Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

November 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Lưu Linh
Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quách Tấn
Keywords
Phong bính huyền quang Xương Hạnh nguyễn nhất Pháp Huynh Khuyến Trần những thường Liên dũng miền Đường Chỉnh Trọng

Share | 
 

 Trần Danh Án

Go down 
Tác giảThông điệp
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 8:37 am

Trần Danh Án
(1754-1794)

Vài nét về tác giả:

Trần Danh Án (陳名案), hiệu: Liễu Am, Tản Ông là người làng Bảo Triệu, huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, có nhiều người làm quan lớn trong triều. Ông nội là Tiến sĩ Trần Phụ Dực, làm quan đến chức Tư huấn Quốc Tử Giám, tham gia soạn "Đại Việt sử ký tục biên". Bác ruột ông là Tiến sĩ Trần Danh Ninh và cha ông là Tiến sĩ Trần Danh Lâm (cùng đỗ Tiến sĩ năm 1731), cùng làm quan đồng triều và đều trải đến chức Thượng thư.

Trần Danh Án thông minh học giỏi. Năm Chiêu Thống thứ nhất (1787), ông thi đỗ Hoàng Giáp khoa khoa Đinh Mùi (khoa thi cuối cùng của triều Hậu Lê), được bổ chức quan. Tháng 12 năm đó, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm kéo quân ra Thăng Long, vua Lê nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh, bỏ kinh thành chạy lên Kinh Bắc.

Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), một trong ba thủ lĩnh phong trào Tây Sơn là Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, bắt giết tướng Nhậm. Trong khoảng thời gian ấy, Trần Danh Án và Lê Duy Đản được vua lê cử sang cầu cứu vua nhà Thanh (Trung Quốc). Sau đó, hơn 20 vạn quân Thanh rầm rộ kéo sang. Nhờ vậy, vua Lê giành lại được ngai vàng, phong cho Trần Danh Án là Tĩnh nạn công thần, tước Định Nhạc hầu.

Mùa xuân 1789, vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đại phá quân Thanh, vua Lê Chiêu Thống phải chạy sang Trung Quốc, còn Trần Danh Án thì lẻn trốn về quê nhà. Có lần triều Tây Sơn cho người mời ra cộng tác, nhưng ông đều tìm cách từ chối.

Năm 1793, vua Lê Chiêu Thống qua đời ở Trung Quốc. Nghe tin vua mất và mưu đồ phục quốc cũng tan tành, Trần Danh Án rất đau buồn, đến năm sau thì mất (1794). Lúc đó, ông mới 40 tuổi


Nguồn internet

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 8:38 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 8:51 am

Lạng Sơn cảm đề kỳ 1

Bản chữ Hán:

諒山感題其一

瑟瑟寒風送晩秋,
溪流何處又山頭。
人心可侍猶興漢,
天命應知未絕周。
暝草似含興廢恨,
流泉如歇別離愁。
江山似美無皆句,
行客何心寫勝遊。
Phiên âm Hán Việt

Lạng Sơn cảm đề kỳ 1

Sắt sắt hàn phong tống vãn thu,
Khê lưu hà xứ hựu sơn đầu.
Nhân tâm khả thị do hưng Hán,
Thiên mệnh ưng tri vị tuyệt Châu.
Mính thảo tự hàm hưng phế hận,
Lưu tuyền như yết biệt ly sầu.
Giang sơn tự mỹ vô giai cú,
Hành khách hà tâm tả thắng du.

Dịch thơ:

Lạng Sơn cảm đề kỳ 1

Hắt hiu gió lạnh tiễn tàn thu,
Khe nước quanh co, núi mịt mù.
Nếu được người còn theo với Hán,
Biết đâu trời cũng chửa quên Châu.
Cỏ um như ngậm hờn vong quốc,
Suối chảy nhường tuôn lệ biệt nhau.
Ðẹp mắt non sông, thơ chẳng đẹp,
Lòng nào còn nghĩ đến thơ đâu.


