Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

September 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Bùi Giáng
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords

Share | 
 

 Mạc Đĩnh Chi

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Mạc Đĩnh Chi    Thu Aug 30, 2012 3:49 pm

Mạc Đĩnh Chi
( 1280 - 1346)



Tượng thờ Mạc Đĩnh Chi ở Trạng nguyên cổ đường
(Huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương)
Mạc Đĩnh Chi ( 莫挺之; có tư liệu ghi năm sinh của ông là: 1284-1361) tự Tiết Phu (節夫), làm quan đời Trần Anh Tông. Ông vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm lưỡng quốc trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa.

Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí nhưng trí tuệ thông minh.

Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, triều đình mở khoa thi lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu, chiếm học vị trạng nguyên. Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố của nhà vua, rồi chức Tả bộc xạ (Thượng thư)... Đặc biệt hai lần đi sứ Trung Quốc, ông đã dùng tài năng và phẩm chất thông minh của mình khiến người nước ngoài phải khâm phục.

Về sau ông được cháu 7 đời là Mạc Đăng Dung truy tôn là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế.

Tác phẩm:

Hiện còn một bài phú, 4 bài thơ. Các sách Kiến văn tiểu lục. Công dư tiệp ký còn chép ông có một bài biểu tạ (trong Quốc triều chương biểu tập), một bài văn bia dựng ở mộ Bùi Mộc Đạc, nhan đề Bùi Công Mộc Đạc thần đạo bi ký, nhưng 2 tác phẩm này đến nay chưa tìm thấy.

Ngoài ra, Thiền long bản hạnh có chép bài Giáo tử phú bằng chữ Nôm, cũng ghi là công của ông , và Đại Việt sử ký toàn thư chép bài Phiến minh. Tuy chưa thể kết luận dứt khoát ai là tác giả đích thực của những tác phẩm này, nhưng để giữ lại những tài liệu văn học có phần chắc là xuất hiện rất sớm trong lịch sử, theo tập truyền, các nhà nghiên cứu vẫn đặt chúng vào phần sáng tác của Mạc Đĩnh Chi.

Xem thêm truyện Mạc Đĩnh Chi ở đây
Nguồn: internet

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Thu Aug 30, 2012 4:03 pm

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Thu Aug 30, 2012 4:49 pm

Giáo Tử Phú

Bản chữ Hán


Các bản dịch thơ

Phú dạy con

Nhất thiết thăng trầm,
Mệnh sinh ngũ dục;
Nghiệp nặng nhiều ngày,
Sinh loài ngũ trọc.
Vì lòng vì dạ,
Thương cái thương con;
Chịu khó đêm ngày,
Cưu mang đùm bọc.
Hôm mai lặn mọc,
Đã Bắc thì Nam;
Làm cửa làm nhà,
Tranh hơn tranh thiệt.
Năm năm cày cục,
Tham sắc tham tài;
Xóc xóc lòng lo,
Chơi bời tửu sắc.
Tiếng đồn lừng lẫy,
Tham những vinh hoa;
Anh ả nuôi tôi,
Khoe ăn khoe mặc.
Tranh nhân tranh ngã,
Khôn khéo hơn người;
Đường phúc đường nhân,
Chưa làm một chút.
Danh cao chưng thế,
Chưa được bao chầy;
Một phút mình nay,
Vô thường thôi thúc.
Bắc Nam mồ quạnh,
Eo éo cỏ xanh;
Hoàng nhưỡng thâu đêm,
Người kêu người khóc.

Diêm vương đôi hỏi,
Lành dữ cho hay;
Hắc ám mịt mùng,
Người ta lúc nhúc.
Đứa thì cưa xẻ,
Phân mình làm hai;
Đứa thì trói lưng,
Thương thay vỉ khóc.
Nước đồng bắt uống,
Một ngày trăm phen;
Cháy nát tan tành,
Lòng thương bức tức.
Đao sơn vạn nhẫn,
Ngục tốt vây quanh;
Kiếm thu thiên trùng,
Ngưu đầu xuyên xóc.
Hỏa lò rỡ rỡ,
Lửa cháy hào quang;
Nấu nướng người ta,
Tan xương nát óc.
Hàn băng hắt hắt,
Giá lạnh căm căm;
Gieo xuống một khi,
Hồn xiêu phách lạc.
Chó đồng miệng sủa,
Ra những hỏa yên;
Chạy rảo đòi phen,
Tội nhân xác lác.
Thiết lư thiết mã,
Thiết thú thiết ưng;
Mổ cắn người ta,
Xương bày ngan ngác.
Hoàng tuyền khi ấy,
Tiếng khóc rinh rinh;
Chốn vỉ chốn kêu,
Thâu đêm nhao nhác.
Mình vàng vóc ngọc,
Đã chết lạ sinh;
Ngục tối đứng bày,
Đã đầy ngạt ngạt.
Nghiệp phong thổi đến,
Xẩy lại nên người;
Lúc lắc một khi,
Lạ xuyên lại xóc.
Muôn nghìn địa ngục.
Thây chết trùng trùng;
Đứa vả đứa kêu,
Người lo người khóc.
Dương gian ngỡ dễ,
Lấy chết làm chơi;
Ngục tốt tiếng hầm,
Tội nhân lơ lác.
Mình nằm địa ngục,
Vò võ đêm ngày;
Một mình khó thay,
Chịu thương chịu bức.
Chị em chẳng thấy,
Con cái hay sao;
Mình khó mình thương,
Ai coi ai sóc.
Thuở người chưng thế,
Chưa được bao chầy;
Đến chết bằng nay,
người thui người đốt.
Mệnh sang mệnh khó,
Tiếng khóc ngập ngừng;
Thán trách than rằng:
Chẳng hay làm phúc.
Bao nhiêu của tốt,
Con cái chia nhau;
Địa ngục tù lao,
một mình chịu chết.
Ruộng nương nhiều ít,
Đành để cho con;
Tư tiến trai đàn,
Minh dương thủy lục.
Tranh nhau hơn thiệt,
Kẻ ít kẻ nhiều;
Cả cỗ người ăn,
Hề chi đến bụt.
Lòng chăng có thảo,
Phô tiếng phô danh;
Tranh ngã tranh nhân,
Chẳng lành một chút.
Phô danh chép miệng,
Chẳng kẻo lỗi nào;
Địa ngục tù lao,
Cúi đầu chịu chết.
Danh cao chưng thế,
Đồn những sang giàu;
Gặp chốn âu sầu,
Ai vì quan chức.
Cho hay là vậy,
Thí ruộng thí nương;
Làm bụt làm chùa,
Tu nhân nhẫn nhục.
Rẻ đường làm phúc,
Tham những vinh hoa;
Chết xuống Diêm-la,
Mình sa địa ngục.
Đến bằng khi ấy,
Chỉn khá là thương,
Lạc phải điều hình,
Ruột phân chín khúc.
Ai đà đến đấy,
Mới biết nguồn cơn;
Vò võ đêm sầu,
Vo ve tiếng khóc.
Luân hồi muôn kiếp,
Chưa lại nên người;
Âm phủ dương gian,
Tử sinh thôi thúc.
Cha đà đến đấy,
Biết được lòng thương;
Bảo chúng con hay,
Ở thì làm phúc.
Lâm chung số hết,
Cho kẻo luân hồi;
Niệm bụt ăn chay,
Diêm vương mới phục.
Dầu phàm dầu thánh,
Miễn được an nhàn;
Trọng pháp kính thầy,
Thí bần tác phúc.
Cơm ăn phải bữa,
Ai đói thì cho;
Bớt miệng xui lòng,
Mỗi người một chút.
Kim cương thường đọc,
Bố thí làm duyên;
Nghiệp dữ thì chừa,
Lành thì tua cốc.
Phô người quân tử,
Mở miệng trái tai;
Hễ kẻ tiểu nhân,
Cưu lòng độc ác.
Ai ai tham lợi,
Phú quý nhiều bề;
Cắp một tay không,
Thấy đâu tiền bạc.
Chớ còn lo lắng,
Làm hại khốn dân;
Sá cốc tu thân,
Học đòi ông Mạc.
Kẻ vào tù rạc,
Những kẻ ngoan hung;
Người ở thiên cung,
những người hiền thảo.
Lòng thương dạy bảo,
Thu dữ về lành,
Học đạo tu hành,
Ăn chay thủ giới.
Thịnh suy bĩ thái,
Nào được bao lâu,
Nhiều rể nhiều dâu,
Nhiều oan gia nữa.
Khôn khéo hơn người;
Đường phúc đường nhân,
Chưa làm một chút.
Danh cao chưng thế,
Chưa được bao chầy;
Một phút mình nay,
Vô thường thôi thúc.
Bắc Nam mồ quạnh,
Eo éo cỏ xanh;
Hoàng nhưỡng thâu đêm,
Người kêu người khóc.

Diêm vương đôi hỏi,
Lành dữ cho hay;
Hắc ám mịt mùng,
Người ta lúc nhúc.
Đứa thì cưa xẻ,
Phân mình làm hai;
Đứa thì trói lưng,
Thương thay vỉ khóc.
Nước đồng bắt uống,
Một ngày trăm phen;
Cháy nát tan tành,
Lòng thương bức tức.
Đao sơn vạn nhẫn,
Ngục tốt vây quanh;
Kiếm thu thiên trùng,
Ngưu đầu xuyên xóc.
Hỏa lò rỡ rỡ,
Lửa cháy hào quang;
Nấu nướng người ta,
Tan xương nát óc.
Hàn băng hắt hắt,
Giá lạnh căm căm;
Gieo xuống một khi,
Hồn xiêu phách lạc.
Chó đồng miệng sủa,
Ra những hỏa yên;
Chạy rảo đòi phen,
Tội nhân xác lác.
Thiết lư thiết mã,
Thiết thú thiết ưng;
Mổ cắn người ta,
Xương bày ngan ngác.
Hoàng tuyền khi ấy,
Tiếng khóc rinh rinh;
Chốn vỉ chốn kêu,
Thâu đêm nhao nhác.
Mình vàng vóc ngọc,
Đã chết lạ sinh;
Ngục tối đứng bày,
Đã đầy ngạt ngạt.
Nghiệp phong thổi đến,
Xẩy lại nên người;
Lúc lắc một khi,
Lạ xuyên lại xóc.
Muôn nghìn địa ngục.
Thây chết trùng trùng;
Đứa vả đứa kêu,
Người lo người khóc.
Dương gian ngỡ dễ,
Lấy chết làm chơi;
Ngục tốt tiếng hầm,
Tội nhân lơ lác.
Mình nằm địa ngục,
Vò võ đêm ngày;
Một mình khó thay,
Chịu thương chịu bức.
Chị em chẳng thấy,
Con cái hay sao;
Mình khó mình thương,
Ai coi ai sóc.
Thuở người chưng thế,
Chưa được bao chầy;
Đến chết bằng nay,
người thui người đốt.
Mệnh sang mệnh khó,
Tiếng khóc ngập ngừng;
Thán trách than rằng:
Chẳng hay làm phúc.
Bao nhiêu của tốt,
Con cái chia nhau;
Địa ngục tù lao,
một mình chịu chết.
Ruộng nương nhiều ít,
Đành để cho con;
Tư tiến trai đàn,
Minh dương thủy lục.
Tranh nhau hơn thiệt,
Kẻ ít kẻ nhiều;
Cả cỗ người ăn,
Hề chi đến bụt.
Lòng chăng có thảo,
Phô tiếng phô danh;
Tranh ngã tranh nhân,
Chẳng lành một chút.
Phô danh chép miệng,
Chẳng kẻo lỗi nào;
Địa ngục tù lao,
Cúi đầu chịu chết.
Danh cao chưng thế,
Đồn những sang giàu;
Gặp chốn âu sầu,
Ai vì quan chức.
Cho hay là vậy,
Thí ruộng thí nương;
Làm bụt làm chùa,
Tu nhân nhẫn nhục.
Rẻ đường làm phúc,
Tham những vinh hoa;
Chết xuống Diêm-la,
Mình sa địa ngục.
Đến bằng khi ấy,
Chỉn khá là thương,
Lạc phải điều hình,
Ruột phân chín khúc.
Ai đà đến đấy,
Mới biết nguồn cơn;
Vò võ đêm sầu,
Vo ve tiếng khóc.
Luân hồi muôn kiếp,
Chưa lại nên người;
Âm phủ dương gian,
Tử sinh thôi thúc.
Cha đà đến đấy,
Biết được lòng thương;
Bảo chúng con hay,
Ở thì làm phúc.
Lâm chung số hết,
Cho kẻo luân hồi;
Niệm bụt ăn chay,
Diêm vương mới phục.
Dầu phàm dầu thánh,
Miễn được an nhàn;
Trọng pháp kính thầy,
Thí bần tác phúc.
Cơm ăn phải bữa,
Ai đói thì cho;
Bớt miệng xui lòng,
Mỗi người một chút.
Kim cương thường đọc,
Bố thí làm duyên;
Nghiệp dữ thì chừa,
Lành thì tua cốc.
Phô người quân tử,
Mở miệng trái tai;
Hễ kẻ tiểu nhân,
Cưu lòng độc ác.
Ai ai tham lợi,
Phú quý nhiều bề;
Cắp một tay không,
Thấy đâu tiền bạc.
Chớ còn lo lắng,
Làm hại khốn dân;
Sá cốc tu thân,
Học đòi ông Mạc.
Kẻ vào tù rạc,
Những kẻ ngoan hung;
Người ở thiên cung,
những người hiền thảo.
Lòng thương dạy bảo,
Thu dữ về lành,
Học đạo tu hành,
Ăn chay thủ giới.
Thịnh suy bĩ thái,
Nào được bao lâu,
Nhiều rể nhiều dâu,
Nhiều oan gia nữa.
Nhiều con nhiều vợ,
Phiền não buộc ta;
Tán cả ngựa cao,
Ta xem bằng giặc.
Anh em nội ngoại,
Ân ái mẹ cha;
Để lễ xuất gia,
Báo ơn mới được.
Hễ đường bạo ngược,
Sát, đạo, tà dâm;
Tội nặng muôn năm,
Phải chừa phải bớt.
Đội ơn trời đất,
Cha mẹ sinh thành;
Cho gấp chớ chầy,
Tu hành làm bụt.


Bản dịch: Đào Duy Anh - Huệ Chi

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Thu Aug 30, 2012 4:56 pm

Hỷ Tình

Bản chữ Hán

喜晴

好景明人眼,
江山正豁然。
煙籠初出日,
波漾嫩晴天。
岸柳垂金節,
汀花樸畫船。
淒涼寬旅思,
和暖喜新年。
Phiên âm Hán Việt

Hỷ tình

Hảo cảnh minh nhân nhãn,
Giang sơn chính khoát nhiên.
Yên lung sơ xuất nhật,
Ba dạng nộn tình thiên.
Ngạn liễu thùy kim tiết,
Đinh hoa phác họa thuyền.
Thê lương khoan lữ tứ,
Hòa noãn hỷ tân niên.
Dịch nghĩa

Mừng trời tạnh

Cảnh đẹp sáng mắt người,
Non sông đang lúc quang đãng.
Khói lồng vầng mặt trăng mới lên,
Sóng dợn giữa bầu trời tươi non.
Liễu trên bờ rủ cờ tiết vàng,
Hoa giữa bãi phất vào con thuyền chạm vẽ.
Lạnh lẽo làm giăng trải nỗi niềm lữ khách,
Ấm áp, mừng năm mới.


Các bản dịch thơ

Mừng trời tạnh

Cảnh đẹp bừng con mắt,
Non sông lúc sáng choang.
Khói lồng vầng nhật ló,
Sóng dợn sắc trời quang.
Hoa vướng mui thuyền chạm,
Liễu buông giải cờ vàng.
Lạnh lùng, se nỗi khách,
Ấm áp, ngợi xuân sang.



Bản dịch: Nguyễn Đổng Chi
(Việt Nam cổ văn học sử, Quyển II)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Fri Aug 31, 2012 8:51 am

Ngọc Tỉnh Liên Phú

Bản chữ Hán

玉井蓮賦

客有:
隱几高齋,夏日正午。
臨碧水之清池,詠芙蓉之樂府。

忽有人焉:
野其服,黃其冠。
迥出塵之仙骨,凜辟穀之臞顏。
問之何來,曰從華山。
迺授之几,迺使之坐。
破東陵之瓜,薦瑤池之果,
載言之琅,載笑之瑳。

既而目客曰:
子非愛蓮之君子耶!
我有異種,藏之袖間。
非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。
非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。
非陶令東籬之菊,非靈均九畹之蘭。
乃泰華山頭玉井之蓮。

客曰:
異哉!豈所謂藕如船兮花十丈,冷如霜兮甘比蜜者耶!
昔聞其名,今得其實。
道士欣然,乃袖中出。
客一見之,心中鬱鬱。
乃拂十樣之牋,泚五色之筆。

以而歌曰:
架水晶兮為宮,
鑿琉璃兮為戶。
碎玻璃兮為泥,
洒明珠兮為露,
香馥郁兮層霄,
帝聞風兮女慕。
桂子冷兮無香,
素娥紛兮女妒。
採瑤草兮芳州,
望美人兮湘浦。
蹇何為兮中流,
盍將返兮故宇。
豈護落兮無容,
嘆嬋娟兮多誤。
苟予柄之不阿,
果何傷兮風雨。
恐芳紅兮搖落,
美人來兮歲暮。

道士聞而嘆曰:
子何為哀且怨也!
讀不見鳳凰池上之紫薇,白玉堂前之紅藥!
敻地位之清高,藹聲名之昭灼。
彼皆見貴於聖明之朝,子獨何之乎騷人之國!

於是有感其言,起敬起慕。
哦誠齋亭上之詩,庚昌黎峰頭之句。
叫閶闔以披心,敬獻玉井蓮之賦。
Phiên âm Hán Việt

Ngọc tỉnh liên phú

Khách hữu:
Ẩn kỷ cao trai, hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì, vịnh phù dung chi Nhạc phủ.

Hốt hữu nhân yên:
Dã kỳ phục, hoàng kỳ quan.
Huýnh xuất trần chi tiên cốt, lẫm tích cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết tòng Hoa San.
Nãi thụ chi kỷ, nãi sử chi toạ.
Phá Đông Lăng chi qua, trãi Dao Trì chi quả,
Tái ngôn chi lang, tái tiếu chi tha.

Ký nhi mục khách viết:
Tử phi ái liên chi quân tử gia!
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc, phi Linh quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái Hoa san đầu ngọc tỉnh chi liên.

Khách viết:
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng, lãnh như sương hề cam tỷ mật giả gia!
Tích văn kỳ danh, kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, thử ngũ sắc chi bút.

Dĩ nhi ca viết:
Giá thuỷ tinh hề vi cung,
Tạc lưu ly hề vi hộ.
Toái pha ly hề vi nê,
Sái minh châu hề vi lộ,
Hương phức uất hề tằng tiêu,
Đế văn phong hề nữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương,
Tố Nga phân hề nữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu,
Vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu,
Hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thiền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Khủng phương hồng hề dao lạc,
Mỹ nhân lai hề tuế mộ.

Đạo sĩ văn nhi thán viết:
Tử hà vi ai thả oán dã.
Độc bất kiến Phượng Hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược!
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc!

Ư thị hữu cảm kỳ ngôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến "Ngọc tỉnh liên" chi phú.
Dịch nghĩa

Phú hoa sen giếng ngọc

Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghế; trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung.
Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi: "Ở đâu lại?" Rằng "Từ Họa-san".
Bàn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông-lăng đem cắt; quả Dao-trì đem mời.
Bèn sang sảng nói; bèn ha hả cười.
Đoạn rồi trông khách mà rằng:
"Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?.
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc côi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào tày.
Giậu đào lệnh cúc sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái-họa đây".
Khách rằng :
"Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật" đó ư?
Trước vẫn nghe tiếng; nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Giấy mười thức xếp sẵn ; bút năm sắc thấm ngay.
Làm bài ca rằng :
"Thủy tinh gác để làm cung,
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li.
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây.
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố Nga lại nổi ghen tuông bời bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi.
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài,
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay,
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường.
Sợ khi lạt thắm phai hương,
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân"
Đạo sĩ nghe mà than rằng:
"Sao anh lạ ai oán như thế?
Anh không thấy; hoa tử vi trên ao Phượng-hoàng,
Hoa hồng dược trước thềm Ngọc-đường đó sao?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý; cõi tao nhân anh đi mãi sao đang?"
Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính mộ.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai;
Họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng,
Kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên phú".



Bản dịch: Phan Võ
(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập 2)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Fri Aug 31, 2012 9:30 am

Phiến Minh

Bản chữ Hán

扇銘

流金鑠石,天地為爐,尒於斯時兮,伊周巨儒;

北風其涼,雨雪載途,尒於斯時兮,夷齊餓 孵。

噫!用之則行,舍之則藏,唯我與爾有如是夫!
Phiên âm Hán Việt

Phiến minh

Lưu kim thước thạch, thiên địa vị lô, nhĩ ư tư thời hề, Y Chu cự nho.

Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề, Di Tề ngã phu.

Y! Dụng chi tắc thành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù!
Dịch nghĩa

Bài minh đề quạt


Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, người trong lúc ấy, ngang hàng Y Chu;

Gió bấc lạnh lùng, mưa tuyết mịt mù, người trong lúc ấy, Di Tề đói xo.

Ôi! Dùng thì làm việc, bỏ thì nằm co, chỉ ta với ngươi là như thế ru.



Bản dịch: Cao Huy Giu
(Bản dịch Đại Việt Sử ký toàn toàn thư)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Fri Aug 31, 2012 9:40 am

Quá Bành Trạch Phỏng Đào Tiềm Cựu Cư

Bản chữ Hán

過彭澤訪陶潛舊居

自性本閒曠,
初不比碌碌。
斗米肯折腰,
解印寧辭祿。
扶疏五株柳,
冷澹一離菊。
寥寥千載後,
清名吾可服。
Phiên âm Hán Việt

Quá Bành Trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư

Tự tính bản nhàn khoáng,
Sơ bất tỷ lục lục.
Đẩu mể khẳng chiết yêu,
Giải ấn ninh từ lộc.
Phù sơ ngũ chu liễu,
Lãnh đạm nhất ly cúc,
Liêu liêu thiên tải hậu,
Thanh danh ngô khả phục.
Dịch nghĩa

Qua Bành Trạch thăm nơi ở cũ của Đào Tiềm

Bản tính vốn nhàn tản phóng khoáng,
Từ đầu đã không gần được kẻ a dua.
Há vì đấu gạo mà phải khom lưng,
Cởi dây ấn, đành từ quan mà về.
Lưa thưa năm khóm liễu,
Lạnh nhạt một giậu cúc.
Mịt mờ nghìn năm sau,
Thanh danh còn khiến ta khâm phục.


Các bản dịch thơ

Qua Bành Trạch thăm nơi ở cũ của Đào Tiềm

Nhàn khoáng ấy tính trời,
So đâu kẻ đua đòi.
Gãy lưng vì đấu gạo,
Treo ấn bỏ quan thôi.
Đạm bạc, cúc một giậu,
Lưa thưa, liễu dăm chồi.
Nghìn năm sau mờ mịt.
Danh tiếng cảm đến tôi.

Bản dịch: Huệ Chi


Nhàn khoáng, chẳng a dua,
Tính trời vốn khác tục.
Vì thưng gạo gãy lưng,
Thà trả ấn từ lộc.
Thưa thớt dăm chồi liễu,
Lạnh lùng một giậu cúc.
Nghìn năm mờ mịt xa,
Danh tiếng khiến ta phục.

Bản dịch: Băng Thanh

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Fri Aug 31, 2012 9:45 am

Tảo Hành

Bản chữ Hán

早行

蝴蝶醒殘夢,
商郎聞櫂歌。
張帆開夙霧,
擺櫂破晴波。
水入九江闊,
山歸三楚多。
濂溪何處是?
我欲訪煙蘿。
Phiên âm Hán Việt

Tảo Hành

Hồ điệp tình tàn mộng,
Thương-lang văn trạo ca.
Trương phàm khai túc vụ,
Bãi trạo phá tình ba.
Thủy nhập Cửu-giang khoát,
Sơn quy Tam Sở đa.
Liêm-khê hà xứ thị?
Ngã dục phỏng yên la.
Dịch nghĩa

Đi sớm

Giấc bướm tỉnh, mộng vừa tàn,
Giữa dòng Thương-lang nghe tiếng hát chèo thuyền.
Giương buồm, mở đám sương mù dày đặc,
Khua chèo, rẽ làn sóng trong,
Nước chảy vào Cửu-giang, dòng thêm rộng,
Núi về đến Tam Sở, càng nhiều ngọn thêm,
Liêm-khê ở chốn nào nhỉ ?
Ta muốn viếng thăm nơi cỏ cây sương khói ấy.


Các bản dịch thơ

Đi sớm

Tỉnh mộng tàn giấc bướm
Thương Lang hát giữa dòng
Buồm giăng khua sương đặc
Chèo cạy quẫy sóng trong
Nước Cửu giang bát ngát
Non Tam Sở chập chồng
Liêm khê nơi nào nhỉ
Hỏi chốn khói cây lồng.


Bản dịch: Huệ Chi

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    Fri Aug 31, 2012 9:49 am

Vãn Cảnh

Bản chữ Hán

晚景

空翠浮煙色,
春藍發水紋。
墻烏啼落照,
野雁送歸雲。
漁火前灣見,
樵歌隔岸聞。
旅顏悲冷落,
借酒作微醺。
Phiên âm Hán Việt

Vãn cảnh

Không thuý phù yên sắc,
Xuân lam phát thuỷ văn.
Tường ô đề lạc chiếu,
Dã nhạn tống quy vân.
Ngư hoả tiền loan kiến,
Tiều ca cách ngạn văn.
Lữ nhan bi lãnh lạc,
Tá tửu tác vi huân.
Dịch nghĩa

Cảnh chiều

Sắc khói nổi giữa màu biếc của nền trời,
Sóng nước gợn giữa màu xanh của mùa xuân.
Quạ đầu tường kêu trong nắng chiều,
Nhạn ngoài đồng tiễn đám mây về.
Nhìn thấy lửa thuyền câu trước vũng,
Nghe tiếng ca người hái củi bên kia bờ sông.
Vẻ mặt lữ khách buồn ủ ê,
Mượn chén rượu để say chếnh choáng.


Các bản dịch thơ

Cảnh chiều


Khói bồng bềnh trời biếc,
Sóng gợn nước xuân xanh.
Quạ xế chiều kêu rộn,
Nhạn theo mây về nhanh.
Lửa chài, loe trước vũng,
Tiều hát, vẳng bên ghềnh.
Mặt khách buồn tê tái,
Mượn chén giải u tình.



Bản dịch: Huệ Chi

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Mạc Đĩnh Chi    

Về Đầu Trang Go down
 
Mạc Đĩnh Chi
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Thời Lý - Trần - Hồ (1009-1427)-
Chuyển đến