kế Khê thì đỗ thứ nhì. Đến lúc hồi phách[4] quan Tràng thấy ông ấy là người Thanh Hóa, mới đánh xuống thứ nhì mà ông Kế Khê lên thứ nhất (vì bấy giờ tự Thanh trở vào thuộc về nhà Lê, tự Ninh Bình trở ra thuộc về nhà Mạc). Ông Hữu Khánh thấy xử thiên tư làm vậy, mới bỏ không vào thi đình nữa, vì thế ông Kế Khê mới đỗ Trạng Nguyên[5].

    Khi ấy, Hữu Khánh trọ ở hàng Bông, một hôm để dành được 6, 7 đấu gạo, và hai lọ nước mắm, thổi cơm rồi trải chiếu xuống đất ngồi ăn, rung đùi đắc chí, cười vang lên nói rằng:

    - Thế này chẳng kém gì mâm cơm nhà quan!

    Xẩy có một ông quan tự trong triều trở về, nghe thấy tiếng cười nói, dừng xe lại nhìn, lấy làm kỳ dị cho 5 quan tiền, rồi tiến lên với vua nhà Mạc.

    Vua Mạc sai sứ đến nhà trọ, khuyên dụ trăm điều, Hữu Khánh nhất định không ra làm quan. Tự bấy giờ lại đi bơ vơ, nay đây mai đó, con một nơi, mẹ một nẻo, trông cảnh động lòng, lắm phen chua xót.

    Nhà Lê bấy giờ khởi quản ở phủ An Tràng, vốn nghe tiếng ông Hữu Khánh là người tài lạ, nhiều khi muốn sai người ra đón về giúp, nhưng vì đường xá xa khơi, đi lại gian hiểm, cho nên chưa có dịp nào mà đem về được.

    Vài năm sau, Kế Khê được cầm quyền chính nhà Mạc, sai người tìm Hữu Khánh thì gặp cả hai mẹ con ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc đem về. Kế Khê nghĩ tình bạn lưu ở trong nhà, cung đốn tử tế, và khuyên dỗ cho ra làm quan, nhưng Hữu Khánh biết cơ nhà Lê sắp trung hưng, có ý muốn phò nhà Lê, cho nên không ra làm quan với nhà Mạc.

    Kế Khê biết ý Hữu Khánh, muốn đuổi đi nhưng không nói ra, nhân một bữa ở trong triều về, giả tảng nói rằng:

    - Tôi hôm nay phụng chỉ làm một bài phú, nhưng việc quan bận bội lắm, nhờ anh làm giúp cho tôi.

    Nói rồi, thò tay vào túi, lấy ra một mảnh giấy đầu bài, đưa cho ông Hữu Khánh. Hữu Khánh thấy đầu bài: “Tần quan văn kê”[6] biết là ý muốn đuổi mình, lập tức dặn mẹ đi lẻn ra bến Hoàng Liệt về Thanh Hóa trước, mà mình thì mật đưa một bài biểu vào An Tràng, hẹn ngày ấy thì đem thuyền ra đón tại cửa Thần Phù.

    Được vài hôm, làm xong bài phú, để trên đầu giường, rồi lẻn ra đi gấp đường xuống cửa bể Thần Phù. Khi Kế Khê ở trong triều trở về, đến nhà học, không thấy ông Hữu Khánh đâu, cho đi hỏi khắp cả các nhà anh em bạn học, cũng không thấy tin tức gì cả. Xẩy thấy trên đầu giường có bài phú, trong bài có câu rằng: “Lưu khách hóa ra đuổi khách”. Kế Khê ngạc nhiên nói rằng:

    - Anh này đi mất, triều đình còn là nhiễu về anh này!

    Lập tức sai quân đi các ngả đuổi theo bắt về. Khi Hữu Khánh đến cửa Thần Phù, thì vua Lê đã sai năm chiếc thuyền chiến và 1.000 quân ra đón. Hữu Khánh vừa bước chân xuống thuyền thì quân nhà Mạc đuổi theo vừa đến.

    Hữu Khánh ngồi trong thuyền gọi to lên bảo rằng:

    - Gửi lời các anh, về tạ ông Kế Khê, ngày sau ta sẽ xin đền trả ơn.

    Khi về đến cửa phủ An Tràng, vua Lê mừng rỡ lắm, cử làm Thị lang, cho tham tá việc quân cơ. Hữu Khánh bầy ra mưu mẹo gì cũng đắc cả, vua tin dùng hơn cả mọi người, sai cầm riêng một đạo quân đi dẹp giặc.

    Hữu Khánh nhớ đến lời nhà sư khi trước, phàm các trận mạc, thấy chỗ nào đồn giặc đóng cạnh chùa chiền, thì rút quân lảng đi không đánh, để tránh sự phá hại nhà chùa.

    Về sau làm đến Binh bộ thượng thư, công nghiệp hiển hách vào bậc danh thần đời trung hưng.



    1: Hàn Dũ đời nhà Đường, xin hủy tượng Phật và đốt sách Phật.
    2: Thủy Hoàng chôn học trò và đốt sách nho.
    3: Dân chúng, chỉ mọi người (BT).
    4: Quyển thi rọc tên ra, gọi là rọc phách. Đến lúc chấm văn xong lại dán tên lại gọi là hồi phách.
    5: Thế mới biết chủ nghĩa lý lịch áp dụng trong thi cử đã có cội nguồn từ xa xưa! (BT).
    6: Nghĩa là cửa ải nhà Tần nghe tiếng gà gáy. Ngày xưa Mạnh Thường Quân ở nước Tần trốn về Tề, ra đến cửa ải thì cửa ải còn đóng chưa mở. Lệ lính canh ải, hễ gà gáy thì mới mở cửa cho khách đi lại. Trong bọn đầy tớ Mạnh Thường Quân, có người giả làm gà gáy. Các gà cạnh đấy tưởng là trời sắp sáng, đua nhau gáy ầm cả lên, lính canh mới mở cửa, Mạnh Thường Quân vì thế chạy được thoát.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 9:48 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ II: CÁC BẬC DANH THẦN

    PHẠM ĐÌNH TRỌNG



    Hình minh họa, nguồn internet
    Phạm Đình Trọng người làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, tỉnh Hải Dương.

    Tục truyền ngài là thần Ngũ hồ giáng sinh[1]. Năm 26 tuổi đỗ Tiến sĩ, quan trường là Nguyễn Trọng Quát xem văn của ngài, đã mừng cho triều đình được người kinh luân giỏi.

    Năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740) được cử làm Giám sát ngự sử, một khi ở kinh về, ngủ trọ làng Hoàng Xá, huyện Kim Thành, trông thấy một người nằm núp trong đống củi, bắt ra tra hỏi, thì là tướng giặc tên là quận Gió, ngài bắt đem nộp, được thưởng 300 quan tiền.

    Năm Tân sửu ngài làm Hiệp đồng, kiêm chức Phòng ngữ sứ, phải đi dẹp giặc, bắt được hai tướng giặc là ngụy Cừ và ngụy Tuyển ở núi Ngọa Vân, đóng cũi đem về kinh đô, được thăng làm Công bộ Hữu thị lang.

    Bấy giờ trong nước lắm giặc, mà kiệt hiệt nhất là Quận He, tên chữ là Nguyễn Hữu Cầu. Quận He là người làng Lôi Đỗng, huyện Thanh Hà, có sức khỏe như thần, mỗi khi lâm trận, chỉ cắp hai thanh siêu đao phi ngựa xông vào, quan quân tan dãn, không ai địch nổi, đã có tiếng gọi là Hạng Võ nước Nam. Tục truyền là thần cá bể sinh ra, cho nên lại tài nghề lặn nước.

    Quận He quấy nhũng vùng đông nam, quan quân đánh mãi không trừ được. Ngài phụng mệnh đốc quân thủy; đóng ở bờ sông cạnh núi Đồ Sơn, huyện Đông Triều. Một hôm, ngài đang ngồi trong thuyền, không ngờ Quận He lặn ngầm dưới nước, nhẩy vọt lên thuyền, giết chết một tên lính. Ngài vội vàng đóng cửa thuyền hô to lên rằng:

    - Tao đã chém được Quận He rồi đây!

    Chúng tưởng thực xô cả lại. Quận He phải nhẩy xuống sông, núp dưới bánh lái. Ngài sai quân cầm giáo đâm xỉa xuống. Quận He chạy mất.

    Lại một hôm, ngài chỉ có một chiếc thuyền đóng ở bến Triều, bất thình lình, giặc kéo 3 chiếc thuyền đến vây lại đánh, ngài suất thủ hạ đánh hăng sức quá, giặc phải bỏ mà chạy, vua khen là mưu dũng hơn người, phong làm Giao lĩnh hầu.

    Năm Nhâm tuất, vua triệu ngài về sai làm chủ khảo thi hội. Thi xong, lại sai cùng với Tuân quận công tiến quân đi đánh giặc, ngài tâu tường tận lắm, vua mừng mà thưởng cho 3 cấp và 300 quan tiền.

    Năm Giáp tý, Quận He chiếm giữ núi Đồ Sơn ở phủ Kinh Môn, tán tía, tàn vàng, lừng lẫy một vùng bãi bể, tự hiệu là nhà Triều, thủ hạ có 18 quận công, và bốn năm vạn quân, thanh thế rất là hách dịch.

    Ngài phụng mệnh làm Thống lĩnh bình khấu đại tướng quân, được quyền sai phái binh mã thủy bộ các xứ Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Nam, An Quảng. Ngài nhận chức, coi việc đánh giặc là trách nhiệm của mình. Khi cất quân ra khỏi cửa phủ, đóng cờ ở đình Quảng Văn, rồi vào hầu Hoàng thượng ở trong đền chính, Hoàng thượng an ủy một hồi, rồi ngự viết một đạo sắc ban cho.

    Sắc rằng:

    “Trăm họ đâu cũng là binh, kho tàng đâu cũng là của, cho ngươi tùy tiện mà làm việc, nhất thiết giao phó cho ngươi cả đó”.

    Ngài lạy từ đi ra, tiến binh đến thẳng núi Đồ Sơn, chiếm chỗ núi cao hạ trại, rồi dùng mẹo đánh phá, sai quân thủy chặn đường tải lương của giặc ở các cửa bể; mà ngài mang một đạo binh, đi ngầm đàng mé sau núi, chặt cây cối mở lối đi, rồi xe súng lớn lên trên đỉnh núi, bắn vào trong trại giặc, giặc phải trốn đi nơi khác, lại chiếm giữ mạn sông Thương ở tỉnh Kinh Bắc, đắp thành Thọ Xương, dần dần lại chiếm được hết tự bờ sông trở sang bắc.

    Bấy giờ Hoàng Ngũ Phúc (Quận Việp) đang làm Thống lĩnh tỉnh Bắc, đem quân đánh nhau với giặc, đánh ba trận thì thua cả ba, vì thế giặc lây láng ra mọi nơi.

    Năm Ất sửu, ngài lại phụng mệnh đốc chiến. Một hôm, ngài đang ngồi ở mé nam bờ sông Thương, cùng với một người khách uống rượu, bàn việc binh. Giặc ở bên kia bờ sông, bắn sang một phát, chết mất một tên lính hầu.ân đánh nhau với giặc, đánh ba trận thì thua cả ba, vì thế giặc lây láng ra mọi nơi. Người khách xin ngài hãy tạm lánh đi. Ngài nói rằng:

    - Ba quân hay dở, quan hệ về một ông tướng, nếu ta mà lui đi, thì giặc tất kéo sang sông ngay.

    Bấy giờ giặc dàn chiến thuyền ở mé bắc, mà cắm cờ ở cửa sông để phòng quan quân tràn vào, ngài sai đắp lũy ở trên bờ sông, làm kế vững bền, một mặt thì sai kéo tự trên thượng lưu, di chuyển đường bộ kéo xuống, đến làng Đa Mai, huyện An Dũng, thủy bộ giáp hai mặt lại đánh. Giặc núng thế, muốn phá cừ để chạy ra ngoài, nhưng không ngờ cừ đã bị quân của ngài đóng kỹ lại tự bao giờ, không sao phá mà ra được, giặc phải bỏ cả thuyền chạy lên bộ, quan quân đuổi đánh, bắt được rất nhiều.

    Vua được tin mừng lắm, thưởng cho 10 lạng vàng và vài trăm thẻ bạc, để tùy ý thưởng cho tướng sĩ. Vua lại viết bốn chữ “Văn võ toàn tài” ban cho.

    Khi ấy lại có đám nghịch Ngũ chiếm giữ làng Ngọc Bội, đã được vài năm, thế cũng hùng dũng. Phan phái hầu là Nguyễn Phan đem quân đi đánh, bị giặc vây ở làng Hương Canh. Vua sai ông Quốc cữu cầm 18 cơ binh lên đánh giải vây, đánh hơn một tháng trời không được. Vua thấy mặt đông bắc đã hơi yên, mới triệu ngài về sai lên dẹp mặt Sơn Tây.

    Khi ngài về vào chầu, vua ban cho một thanh gươm bảo rằng:

    - Từ phó tướng trở xuống, hễ ai không tuân lời cho phép cứ chém; còn cái áo gấm ban cho tướng trước sai đi, làm không nổi việc, cho người lên mà đòi lấy, hẹn cho 10 hôm thì phải xong việc.

    Ngài từ vua mang quân đi. Khi đến gần chỗ đất giặc, ngài cưỡi voi trèo lên trái núi trông xem, thì thấy khu giặc ở có 15 ngọn đồn, liên tiếp với nhau; mà chung quanh ngoài lũy thì toàn đồng lầy cả. Ngài mới truyền cho quân mỗi người phải mang một bó củi và một bó đuốc, nửa đêm kéo quân vào, sai ném củi xuống đồng lầy làm đường đi, rồi phá trộm lũy vào chính trại to của giặc, phóng hỏa đốt trại, rồi thì trong ngoài đánh áp vào, đốt luôn cả các đồn khác. Giặc đánh không nổi phải tan chạy, mới giải được vây cho Phan phái hầu.

    Ngài ngồi trên đầu voi, thảo biểu dâng về tâu công, và sai người lại đòi áo gấm của tướng trước, rồi đem quân về chầu, bấy giờ mới có 6 ngày.

    Vua mừng lắm, cho ngồi ăn yến cùng một chiếu với Việp quận công.

    Vua bảo rằng:

    - Nghịch Ngũ tuy nhiên dông dỡ, nhưng chẳng qua chỉ là giặc giữ nhà mà thôi. Còn như nghịch He, nó còn ra vào bất trắc lắm, ngươi phải lưu tâm mà đề phòng, vậy ngươi nên về ngay dưới mặt đông nam mới được.

    Ngài lạy tạ, lập tức lên đường, về đến trại cũ ở làng Bối Thị huyện Vĩnh Lại, khao thưởng quân sĩ, nói phao lên rằng: cho quân ăn uống vui chơi năm ngày.

    Bỗng dưng đến nửa đêm hôm thứ ba, nghe tiếng trống om sòm, thì ra ngài đã mang quân thủy đuổi đánh Quận He ở ngã ba sông Tranh. Các tướng cũng kéo quân bộ ra đánh. Quận He phải chạy trốn mất. Các tướng ai nấy mừng rỡ, nhưng không biết vì cớ gì mà ngài biết trước giặc đến mà đánh ngay được như thế.

    Các tướng hỏi thì ngài bảo rằng:

    - Ta mới tự kinh đô lại đây, giặc tất có người dọ thám. Hôm thứ nhất nó xem ta động tĩnh thế nào. Nó thấy ta nói phao lên cho quân ăn uống năm ngày, tất nó đồ[2] rằng quân ta trễ nhác. Sang ngày thứ hai, nó tất đem ngầm quân đến đánh quân ta, ngày thứ ba thì nó đến nơi, cho nên ta đón đường trước mà đánh. Đó là phép binh nhử cho người đến mà đánh đấy.

    Các tướng ai cũng chịu là mẹo cao. Ngài lại sai quân chia giữ các nơi xung yếu; và sức cho dân phải giữ giúp cho nhau, hễ có giặc phải báo quan ngay, để đem binh đến tiễu[3]. Từ đấy thế giặc mỗi ngày một kém, dần dần quân thưa lương cạn.

    Một hôm, Quận He sai người cầm giấy lại trình ngài, trong giấy ra một câu đối rằng:

    - Ngọc tàng nhất điểm; xuất vi chúa, nhập vi vương[4].

    玉 藏 一 點 出 爲 主 入 爲 王

    Ngài lập tức viết lại đối rằng:

    - Thổ tiệt bán hoành; thuận giả thượng, nghịch giả hạ[5].

    土 截 半 橫 順 者 上 逆 者 下

    Quận He trông thấy, vừa sợ vừa thẹn, không dám đánh nhau nữa. Mới sai người đem vàng bạc hối lộ cho người quyền thần phủ chúa Trịnh tên là Đỗ Thế Giai, giả tiếng xin ra hàng, mà kỳ thực là muốn dùng chước hoãn binh. Đỗ Thế Giai nhận lễ, nói với chúa Trịnh. Chúa Trịnh tin lời cho hàng, và phong cho Quận He làm Ninh đông hầu, truyền đem thủ hạ lại chầu.

    Phạm Đình Trọng khăng khăng một mực xin đánh, thề không chịu cùng với giặc sống ở đời. Có quan Thự phủ nhân có hiềm riêng với ngài, gièm pha với chúa Trịnh, để chúa Trịnh triệu ngài về kinh. Ngài thì biết cơ Quận He trá hàng, mới đóng quân lại ở đồn Bôi Thị, và chiêu mộ thêm quân cường tráng các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ, Thượng Hồng, Vĩnh Lại, chia làm hai cơ nghĩa binh, đặt tên gọi là cơ Thanh Kỳ và cơ Hồng Vĩnh, sai hai tướng thủ hạ thống lĩnh hai cơ ấy.

    Quan Thự phủ gièm với chúa Trịnh rằng:

    - Phạm Đình Trọng chẳng khác gì Huyền Đức, mà Thanh Kỳ thì là Quan Võ, Hồng Vĩnh thì như Trương Phi. Nay ông ta cầm đại binh ở ngoài, hoặc sinh bụng bất trắc thì làm thế nào?

    Chúa Trịnh vốn tin ngài, không nói gì đến, lại đưa cho một bài thơ để ngài yên tâm.
    Về sau Quận He quả nhiên không ra hàng, cướp bóc vùng đông nam lại càng nhũng lắm. Triều đình sai Quận Côn lĩnh binh đi đánh. Khi sang qua sông Nhị Hà, đến trạm Điên Dao, bị giặc đánh lừa, bắt sống được Quận Côn, chư quân tan vỡ mất cả. Giặc bắt triều đình phải chuộc Quận Côn 300 lạng bạc. Kinh thành nhao nhác cả lên.

    Chúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài lập tức phái binh các đạo và quân nghĩa binh tiến tiễu, đánh nhau ở Gia Phúc, Quảng Xuyên, An Ninh, Tòng Hóa trận nào cũng được, giặc phải trốn đi nơi xa, dân vùng ấy lại được yên ổn.

    Khi trước ở bến Hồng Đàm châu Vạn Ninh, là một nơi rất hiểm ở miền bể đông. Có đám giặc Quan lan, tụ đồ đảng giữ chỗ ấy làm sào huyệt, cướp bóc các thuyền buôn đường bể, việc buôn bán ta với Tàu đọng cả lại. Quan Tổng đốc Quảng Đông không sao trừ được, nhiều lần đưa giấy sang cho quan Tuần phủ Yên Quảng, hợp binh tiễu giặc, đánh luôn mấy năm vẫn chưa xong. Khi ấy ngài đi tuần mặt bể đông, sai thuộc tướng là Vinh thọ hầu đem chiến thuyền đóng ở châu Vạn Ninh, nói phao lên rằng đánh giặc, hẹn ngày với quan Tàu để hợp tiễu[6]. Mà ngài thì mật đem đội thuyền từ dưới núi Đề Thi, ra đường Bạch Long Vĩ, đến thẳng bến Hồng Đàm, đánh phá trại giặc, bắt được tướng đầu đảng và 7 người đồ đảng, đóng cũi nộp cho quan Tàu. Ngài thân đến chơi với quan Trấn thủ Long Môn, người Tàu trông thấy ngài lấy làm lạ lùng, tiếc thay cho ngài là đại tài mà sinh về nước nhỏ, chính nhân mà thờ người quyền thần.

    Quan Tàu tâu việc ấy lên vua Tàu. Vua Tàu khen nước Nam có người giỏi, yên được cõi ngoài ven, sai quan sang ban thưởng cho ngài áo đai, trăm tấm gấm, mười lạng vàng và phong làm Thượng thư. Chúa Trịnh cũng phong cho ngài làm Binh bộ Thượng thư, bởi thế gọi là Thượng thư hai nước.

    Sực lại có tin Quận He quấy nhiễu các huyện Thần Khê, Thanh Lan, dân sự tàn hại. Chúa Trịnh lại sai ngài đi đánh. Ngài đi gấp đường đến huyện Ngự Thiên, đang cùng bàn mưu với Quận Việp, xảy đâu giặc kéo đến vây kín làng ấy. Quận Việp lo phát phiền, một đêm mà đầu bạc trắng xóa. Ngài sai chư quân dàn trận, cầm giáo trông về phía giặc. Một mặt sai quân đắp lũy. Ngài ngồi ngay trong trận thảo tờ hịch, sai đòi tướng tá lại hội. Đang khi ấy, giặc bắn chết một tên lính cầm nghiên mực, ngài sai tên khác thay vào, mà ngài thì cứ ngồi vững vàng như không, trỏ bảo các quân. Giặc thấy vậy không dám đến gần, phải tháo vây mà chạy. Ngài đem quân các đạo, thừa thế đuổi đánh, phá được giặc ở sông Lộng Khê (về huyện Phụ Dực). Lại đuổi đến làng An Vệ, huyện Quỳnh Côi vây bọc được giặc hai ba tầng. Quận He sai quân bó nhiều đình liệu[7], nói phao lên rằng đến đêm thì đốt đình liệu mà đánh ra. Chiều tối, giặc bỗng nhiên bỏ cả đình liệu thúc ngựa kéo ra, quân sĩ không ai dám chống lại, chỉ có một mặt của ngài vây mé ngoài thì giặc không dám ra cửa ấy.

    Về sau Quận He trốn về Nghệ An, hợp đảng với nghịch Diên, quấy nhiễu trong vùng Thanh, Nghệ, ngài đem quân vào Nghệ, đốt phá được trại giặc ở làng Hưng Lãm, rồi đánh tràn vào đến Bạch Đường, Bào Giang. Ngài suất bộ tướng là Quận Trân làm tiên phong, sai Quận Viên làm hậu quân, đuổi giặc mãi đến huyện Quỳnh Lưu, qua làng Hoàng Mai, ở đấy có một trái núi rậm, ngài đồ rằng giặc tất núp vào trái núi ấy, mới đổi tiền quân làm hậu, hậu quân làm tiền, sai vây bọc chung quanh dưới chân núi. Bấy giờ Quận He thế lực đã kiệt lắm rồi, biết thân không còn thể nào chạy thoát, mới đến tiền quân xin hàng.

    Khi trước Quận Trân cầm tiền quân, vốn quen nhau với Quận He. Không ngờ tiền hậu mới đổi, té ra Quận Viên cầm tiền quân. Quận Viên mới sai đóng cũi giải nghịch He về Kinh sư.

    Từ đấy ngài mới thành công trở về, được gia chức là Thiếu bảo, phong làm Dương võ tuyên lực công thần ban cho 12 xã dân và 150 mẫu ruộng để làm ruộng thế nghiệp.

    Năm Cảnh Hưng thứ 12, ngài phụng mệnh trấn thủ tỉnh Nghệ An và châu Bố Chính. Một khi ngài đang ngồi coi việc trên phủ đường bỗng dưng có một con rắn to tự ngoài ra sân bò vào, quân sĩ toan đánh, ngài không cho đánh, thử để xem ra làm sao, thì thấy con rắn bò quanh chỗ sập ngài ngồi, rồi leo lên tràng áo ngài. Ngài cứ ngồi nghiễm nhiên không động, một lát nó lại bò xuống, rồi bò vào hồ Bán nguyệt đi mất.

    Ngài có ý buồn rầu, biết là cái điềm nó đến đón mình. Ngài mới đi khắp trong thuộc hạt, khuyên dân làm ăn yên nghiệp.

    Một hôm, ngài đang nằm trong màn, đang đêm bỗng “dạ” to lên một tiếng, cả nhà giật mình. Hỏi cớ làm sao thì ngài nói rằng:

    - Thượng đế sai đòi ta về rồi.

    Chúng ngạc nhiên, chưa biết thế nào. Đến ngày mồng một tháng giêng năm sau, là năm Giáp tuất, ngài mặc áo chầu ra giữa phủ đường, ngoảnh mặt về bắc lễ vọng Thiên tử, rồi lên giường nằm, tự nhiên thiếp dần đi rồi mất.

    Vua được tin thương xót vô cùng, sai quân thủy bộ hộ tống linh cữu về làng ngài an táng, và sai quan Thượng thư là Trần Cảnh đến nhà dự tế.

    Chúa Trịnh cũng sai Thượng thư là Nguyễn Công Thái đến tế, và tặng 16 chữ: “Phủ dân, tiễu khấu, cố bản, an biên, ái quốc, trung quân, hoàn danh, cao tiết”. Lại gia tặng chức Thái phó, phong làm Hải quận công thượng đẳng phúc thần, sai lập đền thờ ở làng Giáp Sơn.

    Chúa Trịnh lại ban cho một câu đối thờ rằng:

    Cái thế anh hùng kim cổ thiểu.
    Tại nhân công đức địa thiên tràng
    [8].



    1: Lúc ngài còn nhỏ thường ngâm một câu rằng: “Trời chẳng già, đất chẳng già, năm hồ bảy miếu một mình ta”. Đến sau ngài đi kinh lược xứ Sơn nam, có bọn khách Tàu ở phố Hiếu vào hầu, trông hình dáng ngài y như tượng thần Ngũ hồ bên Tàu. Nhân hỏi ngài sinh ra ngày tháng nào, thì quả nhiên trúng về ngày tháng Ngũ hồ có sự biến lạ, hiện còn ghi vào bia bảy miếu ở bên ấy, mới biết khi ấy là thần Ngũ hồ giáng sinh.
    2: Tưởng, nghĩ, đoán liệu (BT).
    3: Đánh dẹp (BT).
    4: Nghĩa là chữ Ngọc giấu đi một nét chấm, thò lên thì là chữ chúa thụt xuống thì là chữ vương. Có ý khoe mình làm nổi vua chúa.
    5: Nghĩa là chữ thổ cắt bỏ nửa nét ngang đi, phải thì là chữ thượng, trái thì là chữ hạ. Có ý chê kẻ kia phản nghịch.
    6: Hợp binh lại để đánh dẹp (BT).
    7: Đuốc (BT).
    8: Nghĩa là anh hùng đời xưa nay hiếm có, công đức cho người ta được nhờ dài bằng với trời đất.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 10:01 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ III: CÁC BẬC DANH HIỀN

    MẠC ĐĨNH CHI



    Hình minh họa, nguồn internet
    Mạc Đĩnh Chi tự là Tiếu Phu, người làng Lũng Đỗng, huyện Chí Linh (Hải Dương), nguyên về dõng dõi quan Thượng thư Mạc Hiển Tích về triều nhà Lý (Hiển Tích đỗ Trạng nguyên đời vua Trung Tôn nhà Lý, làm Lại bộ Thượng thư).

    Tục truyền làng Lũng Đỗng có một thung rừng rậm, cây cối bùm tum lắm giống hầu (con khỉ) ở. Mẹ ông ấy thường khi vào rừng kiếm củi, phải con hầu to bắt hiếp. Về nói với chồng, chồng ăn mặc giả làm đàn bà, giắt sẵn con dao sắc vào rừng, con hầu quen thói lại ra, bị ông kia chém chết bỏ thây ở đấy. Sáng mai ra xem thì mối đã đùn đất lấp hết, thành một gò mả.

    Bà kia từ đấy thụ thai, đủ tháng, sinh ra Mạc Đĩnh chi, mặt mũi xấu xí, người nhỏ loắt choắt tựa như giống hầu.

    Ông cha đến lúc gần mất, dặn lại táng lên trên mả con hầu, vì biết chỗ ấy là chỗ đất kết (ngôi mả đến giờ vẫn còn).

    Mạc Đĩnh Chi lớn lên bốn năm tuổi, tư chất thông minh hơn người. Bấy giờ Hoàng tử là Chiêu quốc công mở trường dạy học trò, Đĩnh Chi vào học. Đến năm gần 20 tuổi, là năm Giáp thìn đời vua Anh Tôn nhà Trần, Đĩnh Chi thi đình, văn đáng đỗ đầu cả mọi người. Nhưng vua trông thấy người hình dạng xấu xa, toan không cho đỗ Trạng nguyên, Đĩnh Chi là một bài phú “Ngọc tỉnh liên” để ví vào mình, vua mới lại cho đỗ Trạng nguyên.

    Khi Đĩnh Chi phụng mệnh sang sứ nhà Nguyên bên Tàu, đã hẹn ngày với người Tàu đến hôm ấy thì mở cửa ải, vì gặp phải trời mưa gió sai hẹn, người Tàu đóng cửa không cho vào. Đĩnh Chi nói tử tế xin cho mở cửa. Người Tàu ra một câu đối tự trên ải ném xuống, và bảo hễ đối được thì mở cửa.

    Câu ra:

    “Quá quan trì, quan quan bế; nguyện quá khách quá quan”. [1]

    Đĩnh Chi viết ngay một mảnh giấy đối lại đưa lên:

    “Xuất đối dị, đối đối nan; thỉnh tiên sinh tiên đối” [2]

    Người Tàu khen có tài nhanh nhẩu, mới mở cửa ải cho vào. Khi đến cửa Yên Kinh, người Tàu thấy xấu xa, có bụng khinh bỉ. Một hôm, quan Tể tướng Tàu mời vào phủ đường ngồi chơi, Đĩnh Chi trông thấy trên bức trướng có thêu con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc, tưởng là con chim thực, đứng dậy chạy lại bắt. Người Tàu cười ầm cả lên, Đĩnh Chi xé tan ngay bức trướng ấy ra.

    Chúng ngạc nhiên hỏi cớ làm sao thì thưa rằng:

    - Tôi có nghe người ta thường vẽ chim sẻ đậu cành mai, không ai vẽ đậu cành trúc bao giờ. Nay Tể tướng sao lại cho vẽ thế? Trúc là giống cây quân tử, chim sẻ là loài vật tiểu nhân, vẽ thêu như thế, thì cho tiểu nhân ở trên quân tử, tôi e rằng đạo tiểu nhân mỗi ngày thịnh lên, mà đạo quân tử mỗi ngày mòn đi, nên tôi trừ giúp cho thánh triều đấy thôi.

    Chúng chịu là biện bác có lẽ.

    Đến khi vào chầu, nhân có ngoại quốc dâng một đôi quạt quí. Vua Tàu sai Đĩnh Chi và một người sư Cao Ly, mỗi người đề một bài tán vào quạt.

    Sứ Cao Ly làm xong trước.

    Lời tán rằng:

    “Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công. Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề” [3]

    Bấy giờ Mạc Đĩnh Chi chưa nghĩ ra ý tứ làm sao, nhác trông sang quản bút bên kia viết, biết là lời lẽ như thế, mới suy ra mà đề một bài như sau này:

    “Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô; nhĩ ư tư thời hề, Y, Chu cự nho! Bắc phong kì lương, vũ tuyết tái đồ; nhĩ ư tư thời hề, Di, Tề ngã phu; Y! dụng chi tắc hành xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù?” [4]

    Đề xong dâng lên, vua Tàu cầm bút khuyên chữ Y, phê rằng: “Lưỡng quốc trạng nguyên” (nghĩa là trạng nguyên hai nước).

    Thường khi cưỡi lừa đi đường, chạm phải ngựa của người Tàu. Người kia đọc lên một câu rằng:

    “Súc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân dã! Tây di chi nhân dã!” [5]

    Đĩnh Chi ứng khẩu đối rằng:

    “Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư! Bắc phương chi cường dư!” [6]

    Lại thường đối đáp với người Tàu, Tàu ra rằng:

    “An, nữ khứ: thỉ nhập vi gia” [7]

    Đối rằng:

    “Tù, nhân xuất: vương lai thành quốc” [8]

    Người Tàu phê rằng:

    - Con cháu về sau, tất có người làm đến đế vương, nhưng hiềm về chữ quốc (国) đơn, thì hưởng nước không được tràng cửu mấy nỗi.

    Lại ra:

    “Nhật hỏa vân yên; bạch trú thiêu tàn ngọc thỏ” [9]

    Đối:

    “Nguyệt cung tinh đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô” [10]

    Người Tàu phê rằng:

    - Con cháu về sau, tất có người cướp nước (Mạc Đăng Dung giết vua Lê cướp nước).

    Lại ra:

    “Li, vị, võng, lưỡng, tứ tiểu quỉ” [11]

    Đối:

    “Cầm, sắt, tì, bà, bát đại vương” [12]

    Tàu phê rằng:

    - Đời sau được làm phúc thần, hưởng người ta tế bái (về sau quả nhiên làm thành hoàng làng Cổ Trai).

    Lại ra:

    “Điểu tập chi đầu đàm Lỗ luận: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri!” [13]

    Đối:

    “Oa minh trì thượng độc Châu thư: Lạc dữ tiểu lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?” [14]

    Lại ra:

    “Lạc thủy thần qui đan ứng triệu, thiên số cửu, địa số cửu, cửu cửu bát thập nhất số, số số hỗn thành tam đại đạo, đạo hợp Nguyên thủy thiên tôn, nhất thành hữu cảm” [15]

    Đối:

    “Kì sơn minh phụng lưỡng trình tường, hùng thanh lục, thư thanh lục, lục lục tam thập lục thanh, thanh thanh ưởng triệt cửu trùng thiên, thiên sinh Gia Tĩnh hoàng đế, vạn thọ vô cương” [16]

    Một khi bà Hoàng hậu ở Tàu mất, vua Tàu sai ông Mạc Đĩnh Chi vào đọc văn tế. Đến lúc quì xuống cầm bản văn đọc thì chỉ thấy một tờ giấy trắng, có bốn chữ nhất mà thôi. Đĩnh Chi không nghĩ ngợi gì, đọc ngay rằng:

    “Thanh thiên nhất đóa vân,
    hồng lô nhất điểm tuyết,
    ngọc uyển nhất chi hoa,
    dao trì nhất phiến nguyệt.
    Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết”
    [17]

    Bài văn ấy còn chép vào sử Tàu. Người Tàu ai cũng chịu tài ứng biến nhanh.

    Tục truyền rằng Mạc Đĩnh Chi ở Tàu, ai cũng chịu là người tài, mà xét đến tướng mạo, thì không có gì làm quí cách, mới cho người rình, lúc đi đại tiện thấy tiện ra hình vuông, mới biết có ẩn tướng ở đấy.

    Đến lúc đi sứ về, người Tàu lại theo sang xem địa lý, xem đến ngôi mộ thân phụ ông ấy, chịu là ngôi đất hay và có nói rằng ngôi ấy hình thế rất đẹp, chỉ hiềm không có nước tụ, thiếu mất hổ thủy, cho nên quí mà vẫn nghèo.

    Đĩnh Chi làm quan liêm quá, vua Minh Tôn biết tính ông ấy; thường sai người đem 10 quan tiền, rình lúc tối bỏ vào cửa nhà ông ấy. Sớm mai Đĩnh Chi vào tâu ngay với vua, xin bỏ tiền ấy vào kho.

    Vua bảo rằng:

    - Tiền ấy đã không có ai nhận, thì cho người cứ việc mà tiêu.

    Bấy giờ Đĩnh Chi mới lấy, đại để thanh liêm như thế cả. Đến triều vua Hiến Tôn, làm nên đến chức Tả bộc xạ (Tể tướng). Văn chương lưu truyền lại về sau rất nhiều, mà bài nào cũng vui thích cho tai mắt người ta cả. Vả lại có đức hiền hậu, cho nên để phúc mãi đến đời con cháu. Con ông ấy là Khản, Trực, cùng làm đến Viên ngoại lang. Cháu là Địch, Toại, Viễn, cùng có quyền thế làm quan đương lúc nhà Minh cai trị. Đời cháu chắt thiên[18] sang ở làng Cổ Trai huyện Nghi Dương, thì có Đăng Dung là cháu bảy đời ông ấy làm vua nhà Mạc.

    Nhà Mạc lên làm vua, truy phong Đĩnh Chi làm Huệ việt linh thánh đại vương, bây giờ ở làng ấy còn thờ làm phúc thần.



    1: Quá ải chậm, người coi cải đóng ải, mời khách qua đường qua ải mà đi.
    2: Ra đối dễ, làm lại đối khó, xin ông sinh trước đối trước đi cho.
    3: Đang lúc nắng nẫu nực, thì như ông Y Doãn, ông Chu Công (ý là đắc dụng với thời). Đến khi mưa tuyết lạnh ngắt, thì như ông Bá Di, ông Thúc Tề (ý là xếp xó một chỗ).
    4: Nắng chẩy vàng tan đá, trời đất như lò lửa; ngươi về lúc ấy ví như Y, Chu hai ông quan to. Gió bắc lạnh lẽo, mưa tuyết lấp đường; ngươi về lúc ấy ví như Di, Tề hai người chết đói. Than ôi! Khi dùng đến thì ra, khi không dùng đến thì cất đi, chỉ ta với ngươi được thế thôi.
    5: Chạm vào ngựa của ta cưỡi ấy là người Đông di hay người Tây di?
    6: Chắn đường lừa của ta đi, thử xem người phương Nam khỏe hay là người phương Bắc khỏe? (Câu ra thì dùng chữ sẵn ở sách Mạnh Tử, câu đối thì dùng chữ ở sách Trung dung cho nên hay mà tài)
    7: Chữ an (安) bỏ chữ nữ (女), chữ thỉ (豕) vào thì là chữ gia (家).
    8: Chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), chữ vương (王) đến thì là chữ quốc (国).
    9: Lửa mặt trời, khói đám mây, ngày trắng đốt tàn con thỏ ngọc.
    10: Cung mặt nguyệt, đạn ngôi sao, chiều hôm bắn rụng cái ô vàng.
    11: Bốn chữ LI VỊ VÕNG LƯỠNG cùng có chữ QUỈ.
    12: Bốn chữ CẦM SẮT TÌ BÀ mỗi chữ có hai chữ VƯƠNG thành tám.
    13: Chim đậu cành đọc sách Luận ngữ, có câu: Tri chi… (Nghĩa là: điều gì biết thì cho là biết, điều không biết thì cho là không biết, thế mới là biết). Có ý chê là tiếng nói như tiếng chim.
    14: Ếch kêu trong ao học sách Mạnh Tử, có câu: Lạc dữ… (Nghĩa là: nhạc cùng với nhiều người vui, nhạc cùng với ít người vui, thì đằng nào vui?). Có ý chê lại người Tàu nói như tiếng ếch.
    15: Con rùa sông Lạc báo triệu tốt, số trời chín, số đất chín, chín chín thành tam mươi mốt số, số số hợp thành ba đạo lớn, đạo hợp với Nguyên thủy thiên tôn, bởi một bụng thành cảm cách lên.
    16: Con phụng núi Kì trình điềm hay, tiếng đực sáu, tiếng cái sáu, sáu sáu thành ba mươi sáu tiếng, tiếng tiếng suốt đến chín từng trời, trời sinh ra Gia Tĩnh hoàng đế, cho muôn tuổi thọ dài lâu mãi.
    17: Một đám mây trên trời xanh, một giọt tuyết trong lò đỏ, một cành hoa vườn thượng uyển, một vầng trăng ao Dao trì. Than ôi! Mây rã, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết.
    18: Dời (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 10:07 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ III: CÁC BẬC DANH HIỀN

    CHU VĂN AN



    Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu
    Tiên sinh húy là Văn An, tự là Linh Triệt. Người làng Quang Liệt, huyện Thanh Trì, đỗ Tiến sĩ về triều nhà Trần.

    Ngài tính ngay thẳng mà điềm đạm, không ham đường danh lợi, chỉ cốt lấy sự tỏ đạo thánh nhân mà triệt mối dị đoan làm việc mình.

    Ngài mở một trường dạy học ở cạnh đầm thôn Cung Hoàng làng ấy. Học trò đến học rất đông, mà nhiều người làm nên hiển đạt, như là Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm đến Tể tướng, mà vẫn phải giữ phép học trò, đứng hầu dưới đất. Trong bọn học trò, ai có điều gì không phải, thì lập tức quát mắng đuổi đi ngay.

    Trong năm Khai Thái đời vua Minh Tôn, vua nghe tiếng ngài là bậc đạo học mô phạm, vời vào làm Quốc tử giám Tư nghiệp để dạy Thái tử học. Đến năm Đại Trị đời vua Dụ Tôn, chính sự triều đình mỗi ngày một suy đốn, bọn quyền thần lắm kẻ sinh ra kiêu ngạo, ngài dâng sớ xin chém bảy người gian nịnh, thì toàn những người quyền thế hách dịch bấy giờ. Vua không nghe, vì thế ngài cởi mũ trả chức quan, xin về làng cũ.

    Ngài trí sĩ rồi, nhân ra chơi làng Ái Kiệt, huyện Chí Ninh (Hải Dương), thấy có phong cảnh lạ lùng, núi non vui vẻ[1], mới làm nhà ở trong khoảng núi Lân Phụng, tự hiệu là Tiều ẩn tiên sinh. Mỗi khi nhàn ngài ra thẩn thơ chơi trên đầm Miết và trong sông Thanh Lương, ngâm thơ uống rượu làm vui. Khi nào có việc triều hội gì, thì lại vào chầu. Vua Dụ Tôn muốn dùng ngài làm tướng, nhưng ngài nhất định không làm quan nữa.

    Bà Hiếu từ thái hậu nói rằng:

    - Người ấy là bậc cao hiền, thiên tử không có quyền bắt người ta làm tội được, giao thế nào được chính sự cho người ta!

    Vua mới sai đem áo mũ đến ban cho ngài, ngài nhận lấy nhưng lại đem cho người khác, thiên hạ ai cũng khen ngài là cao. Học trò bấy giờ coi ngài như núi Thái Sơn, như sao Bắc Đẩu, trọng vọng vô cùng.

    Không bao lâu, ngài mất ở nhà, vua Nghệ Tôn sai quan đến dự tế, ban tên thụy gọi là Văn trinh công, và cho hiệu là Khang tiết tiên sinh, cho được tòng tự[2] vào bên hữu võ đền Văn miếu (đền thờ đức thánh Khổng tử) ngang hàng hàng với các bậc tiên nho.

    Tục truyền khi ngài dạy học ở cạnh làng Cung Hoàng, có người học trò trẻ tuổi, mặt mũi phương phi, sáng nào cũng đến nghe sách, ngài khen là người siêng năng, mà không biết là người ở đâu, mới rình xem lúc về đi đường nào, thì thấy đi đến đầm Cung Hoàng rồi biến mất.

    Ngài biết người ấy tất là thủy thần, nhân bấy giờ trời nắng mãi, ngài mới bảo người ấy rằng:

    - Thiên tai khi nắng, khi lụt, số trời không biết đâu mà nói, nhưng mắt trông thấy dân phương này tiều tụy lắm, ai là chẳng thương tình. Anh có phép gì làm mưa, giúp cho thầy mà cứu lấy dân này không?

    Người học trò có ý khó lòng, nhưng nể lời thầy không biết nói làm sao, mới mài mực đem ra giữa sân, hòa với nước phun ra, một lát mưa to như trút nước xuống. Dân được trận mưa ấy, lúa má đỡ hại nhiều.

    Người ấy từ về, sáng mai, thấy một con thuồng luồng to chết nổi ở trong đầm, mới biết tức là người học trò ấy.

    Ngài thấy vậy thương xót lắm, sai học trò vớt xác thuồng luồng lên chôn cho tử tế. Bây giờ vẫn còn gò mả thuồng luồng.



    1: Núi ấy có 72 ngọn, cây cối rườm rà u uất, mé tả là núi Kì Lân, mé hữu là núi Phụng Hoàng. Trên núi Phụng Hoàng có suối ngọt chảy ra thành nguồn, vòng quanh sườn núi chảy xuống đọng lại một chỗ, gọi là đầm Miết. Nước đầm ấy ngon lắm, rồi lại chảy quanh ra ngoài chân núi thông xuống sông.
    2: Thờ (BT)

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 10:20 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ III: CÁC BẬC DANH HIỀN

    NGUYỄN BỈNH KHIÊM




    Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm, ảnh internet
    Tiên sinh húy là Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Tiên thế nhà ngài có âm đức, đời ông là Văn Tỉnh được phong tặng Thiếu bảo Tư quận công, được ngôi dương cơ, Văn Định được phong tặng làm Thái bảo Nghiêm quận công. Mẹ ngài là Từ thục phu nhân họ Nhữ, nguyên là con gái quan Hộ bộ thượng thư là Nhữ Văn Lan, ở làng An Tử, huyện Tiên Minh. Bà ấy thông kinh sử, giỏi văn chương, mà lại tinh nghề tướng số.

    Bà ấy kén chồng đến ngoài 20 tuổi, thấy ông Văn Định có tướng sinh ra quí tử mới lấy. Về sau lại gặp một chàng trẻ tuổi đi qua bến Hàn, ngạc nhiên nói rằng: “Tiếc thay! Khi trước không gặp người này!”. Hỏi ra thì chàng ấy là Mạc Đăng Dung (về sau làm vua nhà Mạc). Bà ấy phàn nàn không ngần nào.

    Bỉnh Khiêm sinh về năm Tân hợi đời Hồng Đức (niên hiệu vua Lê Thánh Tôn), đẫy đà to lớn, mặt mũi khôi ngô, chưa đầy tuổi tôi đã biết nói. Một khi Văn Định đang ẵm trên tay cho trông ngóng bỗng dưng nói rằng: “Mặt trời mọc về phương đông”. Văn Định lấy làm kỳ dị. Đến năm lên bốn tuổi, phu nhân dạy ngài học chính văn trong kinh truyện, dạy đến đâu thuộc lòng đến đấy. Bà ấy lại dạy học thuộc lòng vài mươi bài thơ nôm.

    Một bữa, phu nhân đi vắng, Văn Định kéo một cái dây đùa với con, rồi ngâm đùa một câu rằng: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Đương đọc dở dang, thì con tiếp theo mà ngâm rằng: “Vén tay tiên hốt hốt rung!”. Văn Định thấy con thông minh mừng lắm, về khoe chuyện với phu nhân. Phu nhân giận nói rằng:

    - Mặt trăng là phận bày tôi, sao ông lại dạy con điều ấy?

    Văn Định thẹn thò xin chịu lỗi, nhưng bà ấy vẫn còn căm tức xin từ về, nhất định không ở đấy nữa, về sau bà ấy già đời ở nhà bố mẹ đẻ[1].

    Khi Bỉnh Khiêm còn để hai trái đào, cùng bọn trẻ con tắm ở bến Hàn, có người đi thuyền trông thấy nói rằng:

    - Tiếc thay cho thằng bé này, bộ da dày lắm, chỉ làm được Trạng nguyên Tể tướng là cùng!

    Khi ngài bé thì học ở nhà, đến lúc lớn, nghe tiếng ông Bảng nhãn Lương Đắc Bằng hay chữ, mới vào Thanh Hóa theo học ông Bảng nhãn.

    Lương Đắc Bằng vốn ở làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa. Nguyên có một chi họ lạc sang ở Vân Nam, đời đời làm quan bên Tàu. Khi Đắc Bằng sang sứ nhà Minh, gặp một người cùng họ là Lương Nhữ Hốt cho một quyển “Thái ất thần kinh”. Đắc Bằng đem về học tập, cho nên tinh nghề lý số, việc gì cũng tính biết được trước.

    Nguyễn Bỉnh Khiêm học hết được phép thuật của ông Lương Đắc Bằng. Khi ông Đắc Bằng mất, dặn lại Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau phải trông nom cho con mình là Lương Hữu Khánh.

    Trong năm Quảng Thiệu (Lê Chiêu Tôn), có việc biến loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở ẩn một chỗ không muốn cầu tiếng tăm với đời. Bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Đăng Dung cùng có ý muốn tranh quyền, đánh nhau luôn mấy năm. Ngài tính số Thái ất, biết cơ nhà Lê lại khôi phục được.

    Ngài có bài thơ cảm hứng sau này:

    Non sông nào phải buổi binh thời,
    Thù đánh nhau chi khéo nực cười!
    Cá vực, chim rừng ai khiến đuổi?
    Núi xương, sông tuyết thảm đầy vơi.
    Ngựa phi chắc có hồi quay cổ [2]
    Thú dữ nên phòng lúc cắn người [3]
    Ngán ngẩm việc đời chi nói nữa,
    Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi!


    Về sau, nhà Mạc chiếm giữ Kinh thành, bốn phương đã hơi yên ổn, các bạn bè nhiều người khuyên ngài ra làm quan. Ngài bất đắc dĩ phải ra thi đỗ Trạng nguyên năm Đại Chính thứ sáu nhà Mạc. Bấy giờ ngài đã 44 tuổi.

    Vua nhà Mạc cất ngài làm Tả thị lang, Đông các đại học sĩ. Ngài làm quan được 8 năm, trước sau dâng sớ hạch 18 người lộng thần, nhân có chàng rể là Phạm Dao cũng kiêu hoạnh, ngài sợ phải vạ lây, mới từ quan cáo về dưỡng lão.

    Khi ngài trí sĩ rồi, làm nhà chơi mát ở mé dưới làng, gọi là am Bạch Vân, lại bắc hai dịp cầu gọi là Nghênh Phong và cầu Tràng Xuân, thường thường ra chơi hóng mát. Lại làm một cái quán Trung Tân ở bến sông Tuyết Giang, dựng bia kí sự mình. Khi thì ngài bơi thuyền chơi ở bể Kim Hải và bể Úc Hải, khi thì đi với một vài nhà sư chơi ở các núi An Tử, núi Ngọa Vân và núi Đồ Sơn. Đi đến đâu làm thơ ngâm vịnh đến đấy, chỗ nào có cây cối mát, chim kêu ríu rít, thì lấy làm khoái chí lắm, nhởn nhơ cả ngày.

    Ngài tuy ở nhà, nhưng vua nhà Mạc vẫn coi ngài quí trọng, nhà nước có công việc gì to, thì sai sứ đến hỏi tận nhà, hoặc khi mời về Kinh mà hỏi. Ngài bàn định lắm điều ích lợi cho nhà nước, nhà Mạc phong ngài làm Lại bộ thượng thư, Thái phó Trình quốc công, vì thế ta thường gọi là Trạng Trình.

    Năm Ất dậu, ngài phải bệnh, Mạc Mậu Hiệp sai sứ đến thăm và hỏi việc hậu sự.

    Ngài bảo rằng:

    - Ngày sau, nước có việc, ở xứ Cao Bình, tuy nhỏ, nhưng cũng có thể hưởng phúc được vài đời nữa.

    Đến sau nhà Mạc mất nước, chạy lên Cao Bình, quả nhiên còn giữ được bốn đời, rồi mới tuyệt.

    Ngày 28 tháng một năm Ất dậu ngài mất, thọ 95 tuổi. Học trò gọi ngài là Tuyết giang phu tử.

    Ngài học tinh về thuật số, phàm các việc tai, tường, họa, phúc, cùng là ngày mưa, ngày nắng, việc gì cũng biết trước. Có một người học trò tên là Bùi Sinh, ngài bảo người ấy về sau tất phú quí. Đến khi Bùi Sinh gần 70 tuổi vẫn còn nghèo hèn, cho là ngài đoán số mình sai. Ngài cười không nói gì. Một hôm ngài bảo Bùi Sinh mượn 10 chiếc thuyền đánh cá, cho bơi ra bến Hồng Đàm bể Vạn Ninh, dặn đến giờ ấy… hễ gặp cái gì thu lấy đem về, chắc được thưởng to. Bùi Sinh tuân lời quả nhiên gặp một bà cụ già, áo mũ chỉnh tề, thuyền bạt phong [4] đến đấy. Bùi Sinh đem về phụng dưỡng coi như mẹ. Được vài hôm, có quan Tổng đốc Quảng Đông sai người sang nói với vua rằng: “Thái phu nhân chơi bể bạt phong, xem thiên văn thì thấy ở phương nam, xin nhà vua vì nghĩa láng giềng mà tìm giúp cho”. Ngài sai Bùi Sinh đem bà cụ ấy dâng lên, vì thế được phong tước là Thao quận công.

    Năm Thuận Bình thứ 8 nhà Lê (1556), vua Trung Tôn mất không có con, bấy giờ Trịnh Kiểm đang cầm quyền, có bụng hồ nghi, không biết nghĩ ra thế nào. Hỏi Phùng Khắc Khoan, Khắc Khoan cũng không biết thế nào cho phải, mới sai người đi lẻn ra Hải Dương để hỏi ngài, ngài chẳng nói câu gì, chỉ ngảnh lại bảo đầy tớ rằng:

    - Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ.

    Nói rồi, sai tiểu quét dọn đốt hương, để ngài ra chơi chùa, và bảo tiểu rằng:

    - Giữ chùa thờ phật thì ăn oản.

    Đó là có ý khuyên Trịnh Kiểm tìm lấy dòng dõi nhà Lê mà lập nên, mà phải cứ giữ đạo làm tôi ăn mày phật thì mới được hưởng phúc.

    Sứ giả về nói với Trịnh Kiểm, Trịnh Kiểm hiểu ý, mới đón vua Anh Tôn lập nên, quả nhiên dựng lại được cơ đồ nhà Lê mà họ Trịnh cũng đời đời được vinh hiển.

    Khi ấy đức Dụ tổ triều Nguyễn ta (Đức Nguyễn Hoàng) đang có hiềm với Trịnh Kiểm, Trịnh Kiểm có ý muốn âm hại[5], đức Dụ tổ lo sợ, không biết nghĩ mưu gì cho tránh được nạn, mới sai người ra hỏi ngài. Bấy giờ ngài đang chống gậy chơi trong vườn cảnh. Trong vườn có vài mươi ngọn núi non bộ, lại chồng chất đá làm một rặng núi ngang. Trên núi cây cối rườm rà, có đàn kiến đang bò trên tảng đá, ngài nhìn xem đàn kiến rồi tủm tỉm cười nói rằng:

    - Một dải núi Hoành Sơn (núi ngang) kia, có thể yên thân được muôn đời.

    Người kia thấy nói vậy, về nói với đức Dụ tổ. Đức Dụ tổ biết ý, muốn xin vào trấn thủ trong xứ Thuận Quảng (trong ấy có dải núi Hoành Sơn), quả nhiên mỗi ngày một thịnh, mở ra cơ nghiệp Nguyễn triều.

    Học trò ngài rất nhiều, nhưng chỉ có Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Trương Thời Cử là làm nên to mà có danh hơn cả. Phùng, Lương thâm thúy về nghề lý học, cùng làm danh thần lúc nhà Lê trung hưng.

    Khi trước ông Phùng Khắc Khoan thuê nhà đến học ngài. Lúc học giỏi rồi, ngài đang đêm đến chơi nhà trọ, gõ cửa mà bảo rằng:

    - Gà đã gáy rồi, sao không đứng dậy mà thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư?

    Lời ấy có ý giục ông Khắc Khoan vào Thanh Hóa giúp nhà Lê. Ông Khắc Khoan cũng biết ý thế, mới cùng với Nguyễn Dữ vào giúp nhà Lê, làm đến công thần.

    Tính ngài thuần nhã, không hay nói, mà đã nói câu nào thì là thích đáng. Ngài làm ra thơ từ rất nhiều, đến nay vẫn còn một tập thơ Bạch Vân và một quyển sấm ký truyền lại.

    Khi ngài mất rồi, người làng nhớ ân đức của ngài lập miếu ở nơi nhà cũ của ngài, bốn mùa cúng tế. Miếu ấy đến bây giờ vẫn còn…



    1: Tục truyền bà ấy tức ông Văn Định lên Sơn Tây lấy chồng khác sinh ra ông Phùng Khắc Khoan (tức là ông trạng Bùng).
    2: Ứng về sau nhà Lê khôi phục được nước.
    3: Ứng về sau nhà Trịnh lại giữ quyền nhà Lê.
    4: Bị gió đùa (BT).
    5: Hại ngầm (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 10:28 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ III: CÁC BẬC DANH HIỀN

    ĐẶNG ĐÌNH TƯỚNG



    Hình minh họa, nguồn internet
    Đặng Đình Tướng người làng Lương Xá, huyện Chương Đức.

    Tục truyền đời tổ mẫu nhà ông ấy nghèo khó, phải đi ăn xin. Trong làng có một cái đầm, bốn mùa không lúc nào cạn nước. Những người cấy gặt, thường phải bơi thuyền thúng đi làm. Giữa đầm có một gò cao, chúng thường tụ ở đấy kiếm ăn. Bà cụ kia cũng thường theo người ta vào đấy ăn cơm. Một hôm trời rét lắm, bà già không chịu được, nằm xuống ở đấy. Khi chúng trở về, không ai bảo. Đến lúc bà ấy đứng dậy thì không còn người nào. Trời hôm ấy đã rét lại thêm mưa phùn, bà kia chết ở đấy. Hôm sau chúng lại ra, thì thấy mối lấp đất lên lù lù một đống to, mới biết bà ấy chết mà được ngôi thiên táng.

    Từ khi ấy con cái làm ăn mỗi ngày một khá. Đến đời cháu là Đặng Đình Tướng học hành thông thái rồi thi đỗ Tiến sĩ năm Canh tuất đời Cảnh Trị (đời vua Lê Huyền Tôn). Từ đấy ra làm quan, rồi phụng mệnh sang sứ Tàu, được thiên lên làm Lại bộ Thị lang. Lâu mãi làm đến Thái phó, phong tước Quận công. Sau lại làm đến Đại tư đồ.

    Tính ngài nhân hậu phúc đức lắm, chỉ mong làm những việc cho dân được nhờ. Trên từ vua, các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng có lòng kính trọng. Đến lúc ngoài 70 tuổi thì ngài trí sĩ, về làng Lương Xá chơi bời sông núi, xem phong cảnh cho vui tuổi già. Nhưng cứ đến ngày sóc vọng[1] thì lại vào chầu vua một lần.

    Trong lòng ngài lúc nào cũng thương đến dân. Khi ngài từ quan về rồi, treo hai cái giỏ tre ngoài cổng ngõ, phàm dân gian ai có điều gì oan uổng, cho bỏ giấy vào hai cái giỏ ấy. Mỗi khi ngài vào chầu Kinh đô, thì tâu lên vua để gỡ hết oan cho người ta. Tuy vậy, ngài không thèm kể ơn với ai, cứ đạo công bằng mà cứu cho thôi, nếu ai đến tạ ơn thì ngài lấy làm ghét lắm, và không cho vào đến cửa. Vì thế ai cũng phục bụng ngài.

    Ngài thọ 80 tuổi mới mất. Vua nhớ người nhân đức, phong làm Thành hoàng làng ấy, sai dân lập miếu thờ.

    Từ khi ấy nhà ngài thịnh vượng lắm, con cháu làm quan khắp triều đình, mà thời nào cũng có người hiển đạt, hơn 200 năm, không lúc nào hết người làm quan. Tục có câu rằng: “Đánh giặc họ Đinh, làm quan họ Đặng”.


    1: Ngày mồng một và ngày rằm (BT).
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 10:47 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    NGUYỄN HIỀN



    Hình minh họa, nguồn internet
    Nguyễn Hiền quê ở làng Hà Dương, huyện Thượng Nguyên (Nam Định), đỗ thủ khoa năm Bính Ngọ thời vua Thái Tôn nhà Trần, đến năm sau thi đình đỗ Trạng.

    Nguyễn Hiền thông minh từ thủa nhỏ. Khi 6, 7 tuổi học nhà sư ở chùa, nhà sư mỗi buổi dạy 10 tờ giấy, Nguyễn Hiền chỉ học qua là thuộc lòng.

    Một hôm nhà sư tụng kinh vừa xong, vào phòng nằm nghỉ, mơ thấy Phật giáng xuống bảo rằng: “Nhà sư sao không biết bảo Trạng, cứ để cho lên chùa lờn với Phật”. Nhà sư tỉnh dậy soi đèn xem các tượng Phật, thì thấy sau lưng một tượng có chữ đề: “Phạt 30 trượng” và sau mình hai tượng hộ pháp thì có chữ đề: “Phạt 60 trượng”. Nhận nét chữ thì chính chữ ông Nguyễn Hiền. Nhà sư quở mắng Nguyễn Hiền, bắt phải lấy nước tẩy đi.

    Nguyễn Hiền học các sách, qua mắt một lượt là nhớ ngay. Thơ từ phú sách, nói ra tức là văn chương. Năm 11 tuổi, đã nổi tiếng thần đồng, bấy giờ có người học trò ở Kinh Bắc tên là Đặng Tính, tự thị tài mình hơn cả đời. Nghe tiếng Hà Dương có thần đồng, đến chơi tận nhà, thử xem tài học ra làm sao. Khi đến ra một bài phú:

    “Phụng hoàng sào vu A các, Kì lân du vu Uyển hựu” [1]

    Nguyễn Hiền đọc ngay bốn câu rằng:

    “a) Qui phi Lạc Thủy,
    b) Long bất Mạnh Hà.
    c) Ý bỉ Hữu Hùng chi quốc,
    d) Ấp vu Trác Lộc chi a.”
    [2]

    Đặng Tính mới nghe được bốn câu, đã lắc đầu le lưỡi nói rằng:

    - Thiên tài xin nhường bác trẻ tuổi này!

    Năm ấy thi đỗ thủ khoa. Năm sau vào thi đình, vua ra bài phú: “Áp tử từ kê mẫu qui hồ” [3]. Văn Nguyễn Hiền hay nhất, vua cất lên đỗ Trạng nguyên, bấy giờ mới 12 tuổi.

    Trạng vào bái mạng vua trong sân rồng, vua thấy còn bé loắt choắt, lấy làm lạ, hỏi rằng:

    - Trạng nguyên học ai ở nhà?

    Trạng thưa rằng:

    - Tâu bệ hạ, tôi sinh ra đã biết ngay, chỉ còn chỗ nào tôi không biết, thì hỏi nhà sư một vài chữ mà thôi.

    Vua thấy Trạng ứng đối, chưa biết lễ phép, ăn nói không được khiêm tốn, mới cho về học lễ phép, ba năm rồi mới dùng làm quan.

    Nguyễn Hiền về nhà ở không được bao lâu, có sứ Tàu đem một bài thơ ngũ ngôn sang thử nhân tài nước Nam.

    Thơ rằng:

    Lưỡng nhật bình đầu nhật,
    Tứ sơn điên đảo sơn,
    Lưỡng vương tranh nhất quốc,
    Tứ khẩu tung hoành gian.


    Vua hỏi các quần thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao. Phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai quan sứ đến làng Hà Dương, gặp một đứa trẻ trong nhà hàng, mặt mũi phương phi. Sứ giả hỏi thì đứa trẻ ấy không thèm đáp lại. Mới đọc một câu đối nôm rằng:

    “Tự (字) là chữ, cất giằng đầu chữ tử (子) là con: con ai con ấy?”

    Đứa trẻ đối ứng khẩu ngay rằng:

    “Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng chữ đinh (丁) là đứa: đứa nào đứa này?”

    Sứ giả biết đứa trẻ ấy tức là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà, thì thấy Trạng đang lúi húi ở dưới bếp, nhân lại đọc một câu rằng:

    “Ngô văn quân tử viễn bào trù; hà tu mị táo.” [4]

    Trạng ứng khẩu đối rằng:

    “Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại; khả tạm điều canh.” [5]

    Sứ giả thấy ứng đối nhanh nhẩu và có ý cao, chịu là giỏi, mới bày kể ý vua xin mời vào kinh.

    Trạng nói rằng:

    - Thiên tử trước bảo ta chưa biết lễ phép, nhưng chẳng những là Trạng chưa biết lễ phép, cả đến thiên tử cũng chưa biết lễ phép.

    Nói thế rồi nhất định không chịu đi. Sứ giả về tâu lại với vua, vua phải sai đem xe ngựa và đồ lễ đến đón, bấy giờ Trạng mới đi.

    Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tàu ra hỏi, Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng:

    - Câu thơ thứ nhất nghĩa là chữ nhật (日) ngược xuôi bằng đầu nhau; thứ nhì là bốn chữ san (山) ngược xuôi cùng là chữ san cả; thứ ba hai chữ vương (王) tranh nhau ở trong một nước; thứ tư là bốn chữ khẩu (口) ngang dọc cùng thành chữ khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền (田).

    Giải xong đưa cho sứ Tàu xem, sứ Tàu phải chịu. Vì thế vua cử Nguyễn Hiền làm Kim tử vinh lộc đại phu. Sau lại làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông ấy mất.

    Vua thấy người đại tài như thế mà không được thọ, thương tiếc vô cùng. Huyện ông ấy nguyên tên là huyện Thượng Hiền, vua mới kiêng tên ông ấy, đổi ra gọi là Thượng Nguyên. Lại cấp cho năm mẫu ruộng tư điền, bắt dân ấy phải lập miếu thờ.


    1: Nghĩa là chim phụng hoàng làm tổ trên A các, con Kì lân ra chơi ở vườn Uyển hựu.
    2: a) Không phải con rùa ở sông Lạc Thủy.
    b) Không phải con rồng ở sông Mạnh Hà.
    c) Ấy kia nước Hữu Hùng (hùng nghĩa là con gấu).
    d) Đóng đô ở gò Trác Lộc (lộc nghĩa là con hươu).
    Câu nào cũng có giống cầm thú cho nên hay.
    3: Nghĩa là con vịt từ giã mẹ gà về hồ.
    4: Nghĩa là: Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp. Có ý chê làm việc đê tiện.
    5: Nghĩa là: Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nấu canh lạt mặn tại tay, cũng như chức làm tướng.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 1:54 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    LƯƠNG THẾ VINH



    Hình nguồn internet
    Lương Thế Vinh hiệu là Thụy Hiên, người ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bảo, tỉnh Nam Định. Khi còn bé đã có tiếng đồn là thần đồng. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng nguyên trong năm Quang Thuận đời vua Thánh Tôn nhà Lê.

    Tục truyền Thế Vinh đã thác sinh ở huyện Nam Xang. Khi lên 7, 8 tuổi, cùng với trẻ con đi học. Bên cạnh đường có một con chó đá, mỗi khi Thế Vinh đi qua, thì con chó đá vẫy đuôi mà mừng.

    Về nói chuyện với cha, cha bảo rằng:

    - Nó đã biết vẫy đuôi, thì hẳn nó cũng biết nói, thử hỏi vì cớ gì mà mừng.

    Hôm sau Thế Vinh đi qua, con chó ấy lại vẫy đuôi. Thế Vinh hỏi, thì nó nói rằng: “Ngày sau ông đỗ Trạng nguyên cho nên tôi mừng thay cho ông”.

    Thế Vinh về nhà lại nói với cha như thế. Cha tự bấy giờ chắc ngày sau con làm nên, sinh ra kiêu ngạo, thường hay tranh cạnh với người ta và đe rằng:

    - Mai sau con ông đỗ Trạng, ông sẽ hỏi tội cho chúng bay.

    Thế Vinh thấy cha như thế, can mãi mà cha không nghe, có ý không bằng lòng, buồn rầu mà bảo với mẹ rằng:

    - Mẹ có đức hiền hậu mà cha thì kém đức. Con không ở đây nữa, xin từ đi chỗ khác đây.

    Mẹ ngạc nhiên thất sắc nói rằng:

    - Sao con nói gở ra thế? Công cha nuôi con bấy nhiêu nay, mong con mai sau khá giả, để mà nương nhờ, con đã lấy gì trả ơn cha nghĩa mẹ, mà dám nói càn như vậy?

    Thế Vinh khăng khăng một mực xin đi. Mẹ khuyên dỗ trăm chiều, nhưng cũng không sao giữ được, mới khóc mà bảo rằng:

    - Vậy thì con định đi đâu? Con bảo cho mẹ được biết.

    Thế Vinh dặn mẹ cứ đến ngày ấy tháng ấy đến làng Cao Hương, huyện Thiên Bản thì biết, vào dặn giữ lại các sách của mình học. Nói xong thì mất.

    Bấy giờ vận nước Nam đang thịnh, người Tàu xem thiên văn, thấy văn tinh giáng xuống nước Nam, mới sang nước ta tìm phương trấn áp. Khi Thế Vinh còn ở Nam Xang, đi chơi với một lũ trẻ con. Người Tàu trông sao, biết văn tinh ở trong đám trẻ con ấy, nhưng chưa biết đích đứa nào. Mới lấy một quả bưởi bỏ vào hố sâu, đố đám trẻ ấy lấy được quả bưởi lên thì thưởng tiền. Thế Vinh không ra mặt lấy, nhưng xui một đứa khác múc nước đổ vào hố cho đầy, rồi quả bưởi nổi lên thì lấy. Người khách gạn hỏi đám trẻ biết là mưu mô tự ông Thế Vinh, muốn tìm phương kế để trừ ông ấy đi.

    Người khách chưa kịp dùng mẹo thì ông ấy mất. Trông xem thiên văn, biết thần[1] ấy chạy sang làng Cao Hương, mới đuổi theo đến tận làng ấy, thì thấy thần ông ấy đã nhập vào trong hòn đá to. Người khách hỏi người chủ có hòn đó, xin mua. Người chủ tưởng là nó hỏi đùa mình, mới nói bỡn rằng: “Hòn đá này phải 100 quan tiền mới bán”. Người khách trả đến 70 quan, người chủ không biết thế nào, tưởng là nó đến cợt mình, nhất định không bán. Người khách thấy không bán, giả tảng đi nơi khác. Xảy có người đàn bà ở ngoài đồng đi về, thấy chúng xúm xít lại nói chuyện người khách hỏi mua hòn đá. Người đàn bà mới giẵm chân vào hòn đá mà nói rằng:

    - Hòn đá này mà quí hóa gì mà nó mua đắt đến thế?

    Không ngờ thần ông ấy ở trong hòn đá, từ bấy giờ đầu thai ngay vào người đàn bà ấy. Hôm sau người khách trở lại, toan cố vật nài để mua hòn đá cho được. Người có đá cũng định bán vậy cho nó. Nhưng khi đến nơi thì người khách trông hòn đá, biết thần đã xuất mất rồi, mới nói rằng:

    - Bây giờ thì một đồng cũng chẳng mua nữa.

    Người khách biết là không thể nào trấn áp được, mới trở về Tàu.

    Khi Thế Vinh mới sinh ra, ngày đêm chỉ một vị khóc, cha mẹ, hàng xóm thay nhau ôm ẵm cũng vậy. Người mẹ trước nhớ lời con dặn, hỏi thăm đến tận làng ấy, nghe có một nhà mới đẻ con trai, mà chỉ khóc cả ngày lẫn đêm. Hỏi đến tận nhà vào chơi, xin chủ nhà ẵm đứa bé một tí, từ đấy đứa bé mới thôi khóc. Bà kia mới kể chuyện đầu đuôi con mình với nhà chủ, từ đó thường thường đi lại coi như con mình.

    Đến khi Thế Vinh mới lớn lên, bảo với bà mẹ trước rằng:

    - Những sách của tôi thuở trước, cùng là tôi có món tiền chôn ở dưới gốc cây chuối thì đem đến đây cho tôi.

    Bà kia về đào dưới gốc cây chuối, thì quả nhiên thấy có món tiền, mới đem cả sách và món tiền sang đưa cho Thế Vinh. Cha mẹ đẻ mới lấy làm tin, nuôi bà kia ở đấy một thể.

    Thế Vinh học đến đâu, như người học ôn lại. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng nguyên.

    Vua Thánh Tôn thấy Thế Vinh là người hay chữ, dùng làm chức Hàn lâm thị thư chưởng viện. Bao nhiêu tờ bồi giao thiệp với nhà Minh tự tay Thế Vinh soạn ra cả. Người Tàu phải chịu nước Nam có tay văn chương giỏi.

    Bộ Đại hành toán pháp là của Thế Vinh làm ra.

    Thế Vinh làm quan không được bao lâu thì về trí sĩ. Tính hay khôi hài, lúc về quan rồi, thường chỉ mặc cái áo vải, chơi bời với người trong làng.

    Một hôm, ngồi chơi với một vài người ở trong làng, xảy nghe có quan huyện đi qua. Quan huyện xưa nay hách dịch, đi đến đâu rầm rầm đến đấy. Mấy người ngồi hàng đứng dậy tránh cả, chỉ còn một mình Thế Vinh ngồi chơi. Khi quan huyện đến, sai lính vào hàng bắt phu khiêng võng. Lính không biết ông ấy là ai, bắt ra khiêng. Thế Vinh cũng khiêng.

    Đi được một lát, ông ấy gặp người làng, nhắn bảo rằng:

    - Nhờ bác bảo hộ thằng học trò tôi là Thám hoa làng Vân Cát tên nó là Trần Công Bích, bảo nó ra khiêng đỡ võng quan huyện cho tôi, kẻo tôi mệt quá, không đi được.

    Ông huyện nằm trong võng, nghe thấy câu ấy, chẳng khác gì sét đánh ngang tai, giật mình ngã lăn xuống đất, rồi đứng dậy lạy thì thà thì thụp, kêu là không biết, xin thứ tội cho.

    Thế Vinh cười bảo rằng:

    - Ông là quan huyện, bắt tôi khiêng võng thế là phải, có việc gì mà tạ!

    Ông huyện kia vật đầu vật tai kêu van mãi, Thế Vinh mới bảo rằng:

    - Có phải thế là từ rầy chớ nên bắt phu khiêng võng nữa bác nhé!

    Ông huyện vâng vâng dạ dạ, xin khiêng trả võng rước ngài về nhà. Thế Vinh không khiến, người trong làng đổ ra đón Thế Vinh về.

    Về sau Thế Vinh mất, được phong làm Thượng đẳng phúc thần. Con là Hiến Công, có công với nước, cũng được phong làm phúc thần. Ngôi mộ ông Thế Vinh đến giờ vẫn còn ở làng Cao Hương.

    Khoa Thế Vinh đỗ, Nguyễn Đức Trinh thi đỗ Bảng nhãn, Quách Đình Bảo thi đỗ Thám hoa, ba người cùng có tiếng hay chữ từ thủa nhỏ. Vua có thêu ba lá cờ ban cho mỗi người một lá, để cho vinh qui.

    Trong cờ thêu bốn câu rằng:

    Trạng nguyên Lương Thế Vinh,
    Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,
    Thám hoa Quách Đình Bảo,
    Thiên hạ cộng tri danh.
    [2]

    Tục truyền khi Thế Vinh còn nhỏ, nghe tiếng Quách Đình Bảo hay chữ, hỏi thăm đến chơi. Đến nhà thấy Đình Bảo đang học ở trong buồng. Thế Vinh trở ra về ngay, nói rằng: “Anh ấy không sợ”. Nghĩa là thi đến nơi rồi mà còn phải học thì hèn lắm, không đủ sợ chi. Về sau, Đình Bảo cũng hỏi thăm đến chơi nhà Thế Vinh thì thấy ông ấy đi chơi thả diều vắng, Đình Bảo than rằng: “Thi đến nơi rồi, mà không cần gì phải xem sách, đó mới thực là thiên tài!”. Nhân thế biết mình không bằng ông ta, xấu hổ trở về.


    1: Theo quan niệm xưa, con người chết đi vẫn còn giữ được phần tinh anh của mình (BT).
    2:Người trong thiên hạ đều biết danh (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Wed Aug 08, 2012 2:36 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    VŨ CÔNG DUỆ



    Hình minh họa; nguồn internet
    Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi cầy vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.

    Một khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:

    - Bố mày đâu?

    Đáp lại:

    - Bố tôi đi giết người.

    - Mẹ mày đâu?

    - Mẹ tôi đi cứu người.

    Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì nói rằng:

    - Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.

    Người kia mới dỗ bảo rằng:

    - Mày cứ nói đi cho thật, tao sẽ tha nợ cho nhà mày không đòi nữa.

    Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẻo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.

    Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:

    - Cha tôi đang nhổ mạ mà mẹ tôi thì đang cấy.

    Người kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:

    - Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?

    Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.

    Công Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên khoa ấy.

    Lúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.

    Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần; nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà chết.

    Cách 60 năm nữa, nhà Lê trung hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể Thần Phù tìm quả ấn trước. Người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể như thuở sinh thời.

    Người ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, chắc là bụng tinh thành của Công Duệ kết lại, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 10:18 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    GIÁP HẢI



    Hình minh họa; nguồn internet
    Giáp Hải thi đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Tuất năm Đại Chính nhà Mạc (1538). Mẹ Giáp Hải là người làng Công Luận, huyện Văn Giang. Bà cụ ấy khi còn trẻ nghèo lắm, chỉ có vài gian nhà tranh ở cạnh đường bán hàng nước. Bấy giờ có một người Tàu đi qua đường vào hàng nghỉ, lúc đi bỏ quên một túi bạc. Cách nửa tháng nữa mới hốt hoảng lại hỏi, thì bà ấy đem cả túi ra trả vẫn nguyên như lúc trước.

    Người khách xin biếu lại một nửa, bà ấy không lấy nói rằng:

    - Tôi chỉ vì không ưa của bất nghĩa, cho nên mới nghèo thế này, sao bây giờ tôi lại chịu lấy của ông.

    Người khách cảm tạ bụng ấy, mới hỏi rằng:

    - Mồ mả đấng tiên nhân nhà bà ở đâu, tôi tìm giúp cho bà một ngôi đất hay.

    Bà kia nói:

    - Tôi là đàn bà, chỉ có trọi một mình, không có anh em nào cả. Nay đã ngoài 40 tuổi, dù được đất hay, thì bao giờ cho phát đạt? Mà phát đạt thì làm gì nữa?

    Người khách hỏi:

    - Nếu được chỗ đất hay, thì dẫu đàn bà cũng phát phúc.

    Bà ấy mới đưa người khách đến chỗ ngôi mộ cha bà ấy. Người khách lập tức tìm đất cất cho, rồi dặn rằng:

    - Về sau thấy ai có nạn đến đây, sẵn lòng mà cứu người ta, thì sẽ có cát báo[1].

    Bà ấy ở đấy được nửa năm, xảy có người làng Bát Tràng, nhà nghèo đi làm mướn kiếm ăn; khi ấy trời đã tối, gặp phải mưa gió, quần áo ướt lướt thướt, rét run cầm cập, qua hàng bà ấy xin vào trọ một tối. Bà ấy hỏi đầu đuôi cặn kẽ, cho vào ngủ, rồi đốt lửa cho sưởi và dọn cơm cho ăn, đêm hôm ấy rét lắm, mà nhà thì chỉ có độc một chiếc chiếu. Người kia thì rét không có chiếu không chịu được, mà bà ấy cũng không thể nào mà nhường được chiếu cho. Mà để cho khổ thì chẳng đành lòng, mới cho nằm chung một giường mà ngủ.

    Chàng kia đã được no ấm, lại nằm chung với đàn bà, lạ gì lửa gần rơm, té ra thành tư thông với nhau. Không ngờ chàng kia bị chứng hàn thấp chỉ một lúc thì tắt hơi. Bà ấy kinh hoảng vô cùng sợ người ta phát giác ra, đang đêm phải lôi ra đám tha ma vùi xuống; mà bà ta cũng có mang từ đấy.

    Được vài tháng nữa, người Tàu lại đến, hỏi rằng:

    - Tự khi táng mả đến giờ, đã cứu được việc gì cho người nào chưa?

    Bà ấy không giấu giếm gì, kể cả sự trước cho người khách nghe.

    Người khách hỏi:

    - Chôn chỗ nào, thử chỉ cho tôi xem.

    Bà ấy đưa ra chỗ mả chàng kia. Người khách ngắm nghía một hồi rồi nói rằng:

    - Chỗ này là huyệt thiên táng đấy, nếu có thai thì tất sinh ra Trạng nguyên Tể tướng.

    Bà ấy đầy năm, quả nhiên sinh được con trai, cốt cách lạ thường. Khi lên 4 tuổi ra chơi ngoài bờ sông, xảy có người lái buôn ở làng Sinh Kế, huyện Phượng Nhỡn, bơi thuyền qua bến, trông thấy thằng bé nhẵn nhụi, ăn cắp đem xuống thuyền đi mất.

    Bà kia tìm con đâu cũng không thấy, tưởng là chết đuối dưới sông rồi, sầu thảm không biết ngần nào.

    Người lái tự khi đem đứa bé về, yêu mến lắm, khi mới lớn lên tìm thầy cho đi học. Giáp Hải học rất thông minh, nổi tiếng thần đồng. Mỗi ngày học hành một tấn tới, văn chương hay nhất trong làng. Đến năm 32 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên.

    Hôm vinh qui về làng, phải phục dịch khó nhọc, có người biết nguyên ủy ông ấy, bảo riêng với nhau rằng:

    - Không biết người ở xứ nào, đến đây mà làm khổ dân ta thế này!

    Giáp Hải nghe lỏm được câu ấy, không biết vì cớ làm sao. Một hôm, xem xét các mồ mả tổ tiên, thì không có ngôi nào đáng phát Trạng nguyên, trong bụng hồ nghi lắm. Nhân mới hỏi những người quen thuộc, có người biết chuyện nói với ông ấy, Giáp Hải mới đến tận làng Công Luận dò xem, thì thấy có bà cụ già ngoài 70 tuổi, bán hàng bên cạnh đường, trông ra tình cảnh khốn đốn lắm.

    Giáp Hải sai người vào hỏi rằng:

    - Bà cụ kia có chồng con gì không, sao mà khốn khó đến thế?

    Bà cụ nói:

    - Tôi là người ở làng này, khi xưa có sinh được một mụn con trai, đã 4, 5 tuổi, chơi với trẻ con ở bờ sông, rồi không biết nó lạc đi đâu mất. Bấy giờ chỉ có một thân, không biết nương cậy vào đâu, tình cảnh sầu thảm, nói ra không xiết.

    Giáp Hải đồ là mẹ mình, mới sai người bảo rằng:

    - Bà cụ già cả mà không có ai trông nôm thì theo về với tôi để tôi nuôi cho có bằng lòng không?

    Bà kia nói:

    - Nếu quan lớn có bụng thương tôi như thế, thì phúc cho tôi lắm!

    Giáp Hải mới đem về nuôi nấng, nhưng cũng chưa dám chắc hẳn là mẹ. Chân Giáp Hải vốn có cái nốt ruồi đỏ, thường khi ngồi nhàn để lộ ra. Bà cụ ấy một hôm trông thấy, cứ nhìn tròng trọc không chớp mắt.

    Người nhà quở rằng:

    - Quí thể quan lớn, bà cụ kia sao dám nhìn mãi thế?

    Bà kìa nói:

    - Tôi khi xưa sinh được một đứa con trai, cũng có cái nốt ruồi như thế, nay tôi trông thấy, tôi lại nhớ đến con tôi, cho nên tôi nhìn ngắm một chút, xin quan lớn thứ lỗi cho tôi.

    Giáp Hải lập tức gọi bà ấy hỏi cặn kẽ từng tí, bà cụ ấy kể rạch ròi thủy chung. Giáp Hải buồn rầu mà than rằng:

    - Ta bậy bạ uổng mất một đời, có mẹ mà không biết, may nhờ trời mà lại được gặp đây, mới biết đến mẹ.

    Tự bấy giờ mẹ con nhìn nhận nhau, hết đạo phụng thờ sớm tối.

    Về sau, Giáp Hải làm Đề điệu trường thi hương ở tỉnh Sơn Nam. Hôm vào trường, Giáp Hải ra đầu bài hiểm hóc, học trò nhao nhao, toan sự phá trường mà ra, Giáp Hải phải điều đình ra đầu bài khác, học trò mới yên. Sai người dò xét, bắt được người thủ xướng phá trường sai điệu ra ngoài cửa trường kết án trảm quyết. Người học trò ấy kêu nhà độc đinh[2] xin nộp nghìn quan tiền chuộc tội, nhưng Giáp Hải không nghe, nhất định chính pháp[3].

    Được ít lâu con Giáp Hải là Giáp Phong, cũng đã đỗ Tiến sĩ, làm quan trong tòa Hàn lâm, đã ngoại 30 tuổi, bỗng nhiên một hôm vô bệnh[4] mà mất. Rồi bốn con trai, hai con gái cũng mất luôn cả một dạo. Giáp Hải thương xót vô cùng, mời thầy phù thủy đánh đồng thiếp.

    Thầy phù thủy bảo Giáp Hải ngồi tĩnh nhắm mắt lại, rồi thư phù niệm chú một lúc, bỗng nhiên Giáp Hải ngã gục xuống. Trong khi ấy, thấy có một người sứ giả, đưa đến một nơi cung phủ, trong có ba bộ ngai ngồi, bên cạnh có một tấm phản, và có một cái gông sơn đỏ để đấy.

    Giáp Hải hỏi những người canh cửa rằng: dinh tòa nào, thì họ nói rằng:

    - Đây là tòa Diêm vương hỏi kiện đây, cái gông sơn đỏ để chờ quan Trạng nguyên ở làng Sinh Kế đấy.

    Giáp Hải nghe nói lập tức ra ngay. Sứ giả lại đưa đến một chỗ đền đài mát mẻ, phong cảnh lạ lùng. Giáp Hải trông thấy con là Giáp Phong đang ngồi đánh cờ với một ông quan khác. Phong trông thấy cũng ngảnh mặt nhìn ra, nhưng không nói một câu gì.

    Ông quan kia hỏi rằng:

    - Ông cũng quen người ấy đấy ư, sao mà nhìn mãi người ta thế?

    Phong nói rằng:

    - Tôi trước kia ở trên trần, có trọ nhà ông ta hơn 30 năm, vì ông ta giết oan mất một người, cho nên tôi không ở nữa; nay thấy ông ta đến đây, chẳng lẽ không nhìn một chút.

    Ông ấy thấy nói vậy, không hỏi gì nữa, đi ra. Sứ giả đưa về thì tĩnh. Biết là cái nợ oan gia, mà lẽ báo ứng của nhà Phật cũng có. Vì thế sai gọi nhà người học trò bị giết khi trước, cho tiền về làm chay cho anh ta. Từ bấy giờ nhà ông ấy cũng yên ổn không việc gì.

    Về sau, làm đến Lại bộ Thượng thư, Thái bảo Sách quốc công, về nhà trí sĩ.

    Giáp Hải nhận tổ mộ ở làng Bát Tràng, cho nên văn chỉ huyện Gia Lâm phải thờ ông ấy. Đến sau có ông Tiến sĩ Nguyễn Mậu Thịnh, cho Giáp Hải là người làng Sinh Kế, và lại làm quan nhà Mạc, muốn tước tên ông ấy ở trong sổ tiên hiền huyện Gia Lâm. Đêm nằm mơ thấy Giáp Hải đòi lại mắng rằng:

    “Tao tội gì tước tên tao, mày là bọn hậu sinh, sao dám khinh lờn tiền bối, sẽ có báo ứng cho mày xem”. Ông kia vì thế sợ hãi, không dám xóa tên đi nữa. Nay huyện Gia Lâm vẫn có thờ, mà làng Bát Tràng cũng phải cúng tế.



    1: Báo việc tốt lành (BT).
    2: Nhà chỉ có con trai một (BT).
    3: Xử đúng luật pháp (BT).
    4: Không bệnh (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 10:59 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG



    Hình minh họa; nguồn internet
    Huyện Gia Phúc (bây giờ là Gia Lộc), tỉnh Hải Dương, một người tên là Phạm Trấn ở làng Lâm Kiền, một người tên là Đỗ Uông ở làng Đoàn Lâm, hai làng giáp giới với nhau.

    Làng Đoàn Lâm có một con yêu tinh thường thường biến hiện trăm vẻ, trêu ghẹo người ta, làng ấy tìm phương kế trừ mãi không được.

    Ông Đỗ Uông khi còn nhỏ, một đêm ngồi học trong nhà, con yêu tinh thò tay vào trong cửa sổ trước chỗ bàn học để trêu ghẹo Đỗ Uông. Đỗ Uông nói chuyện với thầy phù thủy, thầy phù thủy xui lấy chỉ ngũ sắc mà buộc lấy tay nó. Đêm hôm sau, con yêu quen thói lại đến. Đỗ Uông vội vàng cầm chỉ ngũ sắc trói lại, buộc vào cửa sổ. Con yêu quả nhiên không biến được nữa, mới kêu van, Đỗ Uông nhất định không tha. Mãi đến gần sáng, con yêu lại kêu rằng:

    - Ông ngay sau đại quí, tôi muốn bỡn ông đấy thôi, nỡ nào ông lại hại tôi?

    Đỗ Uông hỏi:

    - Như tài sức tao, thì có đỗ được Trạng nguyên không?

    Con yêu nói:

    - Trạng nguyên đã có một ông họ Phạm, ông chỉ đỗ được Bảng nhãn mà thôi.

    Lại hỏi:

    - Mày có của gì mà thiêng được, hễ cho tao xem thì tao sẽ tha cho mày.

    Một lát, thấy con yêu nôn ọe, thổ ra một hòn ngọc, cầm ở trong tay, ánh sáng lòe vào trong nhà, rồi nói rằng:

    - Tôi chỉ nhờ có của này mới thiêng, nay xin dâng ông để giúp thêm việc học hành.

    Đỗ Uông cầm lấy hòn ngọc, nuốt vào bụng, rồi mới cởi trói tha cho nó đi. Từ bấy giờ con yêu mất thiêng, không quấy nhiễu gì nữa. Mà ông Đỗ Uông từ khi nuốt hòn ngọc ấy, văn chương mỗi ngày một hay, nổi tiếng trong các trường, văn ông Phạm Trấn vẫn không kịp.

    Đến khoa thi hội thời Quang Bảo nhà Mạc, hai ông cùng trạc 34 tuổi, và cùng đỗ hội. Đến hôm đình thí, Đỗ Uông trông thấy đầu bài, toàn chỗ nhớ cả, chắc là Trạng nguyên trong tay. Bấy giờ Phạm Trấn ngồi trong lều làm văn, phảng phất như có hai người giúp đỡ. Một người là Đông Phương Sóc[1], một người là Hàn Kỳ. Hai người đứng cạnh đọc lên cho Phạm Trấn viết. Rồi lại thấy Đông Phương Sóc bảo với Hàn Kỳ rằng: “Phải có một người sang làm cho Đỗ Uông đau bụng để giảm bớt sức văn của hắn đi mới được”. Một lát nghe tiếng Đỗ Uông ngồi lều bên kia, rên lên khừ khừ, không sao viết được. Đến lúc Phạm Trấn viết hơn một đoạn, thì Đỗ Uông mới bớt đau bụng, làm được văn, cho nên nhớ nhiều mà sức văn hơi kém.

    Khi xướng hồi danh, quả nhiên Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, mà Đỗ Uông thì đỗ Bảng nhãn. Phạm Trấn mừng lắm nói rằng:

    - Phen này ta mới đè nổi được Đỗ Uông!

    Đỗ Uông nghe vậy tức lắm. Đến lúc vinh qui, Trạng, Bảng cùng về một đường. Bảng nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ sóng cương ngựa đi ngang hàng nhau. Đi mãi đến chợ Bồng Khê làng Hoạch Trạch, người làng ấy vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay cùng vinh qui về qua cầu làng, mới ra xin hai ông cho một bài thơ đề vào cầu.

    Hai ông bảo nhau rằng:

    - Cầu ngói này hơn mười gian, hạn đi qua bảy gian, thì phải vịnh xong một bài thơ, hễ ai làm xong trước thì đi trước, không được tranh nhau.

    Phạm Trấn y ước, ngồi trên ngựa vừa đi vừa vịnh, đi khỏi bảy gian, thì vừa xong tám câu thơ. Ai cũng chịu là tài, chỉ Đỗ Uông không chịu, nói rằng:

    - Bài ấy chẳng qua làm sẵn tự bao giờ, không phải mới làm, tài gì mà khen.

    Nói thế rồi lại cứ đi ngang hàng. Đi đến làng Minh Luân, lại có người mới làm nhà xong, đón đường xin một bài thơ để mừng nhà mới.

    Phạm Trấn ứng khẩu đọc một bài rằng:

    Năm năm thêm phú quí,
    Ngày ngày hưởng vinh hoa.
    Xưa có câu như thế,
    Nay mừng mới làm nhà.


    Đỗ Uông đã hơi chịu tài nhanh hơn mình. Khi đến cầu làng Đoàn Lâm, tục gọi là cầu Cốc, trong cầu có một người con gái bán hàng, tên là cô Loan. Hai ông mới thách nhau làm bài thơ nôm, đầu bài ra: “Cô Loan bán hàng cầu Cốc”. Hạn phải mỗi câu dụng hai tiếng thuộc về giống cầm, qua cầu phải xong bài thơ, hễ ai xong thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.

    Ông Phạm Trấn ngồi trên ngựa lại ngâm xong trước.

    Thơ rằng:

    Quai vạc đôi bên cánh phụng phong,
    Giở giang bán trác tựa đồ công.
    Xanh le mở khép nem hồng mới,
    Bạc ác phô phang rượu vịt nồng.

    ....... [2]

    Đỗ Uông bấy giờ mới chịu nói rằng:

    - Thò đọc ra đã thành thơ, nếu không có quỉ ngâm thần trợ, thì sao được thế này?

    Từ đấy mới nhường Trạng đi trước. Một hôm, Đỗ Uông đi lẻn xem ngôi mả tổ nhà ông Phạm Trấn, thấy có hai cái gò đất nhỏ ở hai bên ngôi mộ, tục gọi là gò Thần Đồng. Đỗ Uông trỏ vào nói rằng:

    - Mấy phen thằng ấy nó đè ta là bởi có hai đống đất này đây!

    Mới lấy chân đạp vào hai gò đất ấy. Phạm Trấn từ khi ấy phải bệnh điếc tai, chữa thuốc mãi không khỏi. Có người mách với Phạm Trấn rằng: Đỗ Uông đạp vào gò Thần Đồng, Phạm Trấn kêu với vua, vua bắt Đỗ Uông phải tạ mả tổ nhà ông Phạm Trấn, bấy giờ mới khỏi.


    1: Tự là Mạn Thiến, có tài hoạt kê, sống vào thời Hán Võ Đế (Trung Quốc) (BT).
    2: Bài đủ tám câu nhưng tục truyền mất bốn câu dưới.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 3:23 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    LÊ NHƯ HỔ



    Hình minh họa; nguồn internet
    Lê Như Hổ người làng Tiên Châu, huyện Tiên Lữ (bây giờ thuộc về tỉnh Hưng Yên). Như Hổ to lớn đẫy đà, cao 5 thước 5 tấc, lưng rộng 1 thước rưỡi, nhà nghèo mà hay học; ăn thì cực khỏe, mỗi bữa ăn một nồi bảy cơm mà chưa no. Học được nửa năm, vì nhà nghèo không đủ ăn, mới ở gửi rể một nhà giàu ở làng Thiên Phiến. Nhà vợ mỗi bữa cho ăn một nồi năm cơm, thì Như Hổ thường lơ lửng nhác học.

    Bố vợ hỏi bố đẻ Như Hổ rằng:

    - Trước tôi nghe thấy con ông chăm học lắm, sao từ khi hắn đến ở nhà tôi, thì lười biếng không chịu học, là cớ làm sao?

    Ông này hỏi:

    - Từ khi cháu ở nhà ông, ông cho ăn uống thế nào?

    Ông kia nói:

    - Mỗi bữa nồi năm cơm rồi đấy!

    - Nhà tôi nghèo như thế, mỗi bữa còn phải cho nó ăn nồi bảy cơm. Ông cho nó ăn ít làm vậy, trách nào mà nó chẳng biếng học?

    Ông kia nghe lời, mới cho ăn hơn khi trước, từ bấy giờ Như Hổ học thêm được một vài tiếng lại thôi.

    Mẹ vợ bảo với chồng rằng:

    - Ông khéo kén được rể quí hóa nhỉ! Chỉ được bộ ăn khỏe thì không ai bằng. Dù có gượng mà học nữa, cũng không làm trò gì được tuồng hay ăn ấy.

    Bố vợ biết điều, bảo rằng:

    - Nó ăn hơn người, sức nó tất cũng hơn người, can gì mà lo?

    Mẹ vợ nói:

    - Có phải sức nó hơn người, tôi có vài mẫu ruộng bỏ cỏ rậm kia, ông thử bảo nó dọn cỏ đi cho tôi, xem nó có làm được không.

    Như Hổ nghe thấy nói như vậy, sáng sớm mai, lập tức vác dao phát bờ đem ra ruộng. Đến chỗ gốc cây đa to, thấy chỗ ấy mát mẻ, mới nằm ngủ ở dưới gốc cây.

    Mẹ vợ thấy rể vác dao ra đồng, cũng đi chợ mua đồ ăn để về làm cơm cho rể ăn. Khi về qua ruộng, thấy rể nằm ngủ khì ở dưới gốc cây, bà ấy điên tiết, chạy tất tả về bảo với chồng rằng:

    - Ông còn bảo thổi cơm cho nó ăn nữa thôi? Gớm mặt nó! Nó nói ra đồng dọn cỏ, thế mà từ sáng đến giờ vẫn còn nằm chương thây chương xác ra ngoài ấy, rể ông quí thật!

    Hai ông bà mới dắt nhau ra đồng xem. Không ngờ từ lúc bà kia đi về, thì Như Hổ lập tức đứng dậy phát cỏ. Chỉ một lúc, dọn sạch quang cả vài mẫu ruộng. Cá dưới ruộng chạy không kịp, chết nổi lều bều cả lên mặt nước. Khi hai ông bà đến nơi, thì thấy ruộng đã sạch rồi, bấy giờ mới biết tài sức của Như Hổ.

    Khi lúa chín, mẹ vợ thổi sẵn nồi 20 cơm, sai Như Hổ ra gọi thợ gặt. Như Hổ ra ngoài một lát, trở về nói dối rằng:

    - Tôi đã gọi nhưng không ai chịu làm, vậy để tôi ăn xong sẽ gặt giúp cho mẹ.

    Nói rồi dọn cơm ra ăn, một mình đánh hết nồi 20 cơm.

    Mẹ vợ lấy làm quái lạ, nói rằng:

    - Cối xay nào mà chứa được thế, có vỡ bụng ra mất không?

    Như Hổ nói:

    - Mẹ đừng ngại, việc gặt hôm nay, tôi xin nhận làm một mình.

    Mới lấy một cây tre to làm đòn càn, và đem sẵn liềm hái thừng trạc ra đồng. Vừa được nửa buổi thì gặt xong hai mẫu ruộng lúa, bó làm bốn gánh quảy về. Mẹ vợ từ đấy mới có bụng yêu, mỗi bữa cho ăn thật no để mà học.

    Làng bên cạnh có hội đánh vật, năm nào Như Hổ cũng đến phá giải. Các đô vật ai cũng chịu, không ai dám ganh sức với Như Hổ, vì thế đặt tên là Như Hổ.

    Đến năm gần 30 tuổi, văn chương hay lừng lẫy có tiếng ở đời, rồi thi đỗ Tiến sĩ trong thời Quang Hòa nhà Mạc.

    Bấy giờ có người đỗ đồng khoa với Như Hổ tên là Nguyễn Thanh, ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh, có khi nói chuyện đến gia tư[1] nhà mình. Như Hổ nói bỡn rằng:

    - Gia tư nhà bác, chỉ đủ cho tôi ăn một tháng là cùng.

    Nguyễn Thanh nói:

    - Ông khinh tôi quá làm gì thế, tôi tuy chẳng có gì những cũng đủ cung phụng ông được ba tháng.

    - Thôi đừng nói ba tháng, ông thử cho tôi ăn một bữa xem làm sao.

    Ông kia vâng lời, hẹn ngày mời Như Hổ vào chơi. Đến hôm hẹn, Như Hổ vào nhà Nguyễn Thanh, không ngờ hôm ấy lại đi vắng.

    Như Hổ bảo với người vợ Nguyễn Thanh rằng:

    - Tôi bạn với quan Nghè đây, nhân có việc qua đây, có hơn 30 đứa đầy tớ, nhờ phu nhân một bữa cơm.

    Phu nhân lập tức sai người nhà làm thịt con lợn, dọn 5, 6 mâm cơm mang ra.

    Như Hổ bảo người đầy tớ rằng:

    - Mày ra gọi chúng nó vào đây.

    Lâu mãi không thấy một người nào, chỉ trọi một mình ông Như Hổ, ngồi đánh hết cả sáu mâm cơm. Ăn xong, gửi lời tạ ơn rồi đi.

    Chiều tối, Nguyễn Thanh trở về, vợ nói rằng:

    - Hôm nay có một chuyện nực cười quá chừng! Có một người nói là quen nhau với ông, nhân việc quan đem nhiều đầy tớ đi qua, nhờ một bữa cơm, tôi tưởng là thật, làm 5, 6 mâm cỗ. Té ra chỉ một mình người ấy ngồi ăn, tôi ở trong buồng trông ra, cứ mỗi bát và một miếng, ăn như hùm đơm đó, chỉ một lát hết ba nồi cơm và sáu mâm cỗ, không biết người hay là quỉ đói.

    Nguyễn Thanh phàn nàn nói rằng:

    - Đấy là người anh em với tôi, trước có hẹn đến chơi, lỡ ra quên mất, chắc là ông ta lại trách tôi sai hẹn.

    Bữa khác, Nguyễn Thanh nhân việc đi qua làng Tiên Châu, vào chơi nhà ông Như Hổ. Như Hổ sai người nhà làm thịt hai con lợn béo và thổi bốn mâm xôi, dọn ra hai bàn, mỗi bàn một con lợn, hai mâm xôi. Một bàn thết Nguyễn Thanh, còn mình ngồi riêng một bàn. Nguyễn Thanh ăn hết một góc mâm và một phần chia tư con lợn. Như Hổ thì ăn hết sạch cả bàn mình, lại ăn thêm sang một góc xôi thịt ở bàn ông kia, chỉ còn một nửa để cho người nhà.

    Nguyễn Thanh thất kinh nói rằng:

    - Ngày xưa ông Mộ Trạch đã có tiếng ăn khỏe, mà chỉ hết 18 bát cơm và 12 bát canh là cùng. Nếu ông ấy sinh ra đồng thời với ông, thì cũng phải kém ông ba bậc.

    Hai người cùng cười ầm cả lên.

    Về sau Như Hổ làm đến Thượng thư, được phong làm Thiếu bảo Lữ quận công, rồi về trí sĩ, thọ 72 tuổi mới mất.


    1: Tài sản (BT).
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 4:33 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    PHÙNG KHẮC KHOAN



    Hình nguồn internet
    Khắc Khoan người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây.

    Tục truyền Khắc Khoan tức là anh em cùng mẹ khác cha với ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình). Nguyên bà ấy tự lúc bỏ ông Văn Định, lên Sơn Tây lấy chồng khác, rồi sinh ra Khắc Khoan. Khắc Khoan sinh ra có tư chất thông minh. Khi mới lớn, bà mẹ cho xuống Hải Dương theo học anh là Bỉnh Khiêm. Bỉnh Khiêm hết lòng dạy dỗ, mới thành ra một người kiêm đủ văn chương tài đức. Nhân khi bấy giờ nhà Lê giữ ở Thanh Hóa, xui Khắc Khoan vào trong ấy để giúp nhà Lê. Khắc Khoan vào thì vua Trang Tôn nhà Lê mừng rỡ tin dùng lắm, bàn mưu lập mẹo, giúp lên được lắm việc to tát. Đến thời vua Thế Tôn nhà Lê khôi phục được kinh thành Thăng Long, vua sai Khắc Khoan sang sứ nhà Minh để cầu phong tước. Nhà Minh phong cho vua Thế Tôn làm An Nam Đô hộ sứ.

    Khắc Khoan trả lại sắc vua Tàu và dâng biểu nói rằng:

    - Chúa tôi là họ Lê, nguyên là dòng dõi nước An Nam tôi, không có tội gì như nhà Mạc, mà lại phải chịu chức tước như họ Mạc, thì chúng tôi không dám nhận sắc mệnh, xin Hoàng đế thiên triều xét lại cho.

    Vì thế vua nhà Minh lại phong vua Thế Tôn làm An Nam quốc vương.

    Trong khi đi sứ, gặp ngày Tết nguyên đán, vua Tàu sai các đình thần và các sứ thần ngoại quốc, mỗi người phải dâng bài thơ chúc mừng. Các người kia ai cũng dâng một bài, chỉ Khắc Khoan dâng lên 36 bài, mà bài nào cũng hay. Vua Tàu phê cho đỗ Trạng nguyên, bởi thế mới gọi là trạng Bùng (Bùng tức là làng Phùng Xá, tục gọi là Bùng).

    Khi đi sứ trở về, qua tỉnh Lạng Sơn, gặp khi bà chúa Liễu hiện hình chơi trên đỉnh núi. Đôi bên đối đáp với nhau một hồi, rồi bà chúa Liễu biến mất. Khắc Khoan lại trông thấy gỗ ngổn ngang dọc đường, nhận ra chữ “Liễu Hạnh” và chữ “Phùng”, biết là ý bà chúa Liễu muốn nhờ Khắc Khoan đứng lên khởi công lập đền thờ bà ấy.

    Về sau, nhân lúc thong thả, Khắc Khoan đem hai người là Ngô, Lý đi chơi hồ Tây, lại gặp bà chúa Liễu phen nữa, có làm thơ xướng họa liên ngâm.

    Khắc Khoan làm quan đời trung hưng, công nghiệp rất là hiển hách. Dần dần làm đến Thái phó, được phong làm Quốc công, ngoài 70 tuổi mới mất.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 4:44 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC VĂN TÀI

    LÊ QUÍ ĐÔN



    Hình nguồn internet
    Lê Quí Đôn người làng Diên Hà, phủ Thái Bình (bây giờ mới đặt riêng thành tỉnh).

    Khi trước ở phủ ấy có một ngôi đất quí, mà ai táng vào thì dân động, lại phải nhổ đi. Các thầy địa lý ai cũng khen kiểu đất đẹp mà không ai dám táng vào. Một hôm, có một người say rượu, lập tâm muốn táng vào ngôi đất ấy, mới nằm liều ở đấy, cho chết đi thì thôi. Nửa đêm thấy có thần nói chuyện với nhau rằng: “Chúng ta giữ đất này, mà có người muốn liều chết để chiếm lấy, chúng ta chẳng hóa ra phải tội với thượng đế ư?”. Một ông thần kia nói rằng: “Hãy thử sờ vào bụng nó xem còn ấm hay lạnh rồi”. Mới lấy tay sờ vào bụng anh ta, anh ta sợ phải đứng dậy chạy về.

    Đêm hôm ấy, ông thần báo mộng cho người đàn anh trong làng rằng:

    - Ngôi đất này để dành cho họ Lê ở làng Diên Hà dân chúng mày phải giữ, nếu để người khác táng vào thì dân chúng mày sẽ phải vạ cả.

    Người ấy tỉnh dậy lo lắm, hôm sau hội dân lại bàn rằng:

    - Ngôi đất ấy có thần giữ, người làng ta táng không được, mà để người xứ khác táng thì dân động. Các nhà địa lý, thường thường đi lại, chỉ sợ tiếng ấy lộ ra ngoài, thì người quyền thế bắt hiếp dân mà táng, dân ta chẳng thiệt hại lắm ư? Bây giờ thần bảo để dành cho họ Lê làng Diên Hà, không biết bao giờ cho họ ấy đến táng, để dân ta đỡ một đoạn khó nhọc.

    Giữa lúc đang bàn, thì có một cụ già vào ăn xin.

    Người làng hỏi:

    - Ông cụ già kia ở đâu?

    Thưa rằng:

    - Tôi ở làng Diên Hà.

    - Họ gì?

    - Thưa tôi họ Lê.

    Cả làng mừng, nói rằng:

    - Ở đây có một ngôi đất to, thần cho họ Lê làng Diên Hà. Cụ có phải họ Lê, thì đem tiên phần lại mà táng, về sau phát đạt, chẳng những cụ khỏi phải khổ sở, mà dân tôi cũng đỡ được một sự quan ngại.

    Cụ kia mừng rỡ, về ngay nhà đem tiên phần lại táng vào huyệt ấy. Về sau, con ông cụ ấy là Lê Trọng Hứ quả nhiên đỗ Tiến sĩ, làm quan rồi sau được phong là Trung hiếu công.

    Trung hiếu công muộn con, cùng với phu nhân cầu tự ở chùa Quang Thừa huyện Kim Bảng. Phu nhân nằm mơ thấy trời cho con Kì lân, mới có thai mà sinh ra Lê Quí Đôn.

    Quí Đôn thông minh khác thường, mới lên hai tuổi đã biết được hai chữ “hữu, vô”. Thử một trăm lượt cũng cứ trỏ vào chữ ấy. Lên 5 tuổi, cho học Kinh Thi[1] thì học đâu nhớ đấy, không chữ gì phải bảo đến hai lượt. Lên sáu tuổi, đã biết làm thơ, làm văn.

    Khi 7, 8 tuổi cởi truồng đi tắm, có một quan Thượng vào chơi với ông Trung hiếu công. Trông thấy đứa trẻ, hỏi thăm vào nhà ông kia, đứa trẻ ấy đứng giang hai chân ra và bảo quan Thượng rằng:

    - Tôi đố ông biết chữ gì đây, hễ ông biết được thì tôi sẽ đưa ông vào nhà.

    Ông kia thấy đứa trẻ con hỗn xược, không thèm nói gì. Đứa ấy cười ầm lên nói rằng:

    - Chữ thái (太) thế mà không biết!

    Ông Thượng thấy đứa kỳ dị, hỏi ra mới biết là con ông Trung hiếu công. Lúc vào chơi nhà gọi lên mắng rằng:

    - Mày là thằng rắn đầu rắn cổ, phải làm một bài thơ tự trách mình, nếu không làm được thì phải đòn.

    Quí Đôn vâng lời làm một bài thơ nôm rằng:

    Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà.
    Rắn mà chẳng học chẳng ai tha,
    Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,
    Nay thét, mai gầm rát cổ cha.
    Chém mép chỉ quen tuồng nói dối,
    Lằn lưng cam chịu tiếng roi tra.
    Từ rầy Châu, Lỗ chăm nghề học,
    Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.


    Ông kia thấy bé một tí tuổi, mà văn chương tài hoa, nức nở khen mãi không thôi. Lại một khi, Quí Đôn đến chơi nhà lý trưởng, nhác trông thấy một quyển sổ, biên những người thiếu thuế má, kẻ thì một vài quan tiền, người thì năm bảy đấu thóc. Quí Đôn xem qua một lượt, rồi trả người lý trưởng. Đến sau nhà ấy bị cháy, mất cả quyển sổ, các món nợ kẻ thiếu người đủ, không biết tra khảo vào đâu. Khi gặp Quí Đôn phàn nàn về sự mất quyển sổ.

    Quí Đôn bảo rằng:

    - Quyển sổ ấy tôi đã nhớ cả rồi, để tôi đọc cho mà sao lại, can gì mà lo.

    Quí Đôn đọc thì không sai lẫn một ly nào, nhưng người lý trưởng cũng chưa dám quyết. Đến lúc chiếu sổ ra thu các món, thì phải cả, không ai cãi cọ gì, mới biết là Quí Đôn sáng dạ.

    Năm 18 tuổi thi đỗ Thủ khoa. Ai cũng chắc Quí Đôn thi hội thì đỗ Trạng nguyên. Có một ông quan triều bảo với ông Trung hiếu công rằng:

    - Nước ta lâu nay không có Trạng, khoa này con ông hẳn đỗ được Trạng nguyên.

    Lại hỏi rằng:

    - Nội các sách, công tử đã xem được hết cả chưa?

    Ông kia nói:

    - Sách nhà tôi thì cũng nhiều, duy còn thiếu một bộ “Trinh quán chính yếu”, vậy thì ngài có bộ ấy, xin cho cháu nó mượn xem vài hôm.

    Ông kia cho mượn, nhưng bỏ ra vài tờ để ra đầu bài, vì thế khoa ấy Quí Đôn chỉ đỗ Bảng nhãn.

    Khi đỗ rồi, hai cha con cùng làm quan thời vua Hiến Tôn nhà Lê. Vua khen rằng:

    - Hai cha con nhà ngươi, cùng có bụng trung quân ái quốc, thế mới gọi là trung hiếu truyền gia!

    Về sau, Quí Đôn phụng mệnh sang sứ bên Tàu, các quan Tàu thấy người thông minh, ai cũng có lòng kính trọng.

    Có một ông Tú tài Tàu vào bậc hay chữ, thông cả thiên văn, địa lý, tướng số. Nghe tiếng Quí Đôn là người anh tài nước Nam, có ý muốn thử. Một bữa rủ Quí Đôn đi chơi chùa xem bài văn bia. Ngọn chùa ấy, ở cạnh bờ sông, cứ mỗi buổi chiều thì có nước thủy triều tràn lên, ngập cả bia. Khi Quí Đôn mới xem xong thì nước đã kéo đến, ông Tú tài dắt Quí Đôn về chơi nhà, hỏi lại bài văn bia, thì Quí Đôn đọc cả bài, không nhầm một chữ nào. Ông kia chịu là thông minh.

    Ông Tú tài kia bảo với ông Quí Đôn rằng:

    - Tôi xem tướng ông, về sau tất phải tội cách hết chức tước. Tôi có ngôi mộ ở trước chùa Quang Minh bên nước Nam, ông có về nước, trong nom sửa sang giúp cho tôi; sau 20 năm nữa, thì tôi chắc đỗ Trạng mà sang sứ bên ấy, thì tôi sẽ cứu cho ông.

    Quí Đôn vâng lời từ về, tìm thấy ngôi mộ ấy sửa sang lịch sự. Về sau, con và một người học trò Quí Đôn, cùng có tiếng hay chữ. Đến khoa thi, vua Lê chúa Trịnh đánh cuộc với nhau: vua thì đoán con Quí Đôn đỗ đầu; chúa thì đoán học trò Quí Đôn đỗ đầu. Nhưng Quí Đôn dặn người học trò đánh tráo văn cho con mình, bởi thế người con đỗ đầu, mà người học trò thì đỗ thứ ba. Vua được cuộc mà chúa thì thua. Chúa Trịnh xưa nay vẫn biết sức người học trò hơn mà mình bị thua cuộc, lấy làm tức lắm. Rồi dần dà vỡ cái mưu gian, chúa Trịnh nổi giận, cách chức Quí Đôn và cách cả khoa mục của hai người.

    Quí Đôn phải cách[2] buồn rầu lắm. Được vài năm, quả nhiên người Tú tài Tàu đã đỗ Trạng nguyên và sang sứ bên nước Nam. Khi sứ vào đến cửa ải, hỏi thăm biết Quí Đôn phải cách rồi, mới lưu lại ở cửa ải, sai người mang một tấm vóc đề một chữ và đưa giấy nói rằng:

    - “Đố cả nước Nam biết là chữ gì, nếu không ai biết thì không sang sứ nữa”.

    Vua và chúa hội cả quần thần lại hỏi, thì không ai biết là chữ gì. Vua, chúa lấy làm lo lắm. Các quan nói với chúa rằng:

    - Việc này phải hỏi đến Lê Quí Đôn mới xong. Xin chúa phục chức cho Lê Quí Đôn, rồi triệu đến mà hỏi.

    Chúa Trịnh bất đắc dĩ, phải trả hết lại chức tước của Lê Quí Đôn, rồi cho đòi vào triều đình hỏi chữ ấy.

    Lê Quí Đôn trước còn từ tạ không biết, chúa lại trả khoa mục cho con và người học trò, Lê Quí Đôn mới giải nghĩa chữ ấy và viết bốn chữ: “Phỉ xa bất đông” (匪 車 不 東) vào tấm vóc sai người đưa lên cho sứ Tàu.

    Vua và chúa bấy giờ mới nghĩ ra là nó đố mẹo; chữ ấy viết không ra hình chữ xa, mà cũng chẳng ra chữ đông. Mà trong Kinh Thi có sẵn câu rằng: “Phỉ xa bất đông”. Đó là đố một câu, nhưng chỉ viết một chữ mà đủ ý cả 4 chữ.

    Sứ Tàu thấy nói trúng vào ý mình mới sang sứ, đó là mẹo nó cứu cho Lê Quí Đôn đấy.

    Tính ông Lê Quí Đôn trung tín thành thực, làm quan được bổng lộc, thường chia cho những họ hàng thân thích. Dựng vợ gả chồng cho người trong họ, trước sau cả thẩy 18 người. Những vợ con anh em bạn nghèo khó, cũng thường tư cấp cho ít nhiều. Mà xử vào trong mình rất tiết kiệm, thường chỉ mặc cái áo vải ăn cơm rau mà thôi. Lại hay xem sách, đã làm đến khanh tướng, cũng vẫn học đến nửa đêm mới thôi. Xử với người ta thì cực nhũn, không có kiêu ngạo với ai bao giờ.

    Đến khi trí sĩ, làm một cái nhà tranh, sửa sang vườn cảnh chơi bời, cửa đề hai chữ: “Cấn trai” để tỏ ý mình. Học trò nhiều người làm nên đến khanh tướng.

    Một tay Quí Đôn làm ra nhiều pho sách quí lắm, như là: Thánh mô hiền phạm lục, Kim kính lục chú, Hoàng Việt văn hải, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Thái ất quái vận, Lục nhâm hội thông, Kim cương kinh chú giải, vân vân...


    1: Tập thơ cổ nhất của Trung Quốc, xếp vào hàng Ngũ Kinh (BT).
    2: Bị truất bỏ (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Thu Aug 09, 2012 4:53 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ V: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    LÊ PHỤNG HIỂU



    Hình minh họa; nguồn internet
    Lê Phụng Hiểu người làng Băng Sơn, phủ Thanh Hóa (tức là xã Dương Sơn, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa bây giờ). Người cao lớn to tát, râu ria xồm xoàm, gân sức khỏe mạnh. Khi đang trạc 20 tuổi, có hai thôn Cổ Bi, Đàm Xá tranh nhau địa giới, đem dân phu ra đánh nhau. Phụng Hiểu vung cánh tay lên bảo với người làng Cổ Bi rằng:

    - Chỉ một mình tôi có thể đánh đổ được muôn người.

    Các cụ làng ấy mừng lắm, làm rượu mời Phụng Hiểu ăn uống. Phụng Hiểu uống rượu say rồi ăn hết nồi ba mươi cơm mới no. Bấy giờ mới ra khiêu chiến với người làng Đàm Xá. Khi hai xã giáp chiến, Phụng Hiểu vươn mình lên nhổ một cây to bên vệ đường, cầm ngang trong tay, xông vào đánh dân Đàm Xá. Dân kia rẽ ra mà chạy, không ai dám địch, mà ai địch cũng thua, hoặc chạy không kịp thì chết. Dân ấy sợ hãi phải nhường trả ruộng làng Cổ Bi.

    Bấy giờ vua Thái Tổ nhà Lý, kén người có sức khỏe mạnh, để sung vào quân túc vệ. Phụng Hiểu ra ứng mộ hầu hạ vua đắc dụng lắm, dần dần được nhắc lên làm Võ vệ tướng quân.

    Khi vua Thái Tổ mất, vua Thái Tôn nối ngôi, có ba vị vương là Dực thánh vương, Võ đức vương và Đông chinh vương mưu làm phản, đem binh phạm vào cửa cung Đại nội, muốn tranh ngôi vua Thái Tôn.

    Vua Thái Tôn lo sợ, vời Phụng HIểu mà bảo rằng:

    - Việc kíp đến nơi rồi, trẫm không biết nghĩ ra làm sao nữa, cho người được phép tự tiện mà giúp việc cho trẫm.

    Phụng Hiểu vâng mệnh, đem quân túc vệ ra cửa cung, đánh nhau với quân ba phủ kia. Phụng Hiểu trông thấy Võ đức vương cưỡi ngựa đứng ngoài cửa Quảng Dương trỏ bảo quân sĩ, Phụng Hiểu hầm hầm nổi giận, cầm gươm xông thẳng đến trước ngựa Võ đức vương, trỏ vào mặt mà quát mắng rằng:

    - Các vương dám dòm nom thần khí, coi thường thiên tử, trên thì quên ơn Tiên đế dưới thì trái nghĩa tôi con. Tôi là Phụng Hiểu đây, xin dâng đại vương một thanh kiếm này!

    Nói đoạn, xông thẳng vào chém, các quân chống lại không nổi, chạy dãn ra bốn phía. Võ đức vương toan quay ngựa, nhưng chạy không kịp, bị chém ngã quay xuống đất.

    Quân ba phủ kia thấy vậy, người nào người nấy tìm đường tháo thân, quân túc vệ thừa thế đành tràn ra, giết quân ba phủ không còn mống nào, chỉ có hai vị vương kia chạy được thoát.

    Vua Thái Tôn thấy Phụng Hiểu thắng trận, gọi vào an úy[1] rằng:

    - Trẫm nay được thừa đương cơ nghiệp của Tiên đế, và được toàn vẹn cái thân, toàn do tự sức của ngươi cả. Trẫm xem sử nhà Đường, thấy Uất trì Kính Đức cứu nạn cho vua Đường Thái Tôn, tưởng là các bày tôi đời sau không còn ai trung dũng được như Kính Đức nữa, nay ngươi khỏe mà lại trung với trẫm như thế, thì ra hơn Kính Đức ngày xưa.

    Phụng Hiểu lạy tạ nói rằng:

    - Bệ hạ, đức cảm đến cả trời đất, uy khắp đến cả cõi xa; trong triều, ngoài nội, ai ai cũng phải tuân phép; thế mà chư vương dám manh tâm làm phản, thần thánh trên dưới cũng có bụng muốn giết, cho nên mới trừ được loạn, chứ như chúng tôi thì có công gì.

    Vua phong cho làm Đô thống thượng tướng quân. Đến năm Thiên cảnh thánh võ (1044), vua Thái Tôn vào đánh Xiêm Thành, sai Phụng Hiểu làm tiên phong, phá tan quân giặc, tiếng lừng lẫy đến ngoại quốc. Khi vua thành công trở về, định phong thưởng cho Phụng Hiểu nhưng Phụng Hiểu từ không nhận tước thưởng, xin đứng ở trên núi Băng Sơn, ném một thanh đao ra ngoài, hễ rơi xuống chỗ nào, thì xin đất đến đấy để lập nghiệp.

    Vua ưng cho như thế. Phụng Hiểu đứng ở trên đỉnh núi, ném một thanh đao ra ngoài mười dặm, sa xuống cắm vào làng Đa Mỹ. Vua mới ban ruộng thưởng cho đến chỗ cắm đao, tính ra được hơn nghìn mẫu.

    Tự đấy ruộng thưởng cho công thần gọi là ruộng Thác đao (nghĩa là cắm đao), là do sự tích ấy.

    Phụng Hiểu hết lòng thờ vua, biết điều gì nói điều ấy, mà động đi đánh trận nào cũng được. Đến năm 77 tuổi mới mất. Dân làng ấy lập miếu thờ làm phúc thần, lịch triều[2] có phong tặng cả.


    1: An ủi, khích lệ (BT).
    2: Các triều đại vua chúa (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 7:41 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    ĐOÀN THƯỢNG



    Hình minh họa; nguồn internet
    Đoàn Thượng người làng Hồng Thị, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Thời vua Huệ Tôn nhà Lý, phụng mệnh trấn thủ ở Hồng Châu.

    Đoàn Thượng có sức khỏe hơn người, gân xương như sắt, mỗi khi lâm trận, chỉ một đao một ngựa xông vào đám trăm nghìn người, tung hoành vô địch.

    Đến khi Lý Chiêu hoàng nhường ngôi cho vua Trần Thái Tôn, Đoàn Thượng chiếm giữ một châu, không chịu hàng theo về mới nhà Trần. Thái sư nhà Trần là Trần Thủ Độ sai sứ đến dụ hàng. Thượng nhất định không nghe. Chiêu binh tập mã, tự xưng là Đông hải vương, có ý muốn khôi phục giang sơn cho nhà Lý.

    Trần Thủ Độ đem quân xuống đánh nhau luôn mấy năm không phá nổi, mới lập mẹo sai người đến giảng hòa, mà kỳ thực thì sai một đại tướng là Nguyễn Nộn đem quân đánh tập công mặt sau.

    Đoàn Thượng chắc đã giảng hòa rồi, phòng bị không được cẩn thận như trước, sực nghe tin Nguyễn Nộn đến đánh, mới kéo quân ra cự địch. Đôi bên đánh nhau đang hăng, thì Thủ Độ lại cầm đại quân từ đường Văn Giang đánh đến mé trước. Quân nhà Trần hai mặt đánh dồn vào một, quân của Đoàn Thượng kinh hãi chạy tán lạc mất cả. Đoàn Thượng vội vàng quay ngựa về đánh mặt tiền quân, không ngờ bị một viên tướng nhà Trần, từ mé sau sấn lên chém một nhát vào cổ gần đứt, Đoàn Thượng ngoảnh lại, thì tướng kia sợ hãi mà chạy mất. Đoàn Thượng mới cổi dây lưng ra buộc vào cổ cho khỏi rơi đầu, rồi hầm hầm tế ngựa chạy về phía đông. Chạy đến đâu, quân nhà Trần phải dãn đường cho chạy, chớ không dám đánh.

    Khi chạy đến làng An Nhân, có một cụ già áo mũ chững chạc, chắp tay đứng bên đường nói rằng:

    - Tướng quân trung dũng lắm, Thượng đế đã kén ngài làm thần xứ này rồi đây! Có một cái gò bên làng cạnh kia, đó là đất hương quả của tướng quân, xin tướng quân để lòng cho.

    Đoàn Thượng vâng một tiếng, rồi đến chỗ gò ấy, xuống ngựa gối đầu vào ngọn mác mà nằm, một lát thì mất, mối đùn đất lên lấp thành mồ ngay.

    Dân làng thấy vậy, lập miếu tô tượng để thờ. Về sau, nước lụt vỡ đê, tượng trôi vào làng An Nhân, làng ấy lại lập một tòa miếu khác để thờ. Miếu ở cạnh bờ sông Hồng giang, mé trước ngoảnh vào con đường cái chính xứ đông bắc. Thần linh ứng lắm, kẻ qua lại mà ngạo ngược thì có tai nạn ngay. Các khách buôn thuyền qua lại cửa đền, có đồ lễ vào thì buôn bán đắt hàng. Tục truyền những khách buôn chum vại vào bán chợ Hồng, ai mà vào đền lễ thì buôn bán thông đồng chóng hết lắm; mà ai không lễ, thì ế mãi không bán được, thường phải quẳng bỏ ngoài bến sông, nếu không thế thì tất lại có sự sóng gió lo lường.

    Lịch triều cũng có phong tặng làm thượng đẳng thần. Miếu ấy đến giờ vẫn còn.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 8:05 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    PHẠM NGŨ LÃO



    Hình minh họa; nguồn internet
    Phạm Ngũ Lão là người học trò ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (bây giờ thuộc về huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), có sức khỏe lạ thường, muôn người khôn địch.

    Phạm Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, đủ cả văn võ tài lược. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến Ngũ Lão mới theo nghề học nho. Trong hai mươi tuổi đã có tính khảng khái. Trong làng có một người tên là Bùi Công Tiến đỗ Tiến sĩ ăn mừng, cả làng kéo đến mừng rỡ, chỉ Ngũ Lão không thèm đến.

    Bà mẹ Ngũ Lão bảo rằng:

    - Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút.

    Phạm Ngũ Lão thưa rằng:

    - Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để vui lòng mẹ, mà con đi mừng người ta, thì con lấy làm nhục lắm.

    Ngũ Lão tính hay ngâm thơ, thường ngâm một bài rằng:

    Ngọn gió non sông trải mấy thâu,
    Ba quân tỳ hổ át sao Ngâu,
    Công danh nếu để còn vương nợ,
    Luống thẹn tai nghe truyện Võ hầu.


    Nhà ở bên cạnh đường cái, có một khi Phạm Ngũ Lão ngồi vệ đường vót tre đan sọt, sực có Trần Hưng Đạo Vương từ trại Văn An vào kinh, quân quyền kéo đi rất đông. Quân tiền hô thấy Ngũ Lão ngồi xếp bằng tròn bên cạnh đường, quát lên bắt phải đứng dậy. Ngũ Lão cứ ngồi nghiễm nhiên, như không nghe tiếng. Quân lính cầm ngọn giáo đâm vào đùi, Ngũ Lão cũng cứ ngồi vững không động mình. Đến lúc xe Hưng Đạo Vương đến nơi, trông thấy thế lấy làm lạ, gọi đến hỏi, thì bây giờ mới biết là có quan quân đi qua, và quân lính đâm vào đùi mình.

    Hưng Đạo Vương hỏi rằng:

    - Nhà thầy kia ở đâu, sao ta đi qua đây mà cứ ngồi chững chàng làm vậy?

    Thưa rằng:

    - Tôi đang mãi nghĩ một việc cho nên không biết là ngài chảy qua đây.

    Hưng Đạo Vương lấy làm kỳ, hỏi đến sự học hành, thì hỏi đâu nói đấy, nội về kinh truyện thao lược, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy.

    Hưng Đạo Vương mới sai lấy thuốc dấu rịt vào chỗ nhát đâm, rồi cho ngồi xe đem về kinh, dâng lên vua Thánh Tôn.

    Vua thấy người có sức khỏe, lại có học thức, cho vào làm quản vệ sĩ. Các vệ sĩ không chịu, xin đấu sức với Ngũ Lão. Ngũ Lão xin vâng, nhưng xin vua cho về nhà ba tháng, để thu xếp việc nhà, rồi sẽ xin đấu sức và nhận chức nhân thể. Vua cho về, Ngũ Lão về nhà ra ngoài đồng, tìm chỗ gò cao tập nhảy, cứ cách mười trượng chạy đến nhảy vót qua gò. Tập luyện thành rồi, vào kinh đấu sức. Khi đấu quyền với các vệ sĩ thì không ai địch nổi, rồi Ngũ Lão thách cả các vệ sĩ cùng ra đấu. Các vệ sĩ xúm xít chung quanh, hàng trăm, nghìn người. Ngũ Lão tay đấm chân đá, nhảy nhót như bay, chạm phải ai phi[1] chết thì què gẫy, các vệ sĩ không tài gì mà đánh lại được, bấy giờ mới chịu phục.

    Vua thấy người kiêu dũng làm vậy, cho theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc Mông Cổ, thì đánh trận nào cũng được, lập nên công trạng rất nhiều. Hưng Đạo Vương có lòng yêu mến, gả con nuôi là Nguyên quận chúa cho.

    Về sau, nước Ai Lao[2] đem hơn một vạn voi sang cướp đất Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ Lão cầm quân đi đánh. Ngũ Lão sai dân chặt tre đực cứ dài độ một trượng, chồng chất vào các vệ đường. Khi Ngũ Lão kéo quân vào đánh, giặc thúc voi sấn lên, Ngũ Lão chỉ chân tay không sấn vào gặp đống tre nào thì với lấy cái đống tre chỗ ấy, đập vào chân voi. Voi bị đau gầm rống lên chạy về, giầy xéo cả quân Ai Lao. Ngũ Lão mới thúc quân đánh tràn sang, quân Ai Lao tan vỡ, phải trốn về đêm.

    Vì có những công to ấy, được thiên[3] lên làm Điện tiền thượng tướng quân. Đến khi mất, được phong làm Thượng đẳng phúc thần, người làng Phù Ủng lập miếu thờ ngay ở chỗ nhà Ngũ Lão.

    Ngũ Lão nguyên là bộ tướng của Hưng Đạo Vương, cho nên các đền thờ Hưng Đạo Vương, cũng có thờ Ngũ Lão nữa.

    Tục lại truyền khi Ngũ Lão còn hàn vi, xin với mẹ đi tìm kế lập công danh, ở trong nước chưa có dịp nào, mới sang ở chăn voi cho vua nước Ai Lao. Ngũ Lão cầm một lá cờ đỏ dạy voi, hễ phất lá cờ thì voi phải quỳ xuống hết. Đến khi nghe tin có giặc Mông Cổ quấy nước Nam, mới về theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc. Về sau nước Ai Lao sang cướp vùng Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ Lão đi đánh. Ngũ Lão thấy Ai Lao thúc voi xông vào trận, mới phất lá cờ đỏ, thì voi trông thấy hiệu ông ấy, lại phục cả xuống, vì thế mới phá được quân Ai Lao.


    1: Không (BT).
    2: Nước Lào (BT).
    3: Đổi (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 8:12 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    NGUYỄN XÍ



    Hình minh họa; nguồn viettoon.com
    Nguyễn Xí người làng Sái Xá, huyện Chân Phúc, tỉnh Thanh. Thân phụ Nguyễn Xí gặp buổi cuối đời nhà Trần, trong nước loạn lạc, không muốn ra làm quan, tu ở chùa làng, gọi là Hòa Nam thiền sư. Mỗi đêm đến gà gáy thì thức dậy đánh chuông, đốt hương tụng kinh.

    Có hàng thịt lợn ở cạnh chùa, hễ cứ nghe tiếng chuông thì thức dậy giết lợn. Một hôm, nhà hàng thịt mua lầm phải con lợn cái chửa, định để sáng mai thì làm thịt bán hàng.

    Đêm hôm ấy, nhà sư nằm mơ thấy một người đàn bà đến kêu khóc rằng:

    - Xin ông đêm hôm nay đừng đánh chuông vội, cứu lấy tám, chín mạng cho mẹ con tôi.

    Nhà sư ngạc nhiên không biết sự gì, nhưng cũng nghe lời không đánh chuông vội. Nhà hàng thịt vì thế dậy trưa, thì con lợn cái đã đẻ ra 8 con. Nhà sư thấy vậy lấy làm kỳ, mới mua cả đàn lợn ấy thả vào trong núi.

    Được vài tháng, nhà sư phải hổ bắt mất, nó cắn chết bỏ dưới sườn núi. Sáng mai, người nhà đi tìm thấy mối đùn đất lấp lên thành mồ rồi. Có người biết địa lý, xem hình thế chỗ ấy, cho là được ngôi hổ táng.

    Con ông sư ấy là Nguyễn Xí, bấy giờ đã 17 tuổi, vốn có sức khỏe hơn người, tập nghề võ đã giỏi, nhưng vì nhà nghèo khó, phải ra tỉnh Thanh bán dầu kiếm ăn.

    Một hôm đi qua huyện Lam Sơn, trời đã tối, xung quanh không cửa nhà nào, chỉ có một ngọn miếu thờ thần, mới vào nghỉ trong miếu ấy. Đến canh ba, phảng phất nghe có tiếng xe ngựa rầm rầm, và nghe có tiếng bảo ông thần trong miếu rằng: “Hôm nay trên thiên đình hội các bách thần định lập thiên tử nước Nam, việc ấy quan hệ to, mời ngài đi với tôi nhân thể”. Ông thần trong miếu nói rằng: “Tôi dở có quí khách dưới trần trọ đây, không sao đi được, ông có được nghe điều gì, xin về bảo cho tôi được biết”. Cuối canh tư lại nghe có tiếng về báo rằng: “Thiên đình đã định xong ngôi Hoàng đế nước Nam rồi, tức là người ở Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên họ Lê tên Lợi. Thượng đế cho đến giờ thân, ngày thân, tháng thân thì khởi binh, mười năm mới yên xong thiên hạ”.

    Nguyễn Xí nghe rõ ràng các câu ấy, gà gáy thức dậy, tìm đến làng Lam Sơn, hỏi thăm và nhà Lê Lợi, kể rõ lại những việc nghe thấy chuyện như thế.

    Lê Lợi bấy giờ đã có 300 thủ hạ, sắp sửa muốn ra dẹp loạn, nghe thấy nói, lập tức khởi binh ngay tháng bảy năm ấy.

    Nguyễn Xí theo giúp Lê Lợi đánh nhau với quân nhà Minh, xông pha trong đám mũi tên hòn đạn, đánh đến đâu quân Tàu tan ra đến đấy. Trong 10 năm trời, lập lên rất nhiều công trạng. Đến khi thiên hạ bình định, Lê Thái Tổ cho Nguyễn Xí là sáng nghiệp đệ nhất công thần, và phong làm Nguyễn quốc công, cho quốc tính gọi là họ Lê.

    Nguyễn Xí làm quan trải ba triều: Thái Tổ, Thái Tôn, Nhân Tôn, khi có giặc giã thì đi dẹp, khi thường thì lại vào túc vệ trong cung cấm. Khi vua Nhân Tôn bị Nghi Dân cướp ngôi (con cả vua Thái Tôn, phải bỏ không được lập), Nguyễn Xí đem binh dẹp loạn, giết được bọn đồ đảng của Nghi Dân là Phạm Đồn, Phan Ban rồi bỏ Nghi Dân đi đón Bình nguyên vương lập lên, tức vua Thánh Tôn. Nguyễn Xí vì có công ấy lại được tiến lên làm chức Thái úy, Cương quốc công.

    Bấy giờ Nguyễn Xí có 12 con, cũng được phong tước làm quan tại triều, quyền thế hách dịch nhất thời ấy. Vua thấy lồng lẫy quá, sai đào con sông Cấm giang ở làng Sái Xá, để triệt long mạch làng ấy, thân long chảy ra huyết ba ngày.

    Một hôm, năm con làm quan trung úy, cùng chết một ngày, từ bấy giờ con cháu sa sút.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 8:24 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    PHẠM TỬ NGHI



    Hình minh họa; nguồn internet
    Tử Nghi người làng Vĩnh Niệm, huyện An Dương, tỉnh Hải Dương, sức khỏe như thần.

    Tử Nghi thường đắp một con đường dài ở trên mặt đê, đôi đầu đắp ụ cao 5 thước, rồi vác gậy chạy lên mặt đê, cứ đến chỗ ụ cao thì đánh một cái, ụ lại sạt xuống như đất phẳng.

    Khi sau đến kinh thành Thăng Long, trông thấy hàng trăm người lính đang kéo thuyền rồng ở trên mặt đất xuống sông, mà kéo không nổi.

    Tử Nghi cười nói rằng:

    - Khéo những đồ bị thịt kia! Có một cái thuyền như thế xúm xít vào kéo mà không nổi, thì làm trò gì được?

    Chúng tức giận, kẻ nghiến răng, người trợn mắt, toan xúm vào đánh, thì Tử Nghi lại nói rằng:

    - Vậy thì các anh để đấy, chỉ một mình ta kéo cho mà xem.

    Chúng thấy nói vậy, bỏ cả đi ra, bắt Tử Nghi phải kéo thuyền, nếu kéo không xong thì sẽ hay. Tử Nghi vén tay áo, dùng hết sức bình nhật, chỉ một tay lôi tuột chiếc thuyền rống xuống sông. Chúng ai nấy lắc đầu le lưỡi, chịu ông ta là có sức khỏe gấp nghìn người.

    Bấy giờ nhà Mạc mới lên, nghe có người hùng dũng làm vậy cử làm đại tướng, cho lên trấn thủ mặt Thượng du. Tử Nghi ở trấn vài năm, dẹp tan đám giặc cỏ, có tiếng lừng lẫy đến cả Bắc triều[1]. Về sau nhân dẹp giặc, phá lây đến các tỉnh ven Tàu; Tàu đưa hịch sang trách đến triều đình nước Nam. Tử Nghi đến dinh quan Tổng đốc Quảng Đông, xin chịu tội để cho yên tâm vua nước mình.

    Người Tàu đem Tử Nghi ra hành tội, rồi bỏ đầu lâu và thây vào một cái hòm, che một cái lọng, thả xuống sông cho trôi về nước Nam. Trôi tự Nam Quan về mãi đến giang phận làng Vĩnh Niệm, thì đứng lại không trôi nữa, rồi đêm báo mộng cho dân làng ấy phải ra vớt về mai táng, và phải lập đền phụng tự.

    Dân làng sáng mai ra vớt, lập miếu thờ ngay bên cạnh sông, từ đấy linh ứng lắm. Về sau, hiển linh bảo các làng ở ven sông, cho nên tự Nam Quan về mãi đến Hải Dương, Sơn Nam nội chỗ nào có bến, là cũng phải lập miếu thờ cả.

    Lịch triều phong tặng làm Linh ứng đại vương thần.


    1: Chỉ Trung quốc.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 8:31 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    ĐINH VĂN TẢ



    Tượng thờ Đinh Văn Tả và phu nhân; nguồn internet
    Về đời Lê trung hưng, ở làng Hàm Giang, tỉnh Hải Dương, có người tên là Đinh Văn Tả, sức vóc mạnh mẽ, tính khí hung hăng. Lúc còn nhỏ, chơi bời với lũ côn quang, chúng bầu lên làm đàn anh cả.

    Cạnh làng có một con sông to rộng hơn một dặm, ngày ngày ra tắm, bơi vòng tự bên này sang bên kia, chơi bời luyện tập.

    Một hôm, họp bằng bối[1] uống rượu bên cạnh bờ sông, nghe bên kia sông, có tiếng chiêng trống tế thần. Anh em đố nhau lội được qua sông sang ăn trộm cái chiêng của làng kia đem về.

    Đinh Văn Tả nói:

    - Khó gì việc ấy mà phải đố.

    Bấy giờ đang đêm, Văn Tả lập tức lội xuống sông, vòng sang bên kia, lẻn vào đình, ăn trộm được cái chiêng đem ra, lại lội xuống bơi về. Khi ra đến giữa dòng sông, khua chiêng vang cả lên làng bên kia nghe tiếng, mới biết là mất trộm, tìm thuyền đuổi theo thì không kịp.

    Về sau, nhân có tội phải giam trong ngục Đông Môn. Khi ấy, triều đình đương có việc dụng binh, chúa Trịnh sai các tướng võ tập bắn ở lầu Ngũ Long. Văn Tả và tên lính canh ngục đứng xem thấy không mấy người bắn trúng bia, cười mà nói rằng:

    - Bia rành rành thế kia, mà bắn không trúng, sao mà họ hèn làm vậy?

    Các tướng đứng bắn, nghe tiếng giận lắm, đưa súng cho Văn Tả và bảo rằng:

    - Anh nói khoác làm gì thế, súng đây, anh thử bắn đi này!

    Văn Tả không thèm cầm súng nhỏ, xin mượn khẩu súng to, cắp lên trên mang tai, bắn ra ba phát, vỡ ba cái đích.

    Các người kia ai cũng chịu là tài; rồi lại sai bắn thử lần nữa xem làm sao, thì bắn phát nào tin phát ấy, mười phát đậu chục. Việc ấy lên đến tai chúa Trịnh, mới tha tội, cho theo đi đánh giặc.

    Bấy giờ chúa Trịnh đang chống nhau với Nguyễn ở trong Nam hà. Một bữa quân Bắc đóng ở trên núi, quân Nam đột nhiên đến vây đánh, quân Bắc bị thua tan chạy mất cả, chỉ còn một mình Đinh Văn Tả phục trong bụi rậm, chờ khi quân Nam đuổi theo, ở trong bụi bắn ra, quân Nam tưởng có nhiều quân mai phục phải lui về; quân Bắc thừa thế quay lại đánh, quân Nam phải chạy. Tự bấy giờ nổi tiếng. Về sau, lại lập được nhiều công chiến trận, chúa Trịnh phong cho làm Quận công. Văn Tả nộp trả bằng sắc không nhận, chỉ xin rút trong sổ án từ ra mà thôi, nhưng chúa Trịnh cũng cứ phong cho.

    Đến thời vua Hi Tôn, dư đảng nhà Mạc là Mạc Kính Vũ, vẫn còn chiếm giữ trên xứ Cao Bình. Vua sai Văn Tả thống lĩnh đại binh đi đánh, phá vỡ quân nhà Mạc. Kính Vũ phải chạy sang Long Châu, mới trừ hết được đảng nhà Mạc. Tự đấy làm quan đến cực phẩm hàng võ.

    Đến năm 80 tuổi phải bệnh nặng, Chúa Trịnh thân đến tận nhà hỏi thăm, hỏi rằng:

    - Như ngươi thì trong bụng còn muốn ao ước điều gì nữa không?

    Thưa rằng:

    - Tôi nhờ ơn nhà chúa, làm vinh hiển đến thế này; mà lại được thọ đến 80 tuổi thì trong bụng cũng đã mãn nguyện rồi; nhưng chỉ còn ao ước một chút, giá thử đang lúc tôi chưa chết, mà chúa phong cho tôi làm phúc thần, thì tôi nhắm mắt đi, không còn điều gì hối hận nữa.

    Chúa Trịnh lập tức sai người thảo sắc, phong ngay tại trước chỗ giường nằm. Văn Tả tạ ơn chúa rồi mất.

    Con cháu nhà ấy, về sau ai cũng có tài làm tướng kế thế[2] 18 đời được phong quận công, đến mãi về đời Đinh Tích Nhưỡng về cuối nhà Lê, vẫn còn lừng lẫy. Tục ngữ có câu: “Đánh giặc họ Đinh” tức là chi họ ấy.



    1: Bạn bè (BT).
    2: Truyền đời (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 8:47 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    VÕ TÁNH



    Đền thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh ở Gò Công; nguồn internet
    Võ Tánh tổ tiên thuở trước là người Phúc An, thuộc tỉnh Biên Hòa, sau dời đến Bình Dương.

    Tánh là người khảng khái, trí dũng hơn người, nhà giàu, không chịu thần phục Tây Sơn; mới xin với mẹ bỏ của ra chiêu dụ hào kiệt, khởi nghĩa binh ở Phù Viên (thuộc Gia Định); rồi kéo đến Định Tường chiếm giữ Khổng Tước Nguyên (thuộc Tân Hòa), tụ đồ đảng đến hàng vạn người, hiệu là đạo quân Kiến Hòa, tự xưng làm Tổng nhung, hễ quân giặc đi qua đất ấy, thì đánh giết sạch. Quân giặc thường bảo nhau rằng: “Gia Định tam hùng[1], Võ Tánh là một, chớ có phạm vào mà chết”.

    Năm Mậu thân, Tánh đem cả bộ thuộc đến bái yết đức Thế Tổ[2] ở dưới hành tại[3]. Đức Thế Tổ cả mừng, cho Tánh làm Tiền phong doanh khâm sai Tổng nhung chưởng cơ; rồi lại gả em là Trưởng công chúa Ngọc Du (con gái đức Hưng Tổ, em đức Thế Tổ) cho.

    Khi ấy tướng Tây Sơn là Thái bảo Phạm Văn Tham giữ thành Sài Gòn, Tánh đem quân vây đánh, Tham cùng quẫn xin hàng, dẹp yên được vùng Gia Định.

    Năm Quí sửu, Tánh được thăng làm Khâm sai chưởng Hậu quân doanh Bình sơn tham thặng tướng quân, theo đức Thế Tổ ra đánh thu phục Phú An.

    Năm Giáp dần, Tánh phụng mệnh trấn thủ thành Diên Khánh (bây giờ là Khánh Hòa). Trần Quang Diệu (tướng Tây Sơn) đem hết cả quân vào vây, Tánh kiên thành cố thủ, khi ấy trong thành thiếu lương, quân sĩ rất kham khổ, Tánh lấy lời trung nghĩa khích khuyến, tướng sĩ đều cố sức đánh, giặc không thể nào phá được. Mùa hạ năm Ất mão, đức Thế Tổ đại cử quân thủy, bộ ra cứu viện. Tánh nghe tin có viện binh đến, thân đốc tướng sĩ đương đêm mở cửa thành ra đánh, quân giặc tan chạy. Đức Thế Tổ úy lạo khen Tánh rằng: “Tên Diệu là kềnh địch mà ngươi hãy giữ vững được thành này, có gặp gió to mới biết được cỏ cứng thật!”. Bèn phong cho Tánh tước Quận công.

    Tánh tuổi trẻ, mà lại là bậc thân quí, lập được nhiều công chiến trận, nên có kiêu căng. Tiền quân Tôn Thất Hội thường chê Tánh là người thiển hiệp[4] và bảo rằng: “Cậy mình quí mà không xét đến kẻ sĩ, là lỗi quan Phiêu Kỵ họ Hoắc[5], nay ngươi có bớt kiêu đi, thì mới giữ trọn được tiếng hay”. Tánh nghe lời cảm tạ, từ đấy nén bớt kiêu khí, đều được lòng tướng sĩ.

    Năm Kỷ mùi, Tánh hộ giá đức Thế Tổ ra thân chinh, hạ được thành Qui Nhơn. Đức Thế Tổ vào thành úy lạo, đổi tên là thành Bình Định, lưu Tánh cùng Lễ bộ Ngô Tòng Châu ở lại trấn thủ.

    Mùa đông năm ấy, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng lại đem hai đạo quân vào vây Bình Định. Tánh nghe biết thế giặc đương mạnh, chửa có thể đánh được bèn thu quân giữ thành. Đức Thế Tổ nghe tin báo, đại cử thủy, bộ chư quân ra cứu viện.

    Tánh kiên thành cố thủ, tùy phương chống chế, quân lịnh nghiêm minh, khích lệ tướng sĩ đều liều chết mà đánh, lớn nhỏ cả thảy hơn vài mươi trận, không thua trận nào.

    Hoặc có kẻ khuyên Tánh vượt vòng vây mà lén ra. Tánh không nghe, bảo rằng: “Ta phụng mệnh giữ thành này, thì ta nên thề cùng với thành cùng sống thác. Nếu bỏ thành mà lẩn trốn lấy một mình, thì còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng nữa?”

    Khi ấy quan quân đến cứu viện đã non hai năm trời, đánh mãi không tài nào giải vây được. Đức Thế Tổ sai người lặn nước từ cửa bể lẻn vào, bảo Tánh bỏ thành mà ra hội với quan quân, Tánh nhất định xin cố thủ, sai người cầm tờ mật biểu ra tâu rằng: “Nay quân giặc tụ vây cả ở thành này, thì ngoài Phú Xuân hẳn không hư[6], xin đem quân thừa hư ra đánh lấy Phú Xuân, chẳng khác gì đổi ngôi lấy vàng; dẫu chết một mạng tôi, mà đổi lấy được Phú Xuân, cũng phải.”

    Đức Thế Tổ được tờ mật biểu, ngài mới quyết ý đem quân do đường thủy kéo ra. Đêm hôm ấy đốt lửa ở núi Độc Sơn làm hiệu, Tánh thấy hỏa hiệu, lại mở cửa thành ra đánh, giết được vài tên tướng giặc.

    Khi ấy trong thành hết cả lương thực, quân sĩ phải giết voi, ngựa mà ăn, mà cũng không ai có lòng phản bội gì cả. Tánh sợ rằng thành hãm, thì tướng sĩ chết hại nhiều, bèn đưa thư ra bảo Diệu rằng: “Phận sự ta làm chủ tướng, thì điều liều chết ở dưới cờ. Còn như các tướng sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Lại bảo các tướng rằng: “Ta uống thuốc độc, nhảy vào lửa, đàng nào cũng chết. Nhưng ta không muốn cho giặc trông thấy mặt, ta đành chết vào lửa mà thôi”. Mới sai quân lấy củi khô chất đầy ở dưới lầu Bát giác, và để thuốc súng vào giữa.

    Một hôm buổi sớm, Hiệp trấn Ngô Tòng Châu sang hỏi Tánh xem định kế gì? Tánh trỏ lầu Bát giác mà rằng: “Kế tôi đành chịu thác ở đó mà thôi!” Lại bảo Tòng Châu rằng: “Tôi là võ tướng không lẽ cùng sống với giặc được; ông là văn quan giặc nó không nỡ giết nào, nên liệu mà tự toàn lấy mình”.

    Tòng Châu cười mà nói rằng: “Dù văn, dù võ, ai cũng một lòng trung ái cả, chớ có phân biệt chi? Tướng quân hay liều mình với nước, tôi lại không hay tận trung với vua hay sao?”. Nói rồi lui về dinh, uống thuốc độc mà chết.

    Tánh than rằng: “Ông này lại hơn ta một chước!”, liền thân đến liệm táng cho Tòng Châu tử tế. Cách hai hôm sau, Tánh mặc triều phục lên lầu hội các tướng bảo rằng: “Ta nhờ có các tướng đồng tâm mới giữ được thành mà chống nhau với giặc. Nhưng nay lương cạn, lực cùng, giữ cũng không được nữa, thôi thì ta liều mình thác, chớ không làm khổ tướng sĩ mãi nữa.” Các tướng nghe nói ai cũng thương xót, đứng chung quanh lầu mà khóc. Tánh khoa tay bảo các tướng lui ra, rồi sai Phó tướng Nguyễn Văn Biện châm lửa. Biện cũng khóc mà chạy. Tánh bấy giờ đang hút thuốc lá, lấy tàn ném xuống đống thuốc súng, lửa tức thì bốc lên mà thác. Thống binh Nguyễn Tấn Huyện ở ngoài chạy vào, cũng nhảy vào lửa mà chết theo, hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân dậu.

    Diệu đem quân vào thành, trông thấy cũng rỏ nước mắt, sai làm lễ niệm táng tử tế. Còn các tướng sĩ trong thành, không giết hại người nào cả. Nhưng bọn tướng sĩ sau đều lẻn về, không có một người nào chịu ở theo giặc.

    Đức Thế Tổ nghe tin Võ Tánh, Ngô Tòng Châu tử tiết, thương khóc than rằng: “Toàn tiết như thế dẫu Trương Tuấn, Hứa Viễn ngày xưa, cũng không hơn được!”

    Gia Long nguyên niên[7], sai lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát giác, truy tặng Tánh làm Dực vận công thần Thái úy Quốc công; Châu làm Tán trị công thần Thái tử Thái sư Quận công; Huyện được tặng làm Chưởng cơ. Năm Minh Mệnh thứ 12, truy phong Tánh làm Hoài Quốc công; Châu làm Ninh hòa Quận công, đều được phối hưởng ở nhà Thái miếu.


    1:Đỗ Thành Nhân, Chu Văn Tiếp và Võ Tánh là ba kẻ hùng trong Gia Định.
    2:Chỉ Gia Long (BT).
    3: Là nơi vua đi đóng quân ở đó.
    4: Hẹp hòi thô thiển (BT).
    5: Là võ tướng đời nhà Hán.
    6:Trống không (BT).
    7: Niên hiệu Gia Long năm thứ nhất, 1802 (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 9:05 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    NGUYỄN VĂN THÀNH



    Hình minh họa; nguồn internet
    Nguyễn Văn Thành trạng mạo khôi ngô, tính thâm trầm, cương nghị. Chăm đọc sách, giỏi võ nghệ. Tổ tiên trước ở Thừa Thiên, cha là Hiền dời vào ở Gia Định.

    Đời vua Duệ Tôn triều Nguyễn, Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc khởi binh cướp Bình Thuận. Hiền mộ quân hương dũng theo đi đánh giặc, khi ấy Thành cũng ứng mộ theo cha, đóng quân ở Cầu Giang. Tống Phúc Hợp sai Hiền đem vài nghìn quân đi tải lương, Thành cũng theo đi. Lúc đang đi nửa đường, quân lính già nửa mắc đội thóc, không kịp phòng bị thì có quân giặc đổ ra đánh chẹn ngang đường. Hiền thấy quân giặc kéo ập đến, liền vẫy Thành lui tránh đi. Thành lẻn ra đàng sau trận, sai những quân đội thóc, giơ sào lên làm giáo, treo áo lên làm cờ, vòng ra đàng trên Sa Đỗng, vừa đánh trống vừa reo mà kéo lên. Giặc ngỡ là có viện binh kéo đến, phải tháo lui dần. Quan quân thừa cơ lại đánh được toàn thắng. Phúc Hợp khen Thành còn trẻ tuổi mà có trí khôn, thưởng cho 10 lạng bạc, và một cặp áo sa.

    Đến sau, Hiền bị tử trận. Đức Duệ Tôn cho Thành làm cai đội, Thành đi chiêu tập được hơn 800 quân tráng dũng, theo Đỗ Thành Nhân thu phục được Sài Gòn. Năm Ất tị, Thành theo đức Thế Tổ sang Xiêm ở thành Vọng Các, lại giúp Xiêm đánh phá được Diến Điện, khi ấy vua Xiêm muốn giúp binh, Đức Thế Tổ họp các tướng lại bàn. Thành tâu rằng: “Quân Xiêm tàn ngược, không nên nhờ họ giúp nữa; nếu nhờ binh lực của họ mà được thành sự, rồi tất có lo về sau. Không gì bằng hãy tĩnh để đợi thời”.

    Năm Đinh mùi, Thành phụng mệnh đi đón Hà Hỉ Văn, bị bạt phong dạt vào Hà Tiên, tuyệt lương. Thành giả làm thuyền giặc đi tuần, vào cửa bể cướp lương. Khi về đến nơi hành tại ở Cù lao Cổ Cốt, Thế Tổ biết chuyện cướp lương quở trách Thành, truyền tống giam, sau cho tùng chinh[1]. Khi quan quân thất lợi trận đánh ở Mỹ Tho, có kẻ xui Thành trốn về làng mà ở. Thành bảo rằng: “Vua, tôi nghĩa cả, dù sống, chết cũng phải giữ lấy; còn như sự thành, bại là tại trời, ta liệu trước sao được. Vả lại nhân phải khiển trách mà đi, nhân lúc bại trận mà trốn, đó là kẻ tiểu nhân phản phúc, ta không thèm làm”. Bèn cùng với lũ Hỉ Văn 17 người vượt bể đi theo đức Thế Tổ. Một hôm gặp bão to gẫy cả cột buồm, bạt phong dạt vào cửa Bản Phố. Thành chạy vào trong làng, mượn được thuyền, nhờ được lương, lại vượt bể vào Long Xuyên, sau nghe tin đức Thế Tổ đóng ở Ba Lai, bèn theo đến nơi xin đi chiêu tập quân nghĩa dũng để đánh giặc.

    Năm Quí sửu, đức Thế Tổ ra thân chinh Qui Nhơn cho Thành làm Khâm sai Bình Sơn Tiền tướng quân đem bộ binh đi trước, đến đâu giặc đều tan vỡ cả. Khi ấy nghe tin Thái úy giặc là Nguyễn Văn Hưng đem quân tự Phú Xuân vào cứu viện Qui Nhơn, Thành bèn đem quân đến Thạch Tân án ngữ, năm trận đánh, quân giặc đều phải lui cả. Thành lại do đường bộ kéo đến đóng Phú An. Bấy giờ ai cũng sợ rằng quân giặc đuổi theo, Thành nói rằng: “Trong Qui Nhơn, ngoài Thuận Hóa, dẫu là thân thích, mà thực là cừu thù, chẳng qua mượn tiếng vào cứu viện, mà kỳ thực là định nuốt nhau. Nhạc còn tự cứu không xong nữa là đi đuổi theo người”.

    Sau Nhạc quả nhiên phải lũ Hưng bức tử, lời Thành nói không sai.

    Năm Đinh tị, Thành phụng mệnh trấn thủ Diên Khánh, khi ấy có bọn giặc khách tàu ô thường làm trở ngại ngoài bể. Thành dụng mẹo bắt được, đường bể mới yên.

    Năm Kỷ mùi, Võ Tánh trấn thủ Qui Nhơn, bị quân giặc vây, Thành phụng mệnh điều khiển các đạo bộ binh ra cứu viện, phá tan các đồn giặc. Quân giặc phải lui giữ Chủ Sơn, Thành đánh mãi không vỡ, sau Thành dò được con đường tây nam, có thể đánh tập hậu được, bèn vẽ hình thế dâng biểu xin thêm quân.

    Đức Thế Tổ sai Tống Viết Phúc, Lê Văn Duyệt đem thêm quân đến Thị Dã, đều theo tiết chế Thành. Thành bèn lưu Duyệt đóng quân án ngữ ở Thị Dã, mà Thành thì đem quân qua núi Bột Khê, hơn hai trăm dặm đường, cứ rấn cơn mưa mà đi, vòng qua Đăng Trại đến sau lưng đồn giặc phóng hỏa đốt trại. Mặt trước Lê Văn Duyệt thừa thắng đánh ập vào. Quân giặc tan chạy.

    Trận này, Thành và Duyệt cùng làm đại tướng, cưỡi voi cầm cờ, trỏ bảo các tướng. Thành tính hay rượu, lúc sắp vào trận, cầm hồ rót uống, lại rót một chén đưa cho Duyệt, bảo rằng: “Uống chén này lại càng hăng hái thêm lên”. Duyệt cười mà rằng: “Có nhát thì mới phải mượn rượu, chớ như trong con mắt tôi chẳng cho quân giặc vào đâu, cần gì phải mượn rượu”. Thành có ý thẹn, bởi thế căm giận Duyệt.

    Khi ấy, Thế Tổ sắp khỏi trận hỏa công ở cửa bể Thị Nại, bèn mật báo Thành đem bộ binh đêm đánh chận giặc, để cho quân giặc mải chống giữ, thì mặt quân thủy đánh xông vào. Võ Văn Dũng phải bỏ thủy đồn mà chạy.

    Khi Thế Tổ đem thủy quân ra đánh Phú Xuân, lưu Thành đóng quân ở Vân Sơn, để chống nhau với giặc. Lại sai đem ấn sắc đến nơi quân thứ phong cho Thành tước Quận công.

    Thành cùng Duyệt hội quân hai mặt đánh thành Bình Định. Diệu, Dũng hết lương ăn, đương đêm bỏ thành lẻn qua đường rừng trốn chạy. Thành chiêu hàng dư đảng được 3.000 người, phụng mệnh ở lại trấn thủ.

    Thành học sách vở thông thái, am hiểu chính thể, trong hàng chư tướng, đức Thế Tổ trọng Thành hơn cả, không cứ việc lớn, việc nhỏ, thường hỏi đến Thành để quyết định.

    Tháng bảy năm Nhâm tuất đức Thế Tổ định xong Bắc thành, triệu Thành cho làm Tổng trấn, cả thảy 11 trấn đều thuộc về cả.

    Năm Gia Long thứ bảy, Bắc thành bốn trấn nổi giặc, giả danh tôn Lê. Thành làm khúc hát “Điểm mê” để hiểu dụ. Dân gian có người làm khúc “Tố khuất”, đổ tội quan lại nhũng nhiễu, cho nên nổi giặc. Thành sức các địa phương quan đi hiểu dụ khắp mọi nơi, và sai các tướng tiến tiễu, đều dẹp yên cả.

    Năm thứ mười, Thành phụng mệnh sung chức Tổng tài sửa lại luật lệ, định thành 20 quyển, 398 điều, tâu xin in cả để thi hành.

    Năm thứ mười ba, gặp tang đức Thừa thiên hoàng hậu (sinh ra ông hoàng tử Cảnh), đức Thế Tổ muốn để ông hoàng tử đệ tứ (đức Minh Mệnh) làm thừa tự, vào chủ tế. Thành ngại rằng lòng văn tế khó xưng hô, đức Thế Tổ bảo rằng: “Con phụng mệnh cha, để mà tế mẹ danh chính ngôn thuận, can gì mà không nên”. Nhưng Thành vẫn có ý bất mãn. Sau có khi đương buổi triều, đức Thế Tổ hỏi Thành rằng: “Nay hoàng tôn Đán (con ông hoàng tử Cảnh) còn nhỏ, trong hàng các con, nên lập ai là phải?”. Thành thưa rằng: “Đích tôn thừa trọng mới là chính lễ. Nay bệ hạ muốn chọn người khác, biết con chẳng ai bằng cha, chúng tôi không dám dự đến việc đó”.

    Từ đấy Thành vào triều kiến, thường tâu xin lập ngôi chừ nhị[2], đức Thế Tổ nín lặng. Thành lại càng nghi sợ.

    Con Thành là Thuyên đỗ cử nhân khoa Quí dậu, hay làm văn thơ, giao thông tân khách, nghe thấy Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận là người Thanh Hóa, hay chữ có tiếng, mới làm một bài thơ sai tên môn hạ Nguyễn Trương Hiệu cầm ra mời vào chơi. Hiệu đem bài thơ ấy đưa cho Hình bộ Thiêm sự Nguyễn Hựu Nghi. Nghi vốn oán Thành, xui Hiệu cầm bài thơ ấy mách Lê Văn Duyệt. Duyệt với Thành hai người vốn không hòa với nhau, mới cầm bài thơ vào triều mật tâu: “Thuyên làm thơ có ý bội nghịch[3]”. Đức Thế Tổ cũng không hỏi chi. Sau Hiệu cứ giữ bài thơ ấy làm chứng, đón Thành đi chầu về, nắm áo đòi tiền hối lộ. Thành bất đắc dĩ phải bắt Hiệu và Thuyên tống ngục, liền vào chầu tâu vua, Thế Tổ cho là chứng cớ chưa rõ, tha tội cho Thuyên, mà Thành vẫn tại chức như cũ.

    Sau có kẻ hạch Thành bất pháp[4]. Lễ bộ bác Thành không được dự tế Nam giao. Đức Thế Tổ lại sai Lê Văn Duyệt xét lại án ngươi Thuyên. Thuyên phải thú phục. Thành sợ hãi xin chịu tội. Quần thần đều xin đem Thành tống ngục. Đức Thế Tổ nói rằng: “Thành dẫu có tội, nhưng cứ lễ đãi kẻ đại thần, phải nên xử một cách riêng”. Bèn sai thu cả ấn sắc của Thành, cho về ở nhà. Quần thần lại tâu: “Cha con Thành, cứ phép nên xử tử”. Gặp khi ấy ngoài Bắc thành kết án Lê Duy Hoán mưu phản, đệ vào kinh để Hình bộ xét lại. Duy Hoán lại chiêu xưng là tự Thuyên xui làm phản. Đình thần xin bắt Thành và cả các con giam ở nhà Thị trung quân xá. Các đình lại tra hỏi Thành có làm phản không? Thành thưa rằng: Không. Khi Thành trở ra, bảo quan Thống chế Hoàng Công Lý rằng: “Thế là thành án rồi, vua bắt tội chết, tôi không chết, không phải là trung thần”. Rồi liền uống thuốc độc mà chết, thọ 60 tuổi. Khi ấy có tên lính thư lại nhặt được tờ biểu trần tình của Thành để lại, Hoàng Công Lý đem dâng lên, trong tờ biểu có câu rằng: “Sớm rèn tối luyện, kết thành tội cực ác cho cha con tôi, không còn kêu oan vào đâu chết mà thôi”. Đức Thế Tổ xem tờ biểu, thương tình sa hai hàng lụy, rồi phán Lễ bộ xuất tiền kho làm ma tử tế.

    Thành có tài lược kiêm cả văn, võ, lâm trận dùng binh, định mưu trước rồi mới đánh, cho nên ít khi thua, huân lao rất to. Còn như mưu mô việc miếu đường[5], Thành điều trần được nhiều việc, đều thứ đệ[6] thi hành cả, thực là có mưu xa kinh lý việc nước.

    Năm Minh Mệnh thứ mười bốn, nghịch Ngôi khởi loạn ở thành Phiên An, vì có tên Hàm (con Thành) tùng ngụy[7], xuống chiếu bắt cả lũ con Thành giết sạch. Đến năm Tự Đức mới lại được truy phục chức tước.


    1: Theo đi đánh giặc (BT).
    2: Là ngôi Thái tử.
    3: Trong bài thơ có câu kết: “Thử hồi nhược đắc sơn trung Tể, tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”. Nghĩa là: Hồi này nếu được Tể tướng trong núi, giúp ta kinh luân chuyển động cơ trời.
    4: Không theo phép tắc (BT).
    5: Việc nước (BT).
    6: Tuần tự (BT).
    7: Theo về phe địch (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 9:10 am

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG

    LÊ VĂN DUYỆT



    Tượng Tả quân Lê Văn Duyệt; nguồn internet
    Lê Văn Duyệt tổ tích nguyên người Quảng Nghĩa, cha là Toại, thiên cư vào ở Định Tường, sinh được 4 trai, Duyệt là con trưởng. Khi sinh ra vốn người ái nữ, hình thể ngắn ngủi, nhưng có tài tinh nhanh, sức khỏe mạnh. Khi 14, 15 tuổi, thường than rằng: “Sinh ở đời loạn, mà không hay kéo cờ giống trống làm đại tướng để lưu công danh ở sử sách, thì không phải là tài trai”.

    Năm Canh tí, đức Thế Tổ lên ngôi vua tại Gia Định, Duyệt mới 17 tuổi, được sung vào làm Thái giám nội dinh, sau được thăng làm cai cơ, quản hai đội quân thuộc nội, theo hầu đức Thế Tổ sang Xiêm La.

    Năm Đinh mùi, đức Thế Tổ về thu phục Gia Định, Duyệt thường đi theo chiến trận, cùng chư tướng bàn luận việc binh, đức Thế Tổ thấy vậy lấy làm trọng, thung dung hỏi rằng: “Ngươi cũng biết việc binh à?”. Duyệt thưa rằng: “Biết”. Đức Thế Tổ nói: “Binh cơ là việc lớn, ngươi sao nói khinh dị làm vậy?”. Duyệt thưa: “Sơn tặc là quân vô đạo không bao lâu nữa cũng tự diệt mà thôi. Nay ta lấy người nhân mà đánh kẻ bạo, thế như chẻ tre, tôi không cho gì làm khó cả”.

    Nhân xin mộ binh theo về cánh Tả quân, rồi phụng mệnh ra đánh Qui Nhơn, được thăng làm thuộc nội vệ úy, theo về quân Thần sách.

    Năm Kỷ mùi, đức Thế Tổ sai Duyệt và Tống Viết Phúc đem quân ra án ngữ Bình Đề. Khi ấy đức Thế Tổ nghe tin có mấy vạn quân Tây Sơn kéo vào đánh, ngài sai Trung sứ ra hỏi tình trạng, Duyệt cùng Viết Phúc tâu rằng: “Có hai chúng tôi ở đây, chẳng lo sợ gì giặc.” Lại trỏ núi trước mặt nói rằng: “Đây là chốn hai chúng tôi cùng liều sống thác với giặc đó.” Trận ấy quả nhiên thu phục được Qui Nhơn.

    Năm sau, tướng Tây Sơn lại vào vây Qui Nhơn, quan quân ra cứu viện chỉ lênh đênh ngoài bể, không đánh vào được cửa bể Thị Nại, đức Thế Tổ muốn dùng chước hỏa công, bèn sai Duyệt cùng Võ Di Nguy đem thủy quân xông vào đánh, quân giặc ở trên đồn bắn xuống như mưa, Di Nguy bị đạn ngã lăn xuống nước. Duyệt cũng không đoái lại nhìn chi, chỉ gia sức xông vào mà đánh. Đức Thế Tổ thấy tướng sĩ chết hại nhiều, ba lần cho tên tiểu sai truyền dụ bảo Duyệt tạm lui quân. Duyệt nhất định xin liều chết mà đánh, bảo tên tiểu sai rằng: “Tôi xin cứ tiến vào, chớ không lui”. Liền thúc quân xông vào cửa bể, thuận gió tung lửa ra đốt hết thuyền giặc. Trận này ở sử cho là một trận võ công đệ nhất, khi ấy là 19 tháng giêng năm Tân dậu.

    Bấy giờ các tướng khuyên đức Thế Tổ đem quân ra đánh úp Phú Xuân, nhưng ngài còn dùng dằng chửa quyết, Duyệt tâu rằng: “Việc binh quí hồ thần tốc, mưu mô cốt phải quả quyết. Nay đóng quân mãi ở đây, thời mỏi mệt mà vô công; tiến ra lấy được Phú Xuân, thời thành Bình Định này không phải đánh mà tức khắc giải vây; đó là một chước đánh cờ thí xe vậy”. Đức Thế Tổ nghe lời, quả nhiên thu phục được Phú Xuân.

    Năm Nhâm tuất, Gia Long nguyên niên, Duyệt được thăng làm Khâm sai chưởng Tả quân doanh Bình sơn tướng quân, tước Quận công, cùng Lê Chất đem binh bộ đi tiên phong, dẹp yên Bắc hà.

    Khi ấy có vua Chân Lạp là Nặc Chân phải Xiêm La đánh đuổi, chạy sang Gia Định. Đức Thế Tổ cho Duyệt vào làm Tổng trấn Gia Định, để điều đình xử trí việc Xiêm, Lạp, và đưa Nặc Chân về nước. Duyệt tâu xin đắp thành Nam Vang (Pnôm Pênh), thành Lư Yêm để lưu quân bảo hộ Chân Lạp.

    Trước kia Duyệt vốn là tì tướng, thường phải theo tiết chế Nguyễn Văn Thành. Lúc lâm trận, tính Thành hay trì trọng[1] mà Duyệt thì quả cảm hăng hái, thường lập được công to, uy danh lừng lẫy cũng bằng Thành. Nhưng Thành ghét Duyệt là người quyến giới, bởi thế hai người không hòa với nhau.

    Khi ấy có người Thanh Hóa là Nguyễn Hựu Nghi trước làm môn khanh Nguyễn Văn Thành, vì phải quở trách, trốn sang làm môn hạ Duyệt. Nghi lại sai tên Nguyễn Trương Hiệu sang theo hầu Thuyên là con Thành, để rình xem Thuyên làm những điều gì. Sau Hiệu lấy được một bài thơ đem đưa cho Nghi. Nghi nói với Duyệt rằng: “Con Thành là Thuyên làm thơ chiêu dụ người đồng quận, lời rất bội nghịch”. Duyệt tin lời Nghi, mật đem bài thơ ấy tâu vua, việc án Thuyên gây ra từ đó.

    Năm Minh Mệnh nguyên niên, Duyệt lại vào trấn thủ Gia Định, dẹp yên giặc sư Kế ở Chân Lạp.

    Năm Minh Mệnh thứ 13, Duyệt thấy ngoài Bắc thành chia thành tỉnh, bãi chức Tổng trấn; chỉ duy thành Gia Định còn có Duyệt cho nên chưa bãi. Duyệt nghĩ mình già yếu, dâng sớ xin từ chức, vua không cho.

    Ngày 30 tháng 7 năm ấy (1832), Duyệt mất, thọ 69 tuổi. Duyệt làm việc hay tự chuyên, dụng hình hay quá lạm. Nhưng một lòng báo quốc, phấn chấn chẳng nghĩ chi đến mình, vậy nên được lòng kẻ tướng sĩ, đem quân đi đánh, không thua trận nào.

    Thủy chung bốn lần đi dẹp giặc mán Vách đá ở Quảng Nghĩa, quân mán rợ đều khiếp sợ uy phong, hễ kéo quân đến thì giặc mán đều tan trốn cả.

    Khi ra kinh lược Thanh, Nghệ, những kẻ đào phạm[2] ở Bắc thành cùng kẻ thổ tù ở mặt thượng đạo đều về đầu thú.

    Hai lần trọng trấn Gia Định, hưng lợi, trừ hại, dẹp giặc, yên dân, uy danh lừng lẫy, người Xiêm khiếp sợ, hễ khi nào có sứ bộ sang, thì người Xiêm lại hỏi thăm rằng: “Lê công có được mạnh khỏe không?”.

    Duyệt mất rồi, thành Gia Định đổi tên là Phiên An, đặt ra Tổng đốc, Bố chính, Án sát, Lãnh binh. Khi ấy Bố chính là Bạch Xuân Nguyên sách nhiễu tham lam, tự xưng là phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Duyệt, sai bắt lũ Lê Văn Khôi[3] là bộ hạ Duyệt để tra hỏi. Khôi sợ phải tội, mưu làm phản; đêm hôm 18 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 14, Khôi ngầm dụ đảng lính Bắc Thuận[4] 27 người vào thành giết Bố chính Bạch Xuân Nguyên và Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, chiếm giữ thành Phiên An. Quan quân đánh mãi không phá được, đến năm Minh Mệnh thứ 16 mới dẹp yên. Đức Minh Mệnh truy trách là tại Duyệt nuôi lũ phỉ đảng để gây nên vạ. Các quan nội các đều dâng sớ kể tội Duyệt. Đình thần nghị xử kết án Duyệt đáng tội trảm 7 điều, tội giảo 2 điều. Sau xử án Duyệt phải truy đoạt quan tước, cuốc phẳng mộ địa, dựng bia đề tám chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt thụ pháp xứ”. Con nuôi và cháu là Hán, Yên, Tề đều phải xử tử.

    Mộ Duyệt ở Gia Định, từ đấy thường khi trời tối, đêm khuya, trong mộ hình như có tiếng quỉ khóc, hoặc tiếng người, tiếng ngựa ồn ào, nhân dân ở đấy không ai dám đến gần. Đến sau sai quan địa phương bỏ cái bia dựng ngày trước đi, và cho con cháu được xây mộ lại, thì tiếng khóc ban đêm mới thôi.


    1: Vì cẩn thận quá mà chậm lụt (BT).
    2: Những người tù bỏ trốn (BT).
    3: Là thổ mục Cao Bình, mộ binh theo Duyệt vào Gia Định, làm Phó vệ úy.
    4: Là những thú đinh ngoài Bắc, Duyệt mộ làm lính cơ ở Bắc Thuận.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 1:49 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    SỬ ĐỒNG TỬ



    Hình minh họa; nguồn internet
    Về đời vua Hùng Vương thứ ba, vua có một người con gái tên là Tiên Dong, mới 18 tuổi, nhan sắc xinh đẹp, không muốn lấy chồng, chỉ thường hay đi chơi các sông núi xem phong cảnh. Vua yêu nàng ấy, mặc ý cho đi chơi không cấm. Mỗi năm trong tuần tháng hai tháng ba, bơi thuyền chơi ở mạn sông làng Chử Xá (tức là làng Chử Xá, huyện Văn Giang bây giờ).

    Ở làng ấy có một người tên là Sử Cù Vân và người con là Sử Đồng Tử[1]. Hai cha con thiên tính từ hiếu, gặp khi nhà phải hỏa tai, của cải hết sạch cả, chỉ còn một cái khố vải, cha con thay đổi nhau, ai đi đâu thì đóng. Đến khi Cù Vân phải bệnh, dặn con rằng:

    - Tao mà chết đi rồi, thì cứ táng trần cho tao, còn cái khố đấy để cho mày.

    Cù Vân mất, Sử Đồng Tử không nỡ để cha chết truồng, lấy khố quàng cho cha rồi mới chôn. Còn mình thì trần truồng, đói rét khổ sở, ngày ngày đứng náu hình bên sông, chờ có thuyền buôn qua lại thì xin, hoặc là câu cá bán để hộ thân.

    Một hôm, nàng Tiên Dong bơi thuyền đến chơi bến làng Chử Xá, chiêng trống om xòm, đàn sáo rầm rĩ, cờ tàn rợp đất, lính tráng rất đông. Sử Đồng Tử trông thấy sợ hãi ẩn vào trong bãi lau sậy, cào cát lên nép mình xuống dưới, rồi lại lấy cát trùm lên trên.

    Tiên Dong bơi thuyền đến bến ấy, nhìn trông phong cảnh vui đẹp, mới lên bãi cát đứng xem, thấy chỗ ấy sạch sẽ, giăng màn tứ vi[2] trên bãi cát để tắm. Tiên Dong vào màn, cổi áo xiêm tắm táp một hồi lâu, dội nước trôi cát. Sử Đồng Tử trồi lên. Tiên Dong trông thấy giật mình, nhìn ra biết là người con trai, mới gọi hỏi cơn cớ làm sao, thì Đồng Tử cũng thú thật cả đầu đuôi làm vậy.

    Tiên Dong bảo rằng:

    - Ta nguyên không muốn lấy chồng, nay sự đã thế này, tất là Nguyệt Lão xe duyên đây.

    Mới sai Đồng Tử tắm táp, ban cho quần áo, đem xuống thuyền ăn yến vui vẻ. Người trong thuyền ai cũng cho là sự kỳ dị.

    Đồng Tử nhất định xin từ, không dám lấy. Tiên Dong bảo rằng:

    - Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, can gì mà từ.

    Đồng Tử từ mãi không được phải nghe. Từ bữa ấy hai người kết làm vợ chồng.

    Có người về tâu với vua Hùng Vương, vua nổi giận nói rằng:

    - Tiên Dong không biết tiếc danh giá, chơi bời đường xá, lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà nhìn đến ta!

    Tiên Dong vì thế sợ hãi không dám về, mới cùng với Đồng Tử lập ra phố xá buôn bán với dân. Buôn bán mỗi ngày một thịnh, dần dần thành ra một làng. Các khách buôn bán ngoại quốc qua lại, ai cũng coi bà Tiên Dong làm chủ cả vùng ấy.

    Có một người lái buôn bảo với Tiên Dong rằng:

    - Nếu được trăm cân vàng, cho người đi với tôi ra ngoài bể, buôn những đồ quí, sang năm tất được lãi gấp mười.

    Tiên Dong mừng rỡ, bảo với Sử Đồng Tử rằng:

    - Vợ chồng ta là tự trời dắt lại, cơm ăn áo mặc cũng là tự trời cho, vậy thì chàng nên đem vàng ra bể mà buôn.

    Sử Đồng Tử đem vàng đi với người lái buôn ra ngoài bể, đến núi Quỳnh Lãng, trông lên trên núi có một am nhỏ. Đồng Tử trèo lên xem phong cảnh. Trong am có nhà một nhà sư còn trẻ, tên là Phật Quang, thấy Đồng Tử có cách điệu thần tiên, muốn truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử ở liền ngay đấy học đạo. Được hơn một năm, Đồng Tử trở về, Phật Quang tặng cho một cái gậy, một cái nón, và dặn rằng:

    - Phép linh thông ở cả cái gậy và cái nón này.

    Đồng Tử vâng lĩnh từ về, đem đạo Phật về dạy Tiên Dong; Tiên Dong tỉnh ra, mới bỏ cửa hàng buôn, hai vợ chồng rủ nhau đi học đạo. Một hôm đi xa, trời đã tối mà chưa đến chỗ dân cư, mới tạm chống gậy và che cái nón ở dọc đường để nghỉ. Canh ba đêm hôm ấy, bỗng dưng hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện châu, kho, tàng, dinh, phủ, vàng bạc, châu báu, giường, sập, màn, trướng, lại có tiểu đồng, ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ, hầu hạ xung quanh.

    Sáng ngày mai, ai ai trông thấy cũng lấy làm lạ lùng kinh hãi, tranh nhau mang hương hoa ngọc thực đến dâng. Lại có đủ văn quan, võ tướng, chia quân canh giữ các cửa thành, tựa một hồ nước.

    Vua Hùng thấy chuyện làm vậy, cho là làm loạn, sai quan quân đến đánh. Khi quan quân sắp đến nơi, chúng tâu xin đem binh ra cự.

    Tiên Dong cười nói rằng:

    - Việc nầy không phải tại ta làm ra, bởi tự trời xui nên thế. Ta dù sống chết đã có trời, dám đâu cự nhau với cha? Ta chỉ thuận theo lẽ phải, mặc ý cha ta ghết chết cũng cam tâm.

    Khi quan quân tiến đến, đóng ở châu Tự Nhiên (bây giờ gọi là Khoái Châu phủ), còn cách bên này một con sông. Trời đã tối, quân chưa kịp sang sông. Đến nửa đêm, bỗng nhiên trời nổi giông gió bay cát đổ cây, rồi thì cả một khu bà Tiên Dong ở, cửa nhà, người, giống súc vật, trong một lúc bay cả lên trời; chỉ còn bãi đất không ở lại trong đầm mà thôi. Bởi thế bãi ấy gọi là bãi Tự Nhiên, đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ (một đêm).

    Dân ở đấy thấy sự lạ lùng, mới lập miếu để thờ. Về sau, vua Triệu Việt Vương đóng binh trong đầm, cự nhau với quân nhà Lương. Tướng nhà Lương là Trần Bá Tiên đánh mãi không được. Đến lúc Bá Tiên trở về, ủy cho tì tướng là Dương Sàn vây đánh, Triệu Việt Vương thiết đàn trong đầm cầu khấn, xin thần giúp cho. Bỗng thấy một ông thần (tức là Sử Đồng Tử) cưỡi rồng xuống đàn, bảo rằng:

    - Ta tuy đã lên trời, nhưng uy linh vẫn còn ở đây, ngươi có lòng thành cầu đến ta, vậy ta xuống giúp.

    Nói đoạn nhổ một cái vuốt chân rồng, trao cho Triệu Việt Vương và dặn rằng:

    - Ngươi lấy cái vuốt rồng này, cắm lên chỏm mũ đâu mâu thì đi đến đâu, giặc phải tan đến đấy.

    Nói vừa dứt lời, rồng bay vụt lên trời biến mất. Triệu Việt Vương nghe lời, cắm vuốt rồng lên trên chỏm mũ, tự bấy giờ sức khỏe mạnh hơn trước, thanh thế mỗi ngày một to, mới đem quan đánh nhau với Dương Sàn, chém được Dương Sàn tại trước trận, quân nhà Lương phải tan chạy hết về Tàu.


    1: Có sách gọi là Chử Đồng Tử
    2: Vây bọc bốn bên (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 1:53 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG



    Hình minh họa; nguồn viettoon.net
    Về đời vua Hùng Vương thứ sáu, thiên hạ thái bình, dân gian giàu có; vua không triều cống với nhà Ân bên Tàu. Vua nhà Ân thấy vậy, giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân sang cướp nước Nam.

    Vua Hùng Vương lo sợ, vời quần thần vào hỏi mẹo đánh giữ, có người phương sĩ[1] thưa rằng:

    - Bệ hạ nên kêu khấn với Long quân, thì ngài sai thiên tướng xuống giúp mới xong.

    Vua nghe lời, lập đàn làm chay, cúng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng đâu trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có một ông cụ già, cao lớn 9 thước, mặt mũi to lớn, đầu bạc râu trắng, ngồi ở ngã ba đường cái, vừa cười vừa nói, ngâm hát múa mênh.

    Ai trông thấy cũng cho làm lạ, mới tâu vua. Vua thân hành ra mời ông cụ ấy đến chỗ đàn làm chay, dâng cơm rượu thết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống và cũng không nói năng câu gì.

    Vua hỏi rằng:

    - Sắp có giặc Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế nào, xin cụ bảo cho.

    Ông cụ lâu mãi mới nói rằng:

    - Sau ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp cả thiên hạ, mà cầu lấy người kỳ tài, phá được giặc, thì nên chia đất phong tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá giặc không khó gì nữa.

    Nói đoạn, bay vụt lên trời biến mất.

    Vua lấy làm lạ, mới tuân lời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu người tài. Bấy giờ ở làng Phù Đổng, huyện Võ Ninh (bây giờ là Võ Giàng), có một ông nhà giàu, ngoại 60 tuổi, chỉ sinh được một người con trai lên ba tuổi chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa, không ngồi đứng lên được. Khi sứ giả đi cầu người tài, đến làng ấy, người mẹ cười nói bỡn con rằng:

    - Đẻ được một chút con trai, chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không được, thì đánh thế nào được giặc, để mà lĩnh thưởng của vua, đền công sinh dưỡng cho cha mẹ.

    Người con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ giả lại đây. Mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với láng giềng. Người láng giềng thấy lạ chuyện, xui người nhà thử gọi sứ giả xem ra làm sao.

    Khi sứ giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:

    - Tiểu nhi kia, gọi ta đến làm gì?

    Tiểu nhi ngồi dậy, bảo với sứ giả rằng:

    - Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa sắt cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước; và một cái nón sắt, đem lại đây cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy, vua can gì phải lo?

    Sứ giả mừng lắm, về tâu với vua.

    Vua mừng rỡ bảo quần thần rằng:

    - Đây là Long vương cứu ta đây! Năm ngoái ông cụ già nói chuyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hồ nghi gì nữa!

    Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem lại đưa cho tiểu nhi. Sứ giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói xằng thì vạ lây đến cả nhà.

    Tiểu nhi cười ầm lên nói rằng:

    - Mẹ cứ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn việc đánh giặc, mẹ không phải lo.

    Tiểu nhi tự bấy giờ mỗi ngày một lớn, cơm ăn áo mặc tốn lắm. Mẹ tuy nhà giàu mà cũng không đủ nuôi cho ăn, hàng xóm láng giềng phải tư cấp giúp thêm; nào kẻ đỡ tiền thóc, người dâng rượu thịt, mà ăn vẫn không được no; vải lụa nhiều thế nào cũng mặc không đủ; cửa nhà ở cũng không vừa, phải ken cỏ lau lớp một cái nhà to để ngài ở.

    Khi giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn (thuộc về huyên Tiên Du) thì sứ giả đem ngựa kiếm đến nhà giao cho ngài. Ngài vươn vai đứng lên, cao hơn 2 trượng, ngẩng mặt lên trời, gầm lên vài mươi tiếng, rồi rút thanh kiếm cầm trên tay quát lên rằng:

    - Ta là thiên tướng nhà trời đây!

    Lập tức đội nón nhảy lên ngựa tế đi. Ngựa hét ra lửa mà chạy như bay, chỉ chớp mắt đã đến chỗ quân đóng. Ngài trở gươm đi trước, quan quân kéo theo sau, tiến sát đến trại giặc. Giặc bày trận ở dưới chân núi Châu Sơn, ngài xông vào trận đánh giết một hồi lâu, gẫy mất cả kiếm, mới vớ lấy tre ở bên cạnh đường cầm cả tảng tre mà quật vào đám giặc. Quân giặc tan nát tựa hồ đất lở ngói tan, tranh nhau lạy phục xuống đất, kêu rằng:

    - Lạy ngài, ngài là thần tướng trên trời, chúng tôi xin chịu hàng cả.

    Khi đánh đến núi Ninh Sóc, thì giặc đã tan hết cả rồi, ngài mới cởi áo bỏ đấy, rồi cưỡi ngựa bay lên trời. Đến bây giờ vẫn còn dấu người, ngựa ở trên núi.

    Vua nhớ, không biết lấy gì báo được, mới phong ngài làm Phù Đổng thiên vương lập miếu thờ ngay ở vườn nhà khi trước, ban cho dân một trăm mẫu ruộng tự điền[2] bắt phải bốn mùa cúng tế.

    Từ đấy, giặc Bắc không dám sang xâm phạm nữa. Bốn phương nghe chuyện làm vậy, đâu đâu cũng hòa hiếu với nước Nam.

    Đến đời nhà Lý, gia phong làm Sung Thiên thần vương. Bây giờ vẫn còn thờ ở làng Gióng, mà tượng thì tô ở trên núi Vệ Linh, mỗi năm đến tháng tư dân làng ấy mở hội to lắm.

    Những tre ngài nhổ lên đánh giặc bây giờ thành rừng ở huyện Gia Bình, gọi là tre Đằng Ngà.

    Chỗ con ngựa thét ra lửa, cháy mất một làng, cho nên bây giờ làng chỗ ấy gọi là làng Cháy.


    1: Người theo đạo tu tiên
    2: Ruộng để thờ (BT).

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 2:21 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    TẢN VIÊN SƠN THẦN



    Hình minh họa; nguồn viettoon.net
    Núi Tản Viên thuộc về huyện Phúc Lộc (bây giờ là huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây), có ba tầng cao chót vót hình như cái tán, cho nên gọi là núi Tản Viên.

    Tục truyền thần núi ấy khi xưa là dòng dõi vua Lạc Long. Nhà nghèo, vào rừng kiếm củi, chặt một cây cổ thụ, hôm sau lại có sao Thái Bạch xuống cứu cây ấy sống lại, rồi cho ngài một cái gậy và dặn rằng: “Gậy này có phép cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế”. Ông ấy nhận cái gậy, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một hôm, đi qua bờ sông thấy lũ trẻ chăn trâu, đánh chết một con rắn. Ông ấy trông trên đầu con rắn có chữ vương, biết là rắn lạ mới cầm gậy gõ vào đầu con rắn, thì con rắn ấy sống lại bò xuống sông mà đi mất.

    Được vài hôm, bỗng có một người con trai đem đồ vàng, ngọc, châu báu đến nói rằng:

    - Thưa ông, tôi là Tiểu long hầu, con vua Long vương bể Nam. Bữa trước, tôi đi chơi trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết, nhờ có ông mới được sống, vậy tôi có của này đến tạ ơn ông.

    Ông ấy nhất định không lấy, Tiểu long hầu mới cố mời ông ấy xuống chơi dưới bể, đưa ra một cái ống linh tê, để ông ấy rẽ nước đi xuống. Long vương thấy ngài xuống chơi, lấy làm mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba ngày, rồi đưa tặng những của quí lạ, ông ấy cũng nhất định không lấy gì cả. Long vương mới biếu một quyển sách ước, ông ấy nhận sách đem về, giở ra xem, muốn ước phép nào cũng được. Từ bấy giờ cứu được cho dân nhiều lắm, mà các phép thần thông biến hóa không thần thánh nào theo kịp.

    Khi ngài đã thành thần rồi, đi qua cửa bể Thần Phù lên mạn ngược, tìm chỗ nào cao ráo phong quang và được thói dân thuần hậu thì mới ở. Khi đến Thăng Long, xem dân tình ăn ở phù hoa, không bằng lòng mới bỏ mà lên huyện Phúc Lộc, thấy chỗ ấy có núi Tản Viên, ba từng núi xòa xòa hình như cái tán, phong cảnh vui vẻ, thần mới hóa phép làm một con đường về phía nam núi, thẳng tự bến Phan Tân đến Tản Viên. Đường quá cánh đồng làng Vệ Đỗng và làng Nham Toàn hóa phép hiện ra lâu đài để nghỉ ngơi. Lại qua cánh đồng Thạch Bạn, Vân Mộng, rồi lên mãi từng núi cao nhất để ở.

    Thần tự khi ở núi ấy, thường thường ra chơi sông Tiểu Hoàng xem cá. Chỗ nào có phong cảnh đẹp cũng đến chơi. Chơi đến đâu lại hiện ra đền đài đến đấy để nghỉ ngơi. Các làng trông thấy chỗ nào có dấu đền đài, thì lại lập đền miếu để thờ.

    Bấy giờ, vua Hùng Vương có người con gái tên là Mị Nương, nhan sắc rất đẹp, thần núi và vua thủy cùng hỏi xin lấy làm vợ. Vua Hùng Vương nói rằng:

    - Một thuyền quyên không có lẽ sáng được hai anh hùng, vậy thì ngày mai, ai đem được đủ đồ lễ đến trước thì ta gả cho.

    Sáng ngày mai, thần Tản Viên đem những đồ vàng bạc châu báu, cùng là giống chim quí thú lạ lại dâng (Tục truyền đồ lễ: Voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao và một chĩnh vàng cốm). Vua Hùng Vương y ước gả cho, thần mới đón nàng Mị Nương về ở trên đỉnh núi Tản Viên.

    Vua Thủy đem đồ lễ đến sau, thấy thần núi đã rước dâu về rồi, tức giận lắm, mới làm ra mưa to gió lớn, và dâng nước lên để đuổi theo cướp về.

    Thần núi thấy vậy, làm ra lưới sắt, chắn ngang đường thượng lưu huyện Từ Liêm. Vua thủy lại đi đường khác, tự sông Lý Nhân vào sát chân núi Quảng Oai, men bờ lên cửa sông Hát Giang, rồi ra sông Lư, vào sông Đà để đánh mé sau núi Tản Viên. Lại mở ra các sông nhỏ để đem nước vào đánh mé trước núi. Đi qua các làng Cam Giá, Đông Lân, Cổ Nhạc, My Xá, đi đến đâu xoáy nước xuống thành vực, để làm chỗ các giống thủy tộc ở, rồi tiến nước lên đánh nhau với thần núi. Thần núi thì bảo dân xung quanh đấy đan phên chắn nước và dùng cung nỏ bắn xuống; lại sai các loài hùm, beo, voi, gấu, bẻ cây cối vận đá ném xuống sông. Mỗi phen đánh nhau, mưa gió sấm chớp ầm ầm, trời đất mù mịt. Đánh nhau xong rồi, thì thấy những loài cá, ba ba, thuồng luồng, chết nổi cả trên mặt sông. Từ đấy hai thần thù nhau, mỗi năm đánh nhau một chuyến.

    Thần núi linh ứng lắm. Phàm khi nào đảo mưa cầu tạnh, cũng thường ứng nghiệm. Ai nhờn nhỡ đến thì có tai nạn ngay. Mỗi khi tạnh trời, thần thường hiện hình chơi các nơi khe suối, có đám mây phủ như hình tán quạt.

    Khi nước Nam nội thuộc nhà Đường, Cao Biền sang làm Đô hộ, muốn trấn yểm các nơi linh tích; bắt đứa con gái 17, 18 tuổi chưa có chồng, cho ăn đồ hoa quả, mặc áo xiêm lịch sự, đặt lên ngồi trên ngai, giết trâu bò tế bái để cho thần phụ vào người con gái ấy, rồi rình khi cất nhắc chân tay, thốt nhiên chém đi. Thường hay dùng thuật ấy để trấn áp bách thần. Khi Biền dùng mẹo ấy cúng thần Tản Viên, thì thần cưỡi ngựa trắng ngồi trên đám mây nhỏ vào cỗ tế mà đi.

    Cao Biền than rằng:

    - Linh khí nước Nam còn thịnh vượng lắm, không tài nào mà trừ được!

    Thần có phép lạ, biến hóa không biết đâu mà lường. Quan Hàn lâm là Nguyễn Sĩ Cố về thời nhà Trần phải đi dẹp giặc, đi qua đền ngài, đem lễ vào khấn, rồi đề một bài thơ rằng:

    Non ngất, thần thiêng lẫm liệt thay!
    Động lòng đã thấu tới cao dày.
    Mị nương cũng hiển oai linh lắm,
    Xin giúp thư sinh một chuyến này.



    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 2:28 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    LÝ ÔNG TRỌNG




    Hình minh họa; nguồn internet
    Về cuối thời vua Hùng Vương, ở làng Thụy Hương (tục gọi là làng Chèm), huyện Từ Liêm, có một người họ Lý tên Thân, hiệu là Ông Trọng, cao 2 trượng 6 thước, khỏe mạnh tuyệt trần. Thuở còn hàn vi, nhân có sự giết người, đáng phải tội chết. Vua thấy người cao lớn lực lưỡng, không nỡ giết. Đến đời vua An Dương Vương, vua Thủy Hoàng nhà Tần đem binh sang xâm nước Nam. An Dương Vương xin hàng, rồi đem Lý Ông Trọng sang cống bên Tàu. Thủy Hoàng được Ông Trọng mừng lắm coi như của rất quí trong đời, dùng ngay làm Tư vệ hiệu úy.

    Đến khi Thủy Hoàng đem binh đi đánh dẹp thiên hạ, thì sai Ông Trọng trấn thủ đất Lâm Thao, để phòng quân rợ vào quấy nhiễu. Ông Trọng hùng dũng, tiếng lừng lẫy một vùng, rợ Hung Nô không dám bén mảng đến cửa ải. Thủy Hoàng mới phong thêm cho Ông Trọng làm Phụ tín hầu.

    Về sau, Ông Trọng cáo lão về nước nhà hưu dưỡng. Không được bao lâu, rợ Hung Nô thấy vắng Ông Trọng lại vào quấy nhiễu các sứ biên thùy, Thủy Hoàng nhớ đến Ông Trọng, sai người sang vời, thì bấy giờ người đã mất rồi.

    Sứ giả về tâu lại, Thủy Hoàng phàn nàn thương tiếc vô cùng, mới đúc tượng Ông Trọng bằng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư Mã cung Hàm Dương. Trong bụng để rỗng, có máy vặn cho chân tay động đậy được. Thường khi sai vài chục người chui vào trong tượng đồng vặn máy cho rung động, người rợ Hung Nô qua lại, tưởng là Ông Trọng còn sống, không dám vào quấy nhiễu nữa.

    Đến đời nhà Đường, Triệu Xương sang làm Đô hộ nằm mơ thấy một người to tát cao lớn, đến chơi bàn giảng nghĩa sách Xuân Thu, Tả truyện. Hỏi tên họ thì nói là Lý Ông Trọng ở làng Thụy Hương. Triệu Xương tỉnh dậy ngày mai hỏi thăm đến chơi tận làng ấy, tra hỏi sự tích, rồi lập miếu ngay tại khu nhà cũ ông ấy để thờ. Khi sau Cao Biền sang đánh nước Nam Chiếu, Ông Trọng hiển linh giúp Cao Biền phá giặc thành công. Cao Biền mới sai sửa sang lại đình đài, tạc gỗ tô tượng, gọi là đền “Lý hiệu úy”.

    Từ bấy giờ trở đi, thường linh ứng lắm, dân xã có việc gì cầu đảo đến cũng nghiệm. Lịch triều cũng phong tặng làm Linh ứng thượng đẳng thần. Vì ở làng Chèm cho nên tục gọi là Thánh Chèm.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Ngao_0p
    Chế rượu
    Chế rượu
    avatar

    Tổng số bài gửi : 1056
    Points : 1144
    Thanks : 17
    Join date : 05/11/2011

    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   Fri Aug 10, 2012 2:37 pm

    Nam Hải Dị Nhân
    - Phan Kế Bính -

    CHƯƠNG THỨ IV: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    TÔ LỊCH GIANG THẦN



    Hình minh họa; nguồn internet
    Khi xưa có người tên là Tô Lịch, làm quan Lịch ở huyện Long Đỗ, nhà ở cạnh con sông nhỏ. Nhà ấy ba đời nhân nhượng ở chung với nhau, được cất lên đỗ khoa Hiếu liêm, và được vinh hiển cả nhà, vì thế ở làng đặt là làng Tô Lịch.

    Đến thời vua Mục Tôn nhà Đường, Lý Nguyên Gia sang làm Đô hộ, lập dinh phủ ở trong thành Long Biên. Nguyên Gia thấy cửa bắc thành ấy, có con sông chảy ngược, sợ người ta sinh ra bụng làm phản, muốn cắm phủ chỗ khác, mà đắp ra thành La Thành.

    Khi sắp xây thành, lập dinh ở cạnh sông Tô Lịch, rót rượu dâng khấn, xin ông Tô Lịch làm thành hoàng ở thành ấy.

    Đêm nằm mơ thấy thần bảo rằng:

    - Sứ quân sai tôi làm chủ thành này, ví dù tôi dạy dỗ được dân, để cho biết giữ đạo trung hiếu, thì phải lập miếu mà thờ tôi.

    Nguyên Gia xin vâng lời. Từ đấy dân gian an nghiệp, không ai sinh ra bụng phản nghịch. Nguyên Gia mới đắp ra thành nhỏ để ở, và lập miếu để thờ Tô Lịch.

    Khi Nguyên Gia mới đắp thành có thầy tướng bảo rằng:

    - Tôi xem tướng ông không đắp nổi thành to đâu, sau năm mươi năm nữa, tất có một người họ Cao, đóng đô lập phủ ở đây, mới đắp nổi được.

    Đến thời vua Ý Tôn nhà Đường, nước Nam Chiếu làm phản, vua Đường sai Cao Biền làm Tiết độ sứ. Cao Biền nhân thế giữ phủ Giao Châu, tự xưng là Cao Vương.

    Cao Biền thông hiểu thiên văn, địa lý, xem xét hình thế, nhân chỗ thành nhỏ của Nguyên Gia, đắp rộng thêm ra gọi là Đại La thành, chu vi 8.000 bộ.

    Mé bắc thành ấy có con sông, tự sông Lư (sông Cái) chảy vào mé tây bắc, rồi chảy xuống phía nam, vòng quanh La Thành, rồi lại đổ vào sông Cái. Mỗi năm đến tháng sáu mùa mưa nước sông tràn lên mông mênh. Có một khi Cao Biền ngồi thuyền chơi trong sông, bỗng thấy một ông cụ già, đầu bạc phơ phơ, râu mày trắng xóa hình dung kỳ dị, đang bơi tắm ở trong sông, cười nói vui vẻ lắm. Biền lấy làm lạ, hỏi tên họ, thì nói là họ Tô tên Lịch, hỏi chỗ ở thì nói là ở trong sông. Nói đoạn, vỗ tay cười ầm cả lên, rồi tự nhiên trời đất tối sầm, ông cụ ấy biến mất.

    Cao Biền biết là thần, nhân thế gọi sông ấy là sông Tô Lịch.

    Lại một buổi sớm, Cao Biền đứng ở cửa đông nam La Thành, trông ra sông Tô Lịch, thấy trong sông nổi cơn gió to sóng đánh bồn cồn, mây kéo mù mịt; rồi có một người dị dạng, đứng trên mặt nước, cao hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ đỏ, tay cầm một cái hốt[1] vàng, có bóng thấp thoáng như mây phủ, mãi đến lúc mặt trời mọc cao ba trượng mà chưa tan. Cao Biền lấy làm lạ, muốn dùng thuật trấn áp, đêm hôm ấy, chiêm bao thấy ông thần bảo rằng: “Ta là tinh đất Long Đỗ, thần linh xứ này, ở đây đã lâu. Nay thấy người đến đây, cho nên ta mừng mà hiện ra, can gì phải trấn áp ta?”. Biền tỉnh dậy sợ hãi, lập tức đặt đàn cúng cấp, rồi dùng những vàng bạc đồng sắt làm bùa, cúng ba đêm ngày, rồi mới chôn bùa để yểm.

    Đêm hôm ấy mưa gió sấm sét, có tiếng quỉ thần hò hét quát tháo kinh thiên động địa. Một lát, những bùa vàng, bạc, đồng, sắt bật cả lên trên mặt đất, tan ra như gió, rồi bay tản vào trong không khí mất cả.

    Cao Biền lấy làm lạ lắm, than rằng:

    - Ở xứ này có thần thiêng như thế ta nên về Tàu, chớ có ở đây mà sinh vạ về sau.

    Tự đấy, Cao Biền có ý muốn về, mới tôn thần Tô Lịch làm Đô phủ thành hoàng thần quân.

    Đến thời vua Thái Tổ nhà Lý, thiên đô lên thành Thăng Long. Thần Tô Lịch có thác mộng vào lạy mừng. Vua lấy làm lạ, hỏi họ tên, thì cũng nói rõ họ tên là thế. Vua lại hỏi rằng: “Thần có giúp cho trẫm giữ mãi cơ nghiệp trăm nghìn năm không?”. Thần thưa rằng: “Xin bệ hạ hưởng phúc nghìn muôn năm, thì tôi cũng được hưởng trăm năm hương hoả”. Vua tỉnh dậy, ngày mai sai sứ đến tế ở đền ấy, tôn làm Đô quốc thành hoàng đại vương. Đến thời nhà Trần, lại phong “Bảo quốc định bang đại vương”. Đền thờ ở làng Đông Tác, huyện Thọ Xương (Bây giờ thuộc về thành phố Hà Nội).


    1: Hốt là tấm thẻ các quan cầm theo lúc đi chầu vua (BT).
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Sponsored content




    Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân   

    Về Đầu Trang Go down
     
    Nam Hải Dị Nhân
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
     :: Tư liệu :: Văn học-
    Chuyển đến