Người dịch: không rõ
(Nguồn: vhv.vn)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 8:54 am

Lạng Sơn cảm đề kỳ 2

Bản chữ Hán:

諒山感題其二

別時天語記丁寧,
社稷存亡係此行。
花草對人如訴怨,
江山似客不知名。
三千怔路烟嵐老,
一片孤忠日月明。
跋涉勤勞臣子職,
國家恩重故身輕。
Phiên âm Hán Việt

Lạng Sơn cảm đề kỳ 2

Biệt thời thiên ngữ ký đinh ninh,
Xã tắc tồn vong hệ thử hành.
Hoa thảo đối nhân như tố oán,
Giang sơn tự khách bất tri danh.
Tam thiên chinh lộ yên lam lão,
Nhất phiến cô trung nhật nguyệt minh.
Bạt thiệp cần lao thần tử chức,
Quốc gia ân trọng cố thân kinh.

Dịch thơ:

Lạng Sơn cảm đề kỳ 2

Lời vua lúc biệt vẳng đâu đây,
Xã tắc tồn vong ở chuyến này.
Hoa cỏ thấy người sa giọt lệ,
Non sông tựa khách biết tên ai?
Ba ngàn đường núi sương mây lấp,
Một tấm lòng trung nhật nguyệt soi.
Thần tử sá chi điều vất vả,
Nhẹ coi thân thế, nghĩ ơn đầy...


Người dịch: không rõ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:00 am

Ngôn chí [1]

Phiên âm Hán Việt

Ngôn chí

Nhân chi dữ vật bất đồng quần
Phong nghĩ tuy vị thượng hữu quân
Huống thị thiếu niên tằng bội phục
Kiêm tri tráng tuế dĩ quan thân
Bắc song xử sĩ[2] do tư Tấn
Đông hải tiên sinh[3] bất đế Tần
Tử hậu mộ bàng nhân chỉ điểm
Lê Triều tiến sĩ tính danh Trần

Dịch thơ:

Tỏ chí mình

Kiến ong còn biết nghĩa quân thần
Há lẽ làm người chẳng nhớ ân
Huống đã tập rèn khuôn lễ giáo
Lại từng rạng rỡ vẻ đai cân
Bắc song xử sĩ khôn quên Tấn
Đông hải tiên sinh khó nhận Tần
Bên mộ, người sau còn nhắc nhở
"Lê Triều tiến sĩ, nguyên họ Trần!"


Người dịch: không rõ
(Nguồn: vhv.vn)

1. Vua Quang Trung bảo Ngô Thời Nhiệm viết thư triệu Trần Danh Án. Ông đáp lại, từ chối, sau bị bắt giam lỏng ở Thăng Long, cũng không đổi chí, hàng ngày làm thơ thoá mạ Tây Sơn: "Thử sinh tuy nhuận sài lang vẫn, Túng tử nan vị cẩu trệ tâm".
Danh lợi, uy vũ đều không làm cho Trần Danh Án sợ hãi hay thoái chí. Nhưng rồi người ta cũng nể ông là bậc sĩ phu, có tiết tháo nên để cho ông sống cuộc đời nhàn tản, không ai phiền luỵ đến. Tới khi Tây Sơn thua, vua Gia Long lên ngôi, có vời ông để phong chức nhưng ông không nhận. Gia Long ban cho một chiếc khăn, Trần lĩnh về, khoe với bạn về thái độ cương quyết của mình, và cao hứng làm bài thơ tỏ chí này.
2. Chỉ Đào Tiềm, người đời Tấn, từ quan về nằm nơi cửa sổ phía bắc để nhìn đời. Khi nhà Tấn mất về tay nhà Tống, Đào vẫn dùng niên hiệu của nhà Tấn, không thèm biết đến nhà Tống.
3. Chỉ Lỗ Trọng Liên, người nước Tề, qua chơi nước Triệu, gặp lúc Triệu đang bị Tần vây, cầu cứu với Nguỵ. Nguỵ khuyên Triệu nên hàng Tần. Lỗ nói: nếu như Lỗ này, thà nhảy xuống biển đông chứ không hàng Tần.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:09 am

Tây Sơn hành

Tam Uyển Trần Quang Đức
Bữa trước trong lúc dư nhàn, mỗ có tìm đọc cuốn Tản Ông di cảo (散翁遺稿 mang ký hiệu A.2157) của danh sĩ thời Lê là Trần Danh Án. Đọc đến bài Tây Sơn hành thì quả thật hãi hùng chi thậm. Ông này là tôi trung của nhà Lê, kiên quyết bất hợp tác với triều Tây Sơn, thủy chung coi Tây Sơn là giặc mọi, thậm chí tỏ thái độ thù hằn và phất uất khi vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Quang Trung Nguyễn Huệ. Nay đọc Tây Sơn hành mới càng thấy rõ điều đó. Có điều, từ ý tứ đến ngôn từ trong bài thơ này đều hết sức dâm bôn xằng bậy, càng ngẫm càng thẹn cho kẻ mũ cao áo dài. Xét tự cổ chí kim, văn chương nước nhà chưa có áng dâm thi nào đặng so sánh được. Nay xin tạm phiên âm dịch nghĩa ra đây, rồi sau xin các bậc thiện Nôm chi quân tử cùng diễn ra thơ quốc âm vậy. (Bài thơ này còn được chép trong cuốn Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432)


Bản chữ Hán:

西山行

時阮整引西山阮惠兵來京城,景興皇帝以玉欣公主下嫁阮惠,故有此作.
海宇承平二百年,深宮春色鎖嬋娟,嫣紅錦褥人眼獨淺翠花裀蝶夢纏,不是神仙無對偶,可堪芳景忽流連
紗窗寂寞梅酣雪,邃篽離披柳困煙,花事闌珊春已矣
殘英落絮總堪憐,鼕鼕何處城邊鼓,羯塵漫塞長安路
亟夏方旋振葉風,深春忽點催花雨,鬚眉無膽控危城
釵扇將身抵驕虜,天王姊婦上公妃,不比尋常花巷主
尊榮貴寵對天潢,奠聘奩儀優特數,雲水騶從翠綺羅
風流儐相紛紳冑,扇夫轎子儘非常,都人見者呼為父
人羡新郎如一口,妾見新郎墜雙手,衣裳熳爛語侏离
骨相崚嶒皮皺古,頂上高堆張角巾,腿間不著韓信褲
其中一物望巍然,直與四肢峙為五,靜似高僧兀坐忘
動如弁子歌身舞,不言不笑不溫存,大吼一聲烈如虎
千鈞飛蹲據酥胸,怒裂羅裙披雪股,此物誰知解刺人
頡頏插入溫柔戶,嬌花枝上狂鶯揉,狂鶯不為嬌花護
花膜重重裂繒聲,鉛爐片片飛煙縷,牙咬肉顫汗如油
亂搗胡抽做不住,須臾裙帶落新紅,暗點春籌翻幾度
妾身兩孔似連環,瞬息通成一大圈,捲襦點閱忽驚訝
頏摩不值半文錢,黑暗既非前度白,縈紆又改舊時圓
呼鬟拿甕尿一尿,尿水之聲如飛泉,飛泉瀲灧去不返
陽風打落桃花片,桃花嬌怯不勝風,風斂花魂猶覺倦
盈盈柳骨瘦三分,褶褶湘羅寬一半,底事雖然不殺人
暮雨朝雲安熟爛,自從奇苦得奇歡,歡後卻忘舊苦艱
不患漁翁揮棹澀,溶溶桃浪漲平灘,左掬右摸探花髓
鶯不停梭蹀不攔,玉癢香搔失害羞,上摟下扭圓團團
風情蕩漾花心急,恐放東君頃刻間,蠻人老實多高興
不會輕挑只會鑽,浮世青雲如過客,一生幾度托春眠
衾裯樂處無夷夏,痴徇空名誤玉顔,不見錦機脂粉隊
西兵去後幾人還,誰將此為語姊妹,嫁郎及早嫁西山

Phiên âm Hán Việt

Tây Sơn hành

Thời, Nguyễn Chỉnh dẫn Tây Sơn Nguyễn Huệ binh lai Kinh thành, Cảnh Hưng hoàng đế dĩ Ngọc Hân công chúa hạ giá Nguyễn Huệ, cố hữu thử tác.

Hải vũ thừa bình nhị bách niên, Thâm cung xuân sắc tỏa thuyền quyên
Yên hồng cẩm nhục nhân nhãn độc, Thiển thúy hoa nhân điệp mộng triền
Bất thị thần tiên vô đối ngẫu, Khả kham phương cảnh hốt lưu liên
Sa song tịch mịch mai hàm tuyết, Thúy ngự ly phi liễu khốn yên
Hoa sự lan san xuân dĩ hĩ, Tàn anh lạc nhứ tổng kham liên
Đông đông hà xứ thành biên cổ, Yết trần mạn tắc Trường An lộ
Cức hạ phương toàn chấn diệp phong, Thâm xuân hốt điểm thôi hoa vũ
Tu my vô đảm khống nguy thành, Thoa phiến tương thân để kiêu lỗ
Thiên vương tỉ phụ thượng công phi, Bất tỉ tầm thường hoa lộng chủ
Tôn vinh quý sủng đối thiên hoàng, Điện sính liêm nghi ưu đặc số
Vân thủy sô tùng thúy ỷ la, Phong lưu tấn tướng phân thân trụ
Phiến phu kiệu tử tận phi thường, Đô nhân kiến giả hô vi phụ
Nhân tiện tân lang như nhất khẩu, Thiếp kiến tân lãng trụy song thủ
Y thường mạn lạn ngữ thù ly, Cốt tướng lăng tằng bì trứu cổ
Đính thượng cao đôi Trương Giác cân, Thoái gian bất trước Hàn Tín khố
Kỳ trung nhất vật vọng nguy nhiên, Trực dữ tứ chi trì vi ngũ
Tĩnh tự cao tăng ngột tọa vong, Động như biền tử ca thân vũ
Bất ngôn bất tiếu bất ôn tồn, Đại hống nhất thanh liệt như hổ
Thiên quân phi tồn cứ tô hung, Nộ liệt la quần phi tuyết cổ
Thử vật thùy tri giải thích nhân, Hiệt hàng sáp nhập ôn nhu hộ
Kiều hoa chi thượng cuồng oanh nhu, Cuồng oanh bất vi kiều hoa hộ
Hoa mạc trùng trùng liệt tăng thanh, Diên lô phiến phiến phi yên lữ
Nha giảo nhục chiên hãn như du, Loạn đảo hồ trừu tố bất trụ
Tu du quần đới lạc tân hồng, Ám điểm xuân trù phiên kỉ độ
Thiếp thân lưỡng khổng tự liên hoàn, Thuấn tức thông thành nhất đại khuyên
Quyển nhu điểm duyệt hốt kinh ngạc, Hàng ma bất trị bán văn tiền
Hắc ám ký phi tiền độ bạch, Oanh vu hựu cải cựu thời viên
Hô hoàn nã úng niệu nhất niệu, Niệu thủy chi thanh như phi tuyền
Phi tuyền liễm diễm khứ bất phản, Dương phong đả lạc đào hoa phiến
Đào hoa kiều khiếp bất thắng phong, Phong liễm hoa hồn do giác quyện
Doanh doanh liễu cốt sấu tam phân, Triệp triệp tương la khoan nhất bán
Để sự tuy nhiên bất sát nhân, Mộ vũ triều vân an thục lạn
Tự tòng kì khổ đắc kì hoan, Hoan hậu khước vong cựu khổ gian
Bất hoạn ngư ông huy điệu sáp, Dung dung đào lãng trướng bình than
Tả cúc hữu mô thám hoa tủy, Oanh bất đình thoa điệp bất lan
Ngọc dạng hương tao thất hại tu, Thượng lâu hạ nữu viên đoàn đoàn
Phong tình đãng dạng hoa tâm cấp, Khủng phóng đông quân khoảnh khắc gian
Man nhân lão thực đa cao hứng, Bất hội khinh thiểu chỉ hội toàn
Phù thế thanh vân như quá khách, Nhất sinh kỉ độ thác xuân miên
Khâm trù lạc xứ vô di hạ, Si tuẫn không danh ngộ ngọc nhan
Bất kiến cẩm cơ chi phấn đội, Tây binh khứ hậu kỷ nhân hoàn
Thùy tương thử vị ngữ tỉ muội, Giá lang cập tảo giá Tây Sơn.


Dịch nghĩa:

Tây Sơn hành

Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn Nguyễn Huệ tới Kinh thành, Hoàng đế Cảnh Hưng gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, cho nên có bài thơ này.

Bờ cõi thanh bình đã hai trăm năm
Ở nơi thâm cung xuân sắc, người đẹp bị khóa chặt
Cô đơn nằm trên nệm gấm hồng tươi
Say giấc mộng bướm dưới lớp áo hoa biêng biếc
Không phải là thần tiên không có người sánh đôi
Mà cám cảnh thơ ngây bỗng vương lòng lưu luyến
Song the hiu quạnh, bông mai đượm tuyết
Vườn uyển sâu thẳm, liễu ám khói sương
Mùa hoa đi qua, xuân cũng đã hết
Cánh hoa tàn, tơ mành buông, thật là đáng thương
Tùng Tùng! Đâu đó vang lên tiếng trống ven thành
Lũ rợ Kiệt đến, bụi mù khắp Tràng An
Chưa cuối hè mà đã có gió lay lá
Đương xuân chín mà bỗng lác đác giọt mưa bứt hoa.
Đấng mày râu không có gan giữ được cung thành
Để bực quần thoa phải gán thân cho giặc mạnh
Con gái Thiên vương phải làm phi cho Thượng Công
Nào phải bậc chúa hoa tầm thường.
Để tỏ lòng tôn vinh đối với hoàng tộc
Sính lễ cùng nghi thức hết sức đặc biệt
Ngựa xe như mây nước, tùy tòng mặc toàn gấm vóc
Đám phù rể phong lưu, áo mũ xênh xang.
Bọn phu quạt, phu khiêng kiệu đều lạ lùng
Người kinh đô thấy đều gọi là ‘cha’
Ai cũng hâm mộ chú rể
Còn cô dâu trông thấy chàng rể thì buông đôi tay.
Quần áo thì sặc sỡ diêm dúa, giọng nói thì trọ trẹ
Dáng dấp ngang tàng, da dẻ nhăn nhúm
Trên đầu chất cao cái khăn của Trương Giác
Giữa chân không mặc cái quần của Hàn Tín
Ở bên trong, một vật trông rất nguy nga
Cùng với tứ chi, sừng sững thành năm ngọn
Lúc tĩnh lặng, giống như cao tăng nhập tọa
Lúc động đậy, tựa như võ biền vừa hát vừa múa
Chẳng nói chẳng cười chẳng từ tốn
Gầm lớn một tiếng, mãnh liệt như hổ
Nghìn cân sà xuống, chồm hỗm chiếm bộ ngực như bơ
Tức tối xé rách chiếc váy là đang che cặp đùi tựa tuyết
Vật này ai cũng biết là có thể đâm người
Ngúc ngoắc rồi chọc vào cánh cửa êm ấm
Bông hoa kiều diễm trên cành bị oanh khùng giày vò
Con oanh khùng không hề giữ gìn bông hoa kiều diễm
Lớp lớp màng hoa, tiếng xé vải
Mảnh mảnh lò chì bốc lên những ngọn khói
Răng nghiến, xác thịt rung, mồ hôi như dầu
Nện bừa, rút quấy, làm không dừng
Phút chốc, giọt hồng trinh rớt trên dải váy
Âm thầm mấy độ xuân qua
Trên thân thiếp hai lỗ tựa vòng khâu
Trong nháy mắt thông thống thành một hốc lớn
Vén áo lót kiểm tra bỗng kinh ngạc
Bị sờ bóp không đáng giá nửa xu
Thâm tím, không còn màu trắng xưa kia
Méo mó, khác rồi khối tròn thưở trước
Gọi a hoàn bưng chậu nước đi tiểu một cái
Tiếng nước tiểu như dòng thác tuôn
Dòng thác sóng sánh một đi không trở lại
Ngọn gió thổi rụng cánh hoa đào
Hoa đào kiều diễm, khiếp sợ, không chịu nổi gió
Gió ngớt, hồn hoa còn thấy mệt lả
Vóc liễu gày đi ba phần
Áo lụa gấp rộng một nửa
Việc này tuy không đến nỗi chết người
Nhưng cứ sớm mây chiều mưa sao lại không nát bét chứ
Từ khi chịu cái khổ lạ lùng lại được cái sướng lạ lùng
Sau khi sướng lại quên hết nỗi gian khổ ngày xưa
Chẳng lo ông chài khua chèo bị rít
Sóng đào bát ngát dâng ngập bờ cát phẳng
Vốc bên trái, sờ bên phải, thăm dò nhị hoa
Con oanh chẳng ngừng luồn, con bướm chẳng ngăn cản
Ngọc ngứa, hương gãi, không còn thẹn thùng
Trên ôm, dưới siết, cuộn lại tròn vo
Cuộc phong tình tràn ngập, lòng hoa bướm háo hức
Chỉ sợ rời ‘chúa hoa’ trong khoảnh khắc.
Kẻ man di thật thà, rất nhiều khi lên cơn hứng
Chỉ biết đâm dùi, chứ không biết nhẹ nhàng ve vuốt
Cảnh đời mây nổi, tựa như khách qua đường
Cả đời được mấy lúc hưởng trọn giấc xuân
Thú chăn gối không phân biệt người Kinh, người rợ
Si ngây chuốc lấy danh hão, người ngọc lỡ lầm
Không thấy đám phấn son ở Cẩm Cơ sao
Sau khi quân Tây Sơn đi, có mấy thằng quay lại?
Ai nấy hãy đem việc này nói rõ với chị em:
Lấy chồng thì cứ sớm lấy bọn Tây Sơn ấy.


Dịch thơ:

Tây Sơn hành

Cõi thanh bình hai trăm năm lẻ
Chốn thâm cung khóa trẻ đương tơ
Gấm tươi phô nét hững hờ
Áo hoa biêng biếc, bơ thờ[1] giấc xuân
Khách thần tiên chưa lần sánh mộng
Lòng thơ ngây chợt động tơ vương
Song mai tuyết đọng chán chường
Vườn hoa thăm thẳm khói sương liễu bồ
Hoa đã rụng xuân hồ cũng hết
Xác còn buông mấy nét tơ sương
Thoắt thôi trống động biên cương
Bao nhiêu rợ mọi ngập đường Tràng An
Buổi cuối mùa gió man lay lá
Đương xuân hồng mưa rã nhị hoa
Mày râu trốn hết đâu mà?
Để cho má phấn phải ra gán mình
Thân công chúa thình lình thiếp giặc
Thân ấy đâu phải bậc tầm thường
Hoàng cung quốc sắc thiên hương
Thì thôi sắm lễ tiện đường rước đi
Xe như nước ngựa phi giăng gấm
Phù rể trông cũng thậm xênh xang
Lạ lùng tôi tớ khiêng sang
Lê dân Kẻ Chợ bàng hoàng xuýt xoa
Hâm mộ ngắm chàng ta rể quý
Nàng Ngọc Hân gạt lệ xuôi tay
Người đâu trọ trẹ thế này
Da thời nhăn nhúm, dáng rày[2] ngông nghênh
Khăn với áo xông xênh diêm dúa
Giữa hai chân không khố lão Hàn
Bên trong một vật hiên ngang
Ngũ chi sừng sững như đang thượng tòa
Khi lúc lắc tựa là nhảy múa
Chẳng nói năng sấn sổ xông ra
Cọp gầm hùng hổ chu choa
Nghìn cân sà xuống một tòa thiên nhiên
Xé toạc váy giở miền ngà ngọc
Vật này ôi đã xọc thân hoa
Xăm xoi ngúc ngoắc vào ra
Oanh khùng khục tiếng, hoa dà dà son
Ôi giày xéo hoa don vật vã
Nhụy non tơ rách tã còn đâu
Hơi hùm bốc khói trên đầu
Thịt rung răng nghiến như dầu bôi thân
Chọc bừa đâm quấy tần vần
Giọt hồng cứ giỏ mấy lần nếp voan
Âm thầm bấy, mầu xoan vuột mất
Nhụy thuở nào e ấp xinh xinh
Thoắt thôi hoang hoác thân[3] mình
Nhìn xem xiêm áo thất kinh rụng rời
Thân vàng ngọc đáng thời nửa cắc
Màu trinh nguyên đã mất vẻ xưa
Ngực non méo mó dật dờ
Buồn cơn đổ xuống một bờ thác tuôn
Thác đã tuôn cũng khôn níu lại
Cánh hoa đào gió tãi nào vun
E rằng gió giật chăng dừng
Hồn hoa mệt bã vô chừng bấy hoa
Thân liễu yếu ngót ba phần đủ
Xiêm y thay, thít chửa vừa thân
Mây mưa đã giãi phong trần
Tuy chăng mất mạng, cũng dần nát tan
Càng đau lạ lại càng sướng lạ
Sướng này thôi cũng hả đau kia
Chèo khua chẳng ngại gẫy chìa
Sóng đào bát ngát dâng kìa bãi xa
Đôi trái cấm xuýt xoa kia nọ
Oanh chăng ngừng, bướm tỏ nguồn yêu
Ngọc ngà ngứa ngáy hương phiêu
Trên ôm dưới siết còn đâu thẹn thùng
Cuộc phong tình bướm hoa háo hức
Chẳng nỡ rời một lúc một giây
Vũ phu hứng động dâng đầy
Vuốt ve chẳng đoái, cuốc cầy quen chân
Cảnh mây nổi một thân làm khách
Khách qua đường chớ trách mộng xuân
Gối chăn đâu cũng xoay vần
Danh suông để hão, trong ngần vấy nhơ
Đám phấn son Cẩm Cơ chửa đủ
Gã Tây Sơn liệu có quay về
Việc này nói tỏ cho nghe :
Lấy chồng cứ lấy chẳng nề quân Tây!


Người dịch: Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương:
(Nguồn: Trần Quang Đức-Blog)

1. Bơ thờ (từ cổ): uể oải, lười.
2. Rày: nay
3. Theo nguyên bản nên dịch là “cửa”, nhưng nay đổi chữ cho nó đỡ dữ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:17 am

Thán bần

Bản chữ Hán:

嘆貧

何用衰時識字人,
文章縱好不醫貧。
米昂飯有三分菜,
錦貴衣惟七尺鶉。
拙婦無謀營繼日,
贅翁猶自笑浮雲。
前生合是於陵子,
落到今生又姓陳。
Phiên âm Hán Việt

Thán bần

Hà dụng suy thời thức tự nhân ?
Văn chương túng hảo bất y bần!
Mễ ngang phạn hữu tam phần thái,
Cẩm quý y duy thất xích thuần!
Chuyết phụ vô mưu doanh kế nhật,
Chuế ông do tự tiếu phù vân.
Tiền sinh hợp thị Ư Lăng tử,
Lạc đáo kim sinh hựu tính Trần!

Dịch thơ:

Than nghèo

Chữ nghĩa thời suy mấy kẻ cần,
Bệnh nghèo hồ dễ chữa bằng văn.
Gấm đắt, áo manh đùm mấy mảnh
Gạo cao, rau độn ngót ba phần.
Vợ dại, kém xoay sinh kế vụng
Chồng gàn, quen thói ngạo phù vân.
Kiếp xưa đích thị Ư Lăng tử
Nay xuống đầu thai lão họ Trần.


Người dịch: Nguyễn Tấn Hưng
(Nguồn: vhv.vn)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:37 am

Tự thán kỳ 1

Phiên âm Hán Việt

Sàng trách yêm yêm bất xuất môn,
Lữ sầu tiêu đắc kỷ hoàng hôn.
Nhược khu chi ỷ tam phân sấu,
Chính khí duy trì nhất điểm tồn.
Vô dược khả y ưu quốc bệnh,
Hữu quan nan trở mộng gia hồn.
Tương liên hạnh hữu đồng tâm lữ,
Thời khải kim tiên uý nhất ngôn.

Dịch thơ:

Tự than kỳ 1

Mảng nằm, cửa ngõ chẳng buồn qua,
Đất lạ, bao phen bóng ác tà.
Chính khí vẫn còn nguyên vẹn một,
Thân hèn gầy đã đến chia ba.
Thuốc đâu chữa được cơn lo nước,
Ải đó khôn ngăn mộng nhớ nhà.
Bỗng gặp có người tri kỷ đến,
Chuyện trò thôi cũng gọi khuây khoa!


Người dịch: Không rõ
(Nguồn: vhv.vn)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:39 am

Tự thán kỳ 2

Phiên âm Hán Việt

Phiêu linh bình cánh cùng du tử,
Bạt thiệp quan lương tiện hữu ty.
Hứa quốc vô tài duy khẩu thiệt,
Du nhân nhất hoại thất phu mi.
Hành tàng dụng sả hữu phận mệnh,
Nam Bắc Đông Tây vô hiểm di.
Tôn miếu hạnh an thần tử trách,
Giang hồ hảo hứng bệnh tương nghi.

Dịch thơ:

Tự than kỳ 2

Cánh bèo lạc lõng đó rồi đây,
Lặn lội nài chi bước đoạ đày!
Giúp nước không tài, duy miệng lưỡi,
Trái người một tiếng, đấng râu mày.
Đông, Tây, Nam, Bắc khinh nguy hiểm,
Hành, xả, dụng, tàng, mặc rủi may.
Tôn miếu miễn an, là hả dạ,
Sông hồ dạo bước, bệnh lui ngay!


Người dịch: Không rõ
(Nguồn: vhv.vn)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   Fri Dec 28, 2012 9:40 am

Tự thuật

Phiên âm Hán Việt

Độc hữu cơ thần, lệ ám lưu,
Gia tình quốc sự tứ du du.
Tha hương khởi tất phùng thanh nhãn,
Nghịch cảnh thuỳ năng bất bạch đầu.
Hứa quốc cô trung Thục thừa tướng,
Báo Hàn thốn thiệt Trương Lưu hầu.
Nam nhi bất tố oanh thiên sự,
Hư độ phù sinh tử cánh hưu.

Dịch thơ:

Tự thuật

Thầm ngán riêng mình nhỏ giọt châu,
Tình nhà nỗi nước dạ âu sầu.
Quê người há chẳng còn xanh mắt,
Cảnh nghịch ai không chóng bạc đầu.
Báo Hán ngay lòng Thục thừa tướng,
Đền Hàn lưỡi uốn Trương Lưu Hầu.
Vang trời, ví chẳng làm nên việc,
Uống kiếp tài trai chết cũng âu!


Người dịch: Không rõ
(Nguồn: vhv.vn)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Danh Án   

Về Đầu Trang Go down
 
Trần Danh Án
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Danh mục thiết bị thông tin và liên lạc hàng hải
» Danh mục Cảng vụ Việt Nam
» Danh mục các từ viết tắt sử dụng trong các công ước IMO
» Danh mục các hãng tàu biển tại Việt NAm

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến