Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

July 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
nhất Phong Trọng dũng quang huyền bính thường miền Liên nguyễn Huynh

Share | 
 

 Ngọc Hân công chúa

Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Ngọc Hân công chúa   Wed Sep 26, 2012 4:41 pm

Ngọc Hân công chúa
(1770-1799)



Lê Ngọc Hân ( 黎玉忻), còn gọi Ngọc Hân công chúa hay Bắc Cung Hoàng hậu (北宮皇后) là công chúa nhà Hậu Lê và hoàng hậu nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam, vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Dân gian còn lưu truyền tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên.

Bà sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (1770) tại kinh thành Thăng Long [2]. Bà là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông. Mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, là người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn - Bắc Ninh (nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội), và là con gái trưởng của ông Nguyễn Đình Giai.

Tháng 5 năm 1786, tướng nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh". Diệt xong họ Trịnh, Nguyễn Huệ tới yết kiến vua Hiển Tông. Do sự mai mối của tướng Bắc Hà vào hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ. Khi đó bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ 33 tuổi.

Vài ngày sau vua cha Hiển Tông qua đời, thọ 70 tuổi. Lê Ngọc Hân nghĩ anh thân hơn cháu nên ủng hộ anh là Lê Duy Cận lên ngôi, nhưng bị tông tộc nhà Lê phản đối vì muốn lập hoàng thái tôn Lê Duy Kỳ - con của thái tử Duy Vĩ bị chúa Trịnh Sâm giết hại - lên ngôi. Do áp lực của tông tộc, Ngọc Hân phải nghe theo. Lê Duy Kỳ được lập, tức là vua Lê Chiêu Thống.

Ít lâu sau bà theo Nguyễn Huệ về Thuận Hóa.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng hậu.

Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Bà có 2 con với Nguyễn Huệ là công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và hoàng tử Nguyễn Quang Đức.

Năm 1792, Quang Trung hoàng đế đột ngột băng hà. Bà viết bài Tế vua Quang TrungAi Tư Vãn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số.

Về cái chết của bà có nhiều ý kiến khác nhau:

- Theo bài "Danh nhân Lê Ngọc Hân" của Chu Quang Trứ, Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4 tháng 12 năm 1799) thì mất, lúc đó mới 29 tuổi.

- Song theo Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng trong sách Các triều vua Việt Nam thì đang khi nội bộ triều Cảnh Thịnh lục đục và suy yếu, bà dẫn hai con đi trốn, đổi họ tên sống lẫn trong dân ở Quảng Nam. Không lâu sau bị phát hiện và bị bắt. Ngọc Hân phải uống thuốc độc tự vẫn, hai con bị thắt cổ chết. Khi ấy là năm Kỷ Mùi (1799).

- Ngoài ra sau này có người còn cho rằng bà được La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp bày cho kế thoát thân được vào Nam (dưới sự giúp đỡ của Ngô Văn Sở) dắt theo hai con bà và hoàng tử Quang Thùy (con lớn của Quang Trung và là anh của Quang Toản). Nhưng ý kiến này khó thuyết phục người nghe.

Nguồn: trích từ trang http://vi.wikipedia.org và một số trang khác.
Tác phẩm:


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Ngọc Hân công chúa   Wed Sep 26, 2012 4:54 pm

Ai tư vãn


1. Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo.
Trước thềm lan hoa héo ron ron!
Cầu Tiên[1] khói tỏa đỉnh non.
Xe rồng thăm thẳm bóng loan[2] rầu rầu!
5. Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao.
Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời
Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc.
10. Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước,
Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên.
15. Sang yêu muôn đợi ơn trên.
Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể,
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng non nước biến dời,
20. Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là!
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường còn dấu chưng thường,
Tùng thu[3] còn rậm mấy hàng xanh xanh.
25. Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế
Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi.
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong.
Những ao ước trập trùng tuổi bạc,
30. Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.
Nào hay sóng cạn bể vùi,
Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly.
Từ nắng hạ mưa thu trái tiết,
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
35. Xiết bao kinh sợ lo phiền!
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Ngán thay máy tạo bất bằng,
40. Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!
Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy?
Kể xum vầy đã mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu?
45. Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
Biết cậy ai giập nỗi bi thương.
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say.
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng.
50. Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu.
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!
Khi bóng trăng lá in lấp lánh.
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
55. Vội vàng dạo bước tới nơi.
Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa.
Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn.
Mặt rồng sao cách gián lâu nay.
Có ai chốn ấy về đây?
60. Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành!
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả.
Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương.
65. Nghe trước có đấng vương Thang, Võ[4]
Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao.
Mà nay áo vải cờ đào [5]
Giúp dân dựng nước biết bao công trình.
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,[6]
70. Công đức dầy, ngự vận càng lâu.
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa tưới khắp chín châu[7] đượm nhuần.
Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?
75. Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt!
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha,
80. Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở!
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong.
Quyết liều mong vẹn chữ tòng.
Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e.
85. Còn trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thâm chưa thoát được đi.
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo.
Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo,
90. Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân.
Theo xa thôi lại theo gần.
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh.
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao!
95. Mơ màng thêm mỗi khát khao,
Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai?
Xưa sao sớm hỏi, khuya bày,
100. Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ?
Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu?
Xưa sao gang tấc gần chầu.
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca.
105. Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh!
Nửa cung gẫy phím cầm lành.
Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ!
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc,
110. Tiếng tử qui thêm giục lòng thương.
Não người thay cảnh tiên hương!
Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây.
115. Đông rồi thì lại trông tây:
Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà.
Trông nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thời ngàn bạc màn sương!
Nọ trông trời đất bốn phương,
120. Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi!
Cậy ai có phép gì tới đó,
Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung;
Này gương là của Hán Cung.
Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày.
125. Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ!
Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu.
130. Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đang tuổi ấu sung,
Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ?
Gót lân chỉ[8] mấy hàng lẫm chẫm,
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!
135. U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!
Trong sáu viện ố đào, ủ liễu,
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê.
Long đong xa cách hương quê,
140. Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên!
Dưới bệ ngọc hàng uyên[9] vò võ.
Cất chân tay thương khó xiết chi!
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân.
145. Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi!
Càng trông càng một xa vời
Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi.
150. Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,
Cánh hải đường đã quyện giọt sương.
155. Trông chim càng dễ đoạn trường,
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
Phút giây bãi bể nương dâu,
160. Cuộc đời là thế biết hầu này sao?
Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau.
164. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.



Ngọc Hân Công chúa

1. Cầu Tiên: Nơi mộ giả của Quang Trung .
2. Xe rồng, bóng loan: chỉ Quang Trung và Ngọc Hân.
3. Tùng thu: Cây cối trồng ở mộ vua. Chỉ mồ mả vua chúa.
4. Thang Võ: Thành Thang (1763 - 1754 tr. C.N) nhà Thương diệt vua Kiệt nhà Hạ. Võ Vương (1122 - 1115 tr. C.N) nhà Châu diệt vua Trụ nhà Thương.
5. “Trẫm là người áo vải ở đất Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân, vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng ...cố ý quét sạch loạn lạc, cứu vớt dân trong vòng nước lửa ...” (bài chiếu lên ngôi Hoàng Đế của Quang Trung, do Ngô Thời Nhậm viết, bản dịch).
6. Nghiêu Thuấn: Đường Nghiêu (2357 - 2258 tr. C.N) và Ngu Thuấn (2255 - 2207 tr. CN), những vị minh quân.
7. Chín châu: xưa Trung Quốc chia làm chín châu: Ký Châu, Thanh Châu, Dương châu, Duyện Châu, Từ Châu, Kinh Châu, Dự Châu, Lương Châu, Ung Châu, chỉ khắp nước.
8. Lân chỉ: con vua.
9. Hàng uyên: các quan trong triều.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Ngọc Hân công chúa   Thu Sep 27, 2012 8:13 am

Văn tế vua Quang Trung


Than rằng:
Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh[1], ngoài muôn dặm vừa cùng trông vẻ thuỵ[2];
Một phút mây che vầng Thái Bạch[3], trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.

Tơ đứt tấc lòng ly biệt;
Châu sa giọt lệ cương thường.

Nhớ phen bến Nhị thuận buồm, hội bái việt chín châu lừng lẫy;
Vừa buổi cầu Ngân sẵn nhịp, đoàn ỷ la đôi nước rõ ràng.

Hôn cấu đã nên nghĩa cả;
Quan san bao quản dặm trường.

Nhờ lượng trên cũng muốn tôn Chu, tình thân hiếu đã ngăn chia đôi nước;
Song thế cả trót đà về Hán, hội hỗn đồng chi cách trở một phương ?

Lòng dẫu xót thấy cơn cách chính;
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.

Thành Xuân[4] theo ngọn long kỳ, đạo tề trị gần nghe tiếng ngọc;
Cung Hữu rạng mầu địch phất, tình ái ân muôn đội nhà vàng.

Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ;
Nề nếp xưa nhờ che chở trăm đường.

Ơn sâu nhuần gọi cỏ cây, chốn lăng tẩm chẳng phạm chồi du tử;
Lộc nặng thơm tho hương khói, nơi miếu đường nào khuyết lễ chưng thường.[5]

Mọi nỗi, mọi nhờ trọn vẹn;
Một điều, một được vẻ vang.

Phép hằng gìn hạc thược, tước thoa, buồng quế rạng khuôn Nội Tắc;
Điềm sớm ứng Chung Tư, Lân Chỉ, Phái Lam thêm diễn thiên hoàng.

Mảy chút chưa đền đức cả;
Gót đầu đều trọn ơn sang.

Đền Vị Ương bóng đuốc bừng bừng, lòng cần mẫn vừa khi dóng dả.
Miền Cực Lạc xe mây vùn vụt, duyên hảo cầu sao bỗng dở dang ?

Ôi!
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy sắt;
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ gương.

Tiệc vầy vui nhớ hãy rành rành, nhịp ca múa bỗng khuây chừng Thần Ngự.
Buổi chầu chực tưởng còn phảng phất, chuông điểm hồi sao vắng chốn Cảnh Dương[6].

Vấn vít bấy, bảy năm kết phát;
Đau đớn thay, trăm nỗi đoạn trường.

Hé nhà sương ngắm quyển cung châm[7], tiếng chi phất hãy mơ màng trên gối.
Nương hương nguyệt, ngẫm lời đình chỉ[8], bóng thuý hoa còn phấp phới bên tường.

Hang núi cũng phàn nàn đòi chốn;
Cỏ hoa đều sùi sụt mấy hàng!

Liều trâm ngọc mong theo chốn chân du[9], da tóc trăm thân nào có tiếc.
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương.

Tiếc thay!
Ngày thoi thắm thoắt;
Bóng khích vội vàng.

Thuyền ngự toạ đã ngang ghềnh Thái Thuỷ!
Bóng long xa thẳng trỏ lối tiên hương.

Nẻo hoàng tuyền xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng cơn biệt duệ.
Chén hoàng thuỷ kính dâng một lễ, xét soi xin thấu cõi minh dương.



Ngọc Hân Công chúa
(Theo Đông Thanh tạp chí số 05,1932)

1. Trung tinh: ngôi sao giữa trời, chỉ Vua Quang Trung.
2. Thụy: điềm lành.
3. Thái Bạch: vì sao chỉ nhà Vua.
4. Thành Xuân: Phú Xuân. Nơi Quang Trung xuất quân ra Bắc Hà.
5. Chưng thường: Chưng, lễ tế vào mùa Xuân. Thường, lễ tế vào mùa Thu.
6. Cảnh Dương: đền vua làm việc.
7. Quyển cung châm: sách dạy cung nữ.
8. Đình chỉ: lời vua dạy.
9. Chốn chân du: cõi chết, nơi vua Quang Trung về.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ngọc Hân công chúa   

Về Đầu Trang Go down
 
Ngọc Hân công chúa
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến