Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords
Liên miền

Share | 
 

 Trương Hán Siêu

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 8:35 am

Trương Hán Siêu
(?-1354)



Tượng thờ Trương Hán Siêu ở Ninh Bình - ảnh: truongtoc.vn
Trương Hán Siêu (張漢超), tên tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, quê ở làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình).

Trương Hán Siêu xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Ông tham dự cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba. Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển. Sang đời Trần Hiến Tông năm 1339 làm môn hạ hữu ty lang trung, đến đời Trần Dụ Tông năm 1342 đổi sang tả ty lang trung kiêm Kinh lược sứ ở Lạng Giang, rồi thăng tả gián nghị đại phu năm 1345 và năm 1351 làm tham tri chính sự.

Trương Hán Siêu là người có học vấn sâu rộng, giàu lòng yêu nước, được các vua đời Trần tôn quý như bậc thầy. Thời trẻ, ông bài xích (phản đối) Phật , nhưng vua không trách, còn bổ ông làm quản tự cho một ngôi chùa lớn. Về cuối đời, ông lại là người sùng đạo Phật và những sáng tác của ông cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng này.

Tuy nhiên, cuộc đời ông không phải là không có tì vết. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT), ông khinh bỉ người cùng hàng, không giao du với họ, chỉ chơi thân với bọn Phạm Nghiêu Tư, gặp quan thầy thuốc thì thế nào cũng đùa bợt nói cười, đều là những kẻ không đồng điệu với ông. Đến khi coi đất Lạng Giang thì gả con gái cho tù trưởng đất ấy là Nùng Ích Vấn, khi coi chùa Huỳnh Lâm thì gả con gái cho tam bảo nô Nguyễn Chế, đều vì mộ sự giàu có của họ cả. Vì thế ĐVSKTT mới viết rằng:

...Trương Hán Siêu là ông quan văn học, vượt hẳn mọi người, tuy cứng cỏi, chính trực nhưng lại chơi với kẻ không đáng chơi, gả con gái cho người không đáng gả....

Các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng việc Trương Hán Siêu ít giao du với những bạn bè cùng hàng vì những người này trước đây cùng học với ông tại trường của Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc, khi ông bị Nguyễn Văn Long vu oan phải đào tẩu, thì chính những người bạn này đã hùa nhau công kích kết tội ông. Chuyện này ít ai biết vì ông tha thứ không kể tội họ ra, nhưng không kết tình thân, kể cả Mạc Đĩnh Chi.

Trương Hán Siêu chính là người cố vấn chính của Trần Hưng Đạo, nhưng dấu mặt khi Trần Ích Tắc chưa trốn theo quân Nguyên. Sau khi Trần Ích Tắc bại lộ trốn theo quân Nguyên thì Trương Hán Siêu ra mặt công khai ở chung với Trần Hưng Đạo để ngày đêm bàn việc quân. Trương Hán Siêu là người rất giỏi võ nghệ, giỏi âm nhạc. Trương Hán Siêu Không thích đạo Phật vì ban đầu thấy Trần Ích Tắc cũng mộ đạo Phật nhưng lại không sáng suốt. Sau này thấy các vua quan nhà Trần thích xây chùa hao tốn công quỹ. Mãi về sau ông mới công nhận đạo Phật hay, nhưng theo cách hiểu của ông.

Trần Ích Tắc có xin phép anh là Trần Thánh Tông để mở trường đào tạo nhân tài cho triều đình, rất nhiều danh nhân thời bấy giờ kéo về đây xin theo học như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Đại Phạp... Trương Hán Siêu là học trò giỏi nhất, được Trần Ích Tắc giao thay mình dạy lại cho các môn đệ. Nhưng lúc đó Nguyễn Văn Long là trưởng tràng rất ganh tị, bày mưu ám sát Trần ích Tắc rồi vu cho Trương Hán Siêu khiến Siêu phải bôn tẩu, về núp trên những hang động của Ninh Bình. Trần Hưng Đạo nghe danh tiếng, chủ động tìm đến để hỏi ý kiến về cuộc chiến tranh với quân Nguyên sắp nổ ra. Ý kiến của Siêu quá chu đáo nên được Vương nghe theo áp dụng.

Kế hoạch lấy không đánh có, lấy nhu thắng cương, vườn không nhà trống, lấy ít đánh nhiều được Siêu phát triển thành đỉnh cao hoàn hảo, phổ biến đến tận làng xã, tập cho dân làng biết làm theo hiệu lệnh từ trung ương một cách nhanh chóng. Khi Trương Hán Siêu còn sống thì bọn gian thần không dám lộng hành. Đến khi ông mất, Phạm Ngũ Lão cũng mất thì một mình Chu Văn An không đủ sức đối phó với bọn gian thần mà phải cáo quan về dạy học.

Trương Hán Siêu gả con cho các tù trưởng chẳng phải vì ham giàu, mà chính là vì muốn liên kết với bộ tộc giữ biên cương theo chính sách của nhà Trần thời bấy giờ có chủ trương gả con cho từ trưởng để làm phên giậu bảo vệ biên cương. Ông bị vu oan cho tới sau khi chết vẫn chưa yên.

Năm Quý Tỵ 1353, ông lãnh quân Thần sách ra trấn nhậm ở Hóa Châu (Huế), giữ đất này yên ổn. Tháng 11 năm sau, ông cáo bệnh xin về nghỉ, nhưng về chưa đến kinh sư thì ông mất. Sau khi ông mất, vua cho truy tặng hàm Thái bảo, năm 1363 truy tặng Thái phó và được thờ ở Văn Miếu quốc gia (từ năm 1372), ngang với các bậc hiền triết đời xưa.

Tác phẩm:

Hiện còn 3 bài văn và 4 bài thơ (Trong đó bài "Cúc hoa bách vịnh" có bốn kỳ). Riêng hai quyển Hoàng triều đại điểnHình thư soạn chung với Nguyễn Trung Ngạn, bài biểu Tạ trừ Hàn lâm viện trực học sĩ được dẫn trong Đại Việt sử ký toàn thư và Kiến văn tiểu lục, hiện nay chưa tìm thấy.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 8:45 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 8:57 am

Bạch Đằng giang phú

Bản chữ Hán

白藤江賦

客有:
掛汗漫之風帆,
拾浩蕩之海月。
朝嘎舷兮沅湘,
暮幽探兮禹穴。
九江五湖,
三吳百粵。
人跡所至,
靡不經閱。
胸吞雲夢者數百而,
四方壯志猶闕如也。
乃舉楫兮中流,
縱子長之遠遊。
涉大灘口,
溯東潮頭。
抵白藤江,
是泛是浮。
接鯨波於無際,
蘸繇尾之相繆。
水天一色,
風景三秋。
渚获岸蘆,
瑟瑟颼颼。
折戟沉江,
枯骨盈丘。
慘然不樂,
佇立凝眸。
念豪傑之已往,
嘆蹤跡之空留。
江邊父老,
謂我何求。
或扶黎杖,
或棹孤舟。
揖余而言曰:
此重興二聖擒烏馬兒之戰地,
與昔時吳氏破劉弘操之故洲也。
當期:
舳艫千里,
旌旗旖旎。
貔貅六軍,
兵刃蜂起。
雌雄未決,
南北對壘。
日月昏兮無光,
天地凜兮將毀。
彼:
必烈之勢強,
劉龔之計詭。
自謂投鞭,
可掃南紀。
既而:
皇天助順,
凶徒披靡。
孟德赤壁之師談笑飛灰,
符堅合淝之陣須臾送死。
至今江流,
終不雪恥。
再造之功,
千古稱美。
雖然:
自有宇宙,
故有江山。
信天塹之設險,
賴人傑以奠安。
孟津之會鷹揚箬呂,
濰水之戰國士如韓。
惟此江之大捷,
猶大王之賊閒。
英風可想,
口碑不刊。
懷古人兮隕涕,
臨江流兮厚顏。
行且歌曰:
大江兮滾滾,
洪濤巨浪兮朝宗無盡。
仁人兮聞名,
匪人兮俱泯。
客從而賡歌曰:
二聖兮並明,
就此江兮洗甲兵。
胡塵不敢動兮,千古昇平。
信知:不在關河之險兮,
惟在懿德之莫京。
Phiên âm Hán Việt

Bạch Đằng giang phú

Khách hữu:
Quải hạn mạn chi phong phàm,
Thập hạo đãng chi hải nguyệt.
Triêu dát huyền hề Nguyên, Tương,
Mộ u thám hề Vũ Huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nhân tích sở chí,
Mị bất kinh duyệt.
Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách nhi,
Tứ phương tráng chí do khuyết như dã.
Nãi cử tiếp hề trung lưu,
Túng Tử Trường chi viễn du.
Thiệp Đại Than khẩu,
Tố Đông Triều đầu.
Để Bạch Đằng giang,
Thị phiếm thị phù.
Tiếp kình ba ư vô tế,
Trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thuỷ thiên nhất sắc,
Phong cảnh tam thu.
Chử địch ngạn lô,
Sắt sắt sâu sâu.
Chiết kích trầm giang,
Khô cốt doanh khâu.
Thảm nhiên bất lạc,
Trữ lập ngưng mâu.
Niệm hào kiệt chi dĩ vãng,
Thán tung tích chi không lưu.
Giang biên phụ lão,
Vị ngã hà cầu.
Hoặc phù lê trượng,
Hoặc trạo cô châu.
Ấp dư nhi ngôn viết:
"Thử Trùng Hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa,
Dữ tích thời Ngô thị phá Lưu Hoằng Thao chi cố châu dã".
Đương kỳ:
Trục lô thiên lý,
Tinh kỳ ỷ nỉ.
Tỳ hưu lục quân,
Binh nhẫn phong khỉ.
Thư hùng vị quyết,
Nam Bắc đối luỹ.
Nhật nguyệt hôn hề vô quang,
Thiên địa lẫm hề tương huỷ.
Bỉ:
Tất Liệt chi thế cường,
Lưu Cung chi kế quỷ.
Tự vị đầu tiên,
Khả tảo Nam kỷ.
Ký nhi:
Hoàng thiên trợ thuận,
Hung đồ phi mỵ.
Mạnh Đức Xích Bích chi sư đàm tiếu phi hôi,
Bồ Kiên Hợp Phì chi trận tu du tống tử.
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Tái bạo chi công,
Thiên cổ xưng mỹ.
Tuy nhiên:
Tự hữu vũ trụ,
Cố hữu giang san.
Tín thiên tạm chi thiết hiểm,
Lại nhân kiệt dĩ điện an.
Mạnh Tân chi hội ưng dương nhược Lã,
Duy Thuỷ chi chiến quốc sĩ như Hàn.
Duy thử giang chi đại tiệp,
Do đại vương chi tặc nhàn.
Anh phong khả tưởng,
Khẩu bi bất san.
Hoài cổ nhân hề vẫn thế,
Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết:
"Đại giang hề cổn cổn,
Hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận.
Nhân nhân hề văn danh,
Phỉ nhân hề câu dẫn".
Khách tòng nhi canh ca viết:
"Nhị thánh hề tịnh minh,
Tựu thử giang hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.
Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề,
Duy tại ý đức chi mạc kinh".

Các bản dịch phú

Bài Phú sông Bạch Đằng

Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió khơi vơi;
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tướng;
Chiều lần thăm chừ Vũ-huyện,
Cửu-Giang, Ngũ-hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người qua, đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân-mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều,
Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết.
Bến giữa dòng chừ buông chèo;
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
Qua cửu Đại-than, ngược bến Đông-triều;
Đến sông Bạch-đàng, nổi trôi mặc chèo.
Lớp lớp sóng kình muôn dặm;
Xanh xanh đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc; phong cảnh ba thư.
Bờ lau xào xạc: bến lách đìu hiu,
Sông chìm giáo gẫy: gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm: đứng lăng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng lá;
Mà nay dấu vết tuống còn lưu.

Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở cầu.
Có kẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau.
Vái ta mà thưa rằng:
"Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã;
Cũng là bãi đất xưa, thưở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.

Đương khi:
Muôn đội thuyền bày: rừng cờ phất phới.
Hùng hổ sáu quân; dáo gươm sáng chói.
Thắng bại chửa phân; Bắc Nam lũy đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ;
Bầu trời đất chừ sắp hoại.
Kìa: Tất Liệt thế cường; Lưu Cung chước dối.
Nói tưởng rằng:
Phen này một trận gieo rơi;
Quét sạch nước Nam bốn cõi.
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người; hung đồ hết lối.
Khác nào:
Trận Xích-bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay;
Bến Hợp-phì giặc Bồ Kiên lát giây chết rụi.
Đến nay nước sông tuy chảy hoài;
Mà nhục quân thù không rửa nổi!
Tái tạo công lao; muôn đời ca ngợi."
Tuy nhiên:
Từ có vũ trụ;
Đã có giang sang.
Thật là:
Trời đất đặt ra nơi hiểm trở;
Bậc anh hào tinh cuộc tồn an.
Hội nào bằng hội Mạnh-Tân, như Vương sư họ Lã;
Trận nào bằng trận Duy-Thủy, như Quốc sĩ họ Hàn.
Kìa trận Bạch-đằng mà đại thắng,
Bởi Đại vương xem thế giặc nhàn.
Tiếng thơm còn mãi; bia miệng không mòn.
Khách chơi sông chừ ủ mặt;
Người hoài cổ chư lệ chan.

Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một giải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghĩa xưa chỉ có anh hùng lưu danh.
Khách nối lời mà ca rằng:
Anh minh hai vị Thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thăng bình,
Tại đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.


Bản dịch: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
- Bùi Văn Nguyên

( Hợp tuyển thơ văn Việt-Nam, tập II)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 9:05 am

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 1

Bản chữ Hán

菊花百詠其一

雨餘開圃移根種,
霜後巡籬摘蕊收。
莫道幽山閒懶散,
一年忙處是深秋。
Phiên âm Hán Việt

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 1

Vũ dư khai phố di căn thực,
Sương hậu tuần ly trích nhị thu.
Mạc đạo u nhân nhàn lãn tán,
Nhất niên mang xứ thị thâm thu.

Dịch nghĩa:

Vịnh hoa cúc kỳ 1

Mưa tạnh, mở cửa vườn đánh gốc trồng,
Sau khi sương xuống, dạo quanh giậu nhặt nhi hoa.
Chớ bảo người ở ẩn vốn lười nhác,
Lúc bận rộn nhất trong năm là cuối mùa thu.



Các bản dịch thơ:

Vịnh hoa cúc kỳ 1

Mưa tạnh ra vườn tỉa gốc trồng,
Sương gieo, quanh giậu lượm từng bông.
Chớ rằng nhàn ẩn nên lười nhác,
Bận rộn khi ngày sắp tới đông.


Bản dịch: Đào Phương Bình

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 9:11 am

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 2

Bản chữ Hán

菊花百詠其二

一秋多雨又多風,
豈意秋花尚滿叢。
應是天工憐冷落,
故留寒蕊伴衰翁。
Phiên âm Hán Việt

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 2

Nhất thu đa vũ hựu đa phong,
Khởi ý thu hoa thượng mãn tùng.
Ưng thị thiên công liên lãnh lạc,
Cố lưu hàn nhị bạn suy ông.

Dịch nghĩa: Vịnh hoa cúc kỳ 2

Cả mùa thu nhiều mưa lại nhiều gió,
Đâu ngờ hoa thu vẫn đầy khóm.
Đúng là thợ trời thương kẻ quạnh hiu,
Nên dành lại loài hoa chịu được rét để làm bạn với ông già ốm yếu.



Các bản dịch thơ:

Vịnh hoa cúc kỳ 2

Trời thu lắm gió lại nhiều mưa,
Khóm trĩu hoa thu thật chẳng ngờ.
Tạo hoá, phải chăng thường quanh vẳng,
Dành bông hoa lạnh bạn già nua.


Bản dịch: Đào Phương Bình

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 9:14 am

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 3

Bản chữ Hán

菊花百詠其三

重陽時節今朝是,
故國黃花開未開。
卻憶琴樽前日雅,
幾回搔首賦歸來。
Phiên âm Hán Việt

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 3

Trùng dương thời tiết kim triêu thị,
Cố quốc hoàng hoa khai vị khai.
Khước ức cầm tôn tiền nhật nhã,
Kỷ hồi tao thủ phú quy lai.

Dịch nghĩa: Vịnh hoa cúc kỳ 3

Sáng nay là tiết trùng dương.
Không hiểu hoa vàng nơi quê cũ đã nở chưa?
Lại nhớ tới thú vui tao nhã uống rượu gảy đàn ngày trước,
Mấy lần gãi đầu làm bài thơ "quy lai".



Các bản dịch thơ:

Vịnh hoa cúc kỳ 3

Sớm nay vừa tiết trùng dương,
Chẳng hay quê cũ hoa vàng nở chưa?
Rượu đàn trạnh nhớ thú xưa,
Vò đầu, mấy bận làm thơ "đi về".


Bản dịch: Huệ Chi

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 9:50 am

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 4

Bản chữ Hán

菊花百詠其四

去年今日有花多,
對客愁無酒可賒。
世事相違每如此,
今朝有酒卻無花。
Phiên âm Hán Việt

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 4

Khứ niên kim nhật hữu hoa đa,
Ðối khách sầu vô tửu khả xa.
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa

Dịch nghĩa: Vịnh hoa cúc kỳ 4

Ngày nay năm ngoái hoa đang nở rộ,
Những buồn vì không có rượu để cùng khách thoả thuê.
Việc đời thường vẫn trái ngược nhau như thế,
Hôm nay có rượu lại không có hoa.



Các bản dịch thơ:

Vịnh hoa cúc kỳ 4

Ngày này năm ngoái hoa đương rộ,
Không rượu, ngồi suông khách với ta.
Trái ngược, việc đời thường vẫn thế,
Hôm nay có rượu lại không hoa.


Bản dịch: Lê Quí Đôn
(Hoàng Việt thi văn tuyển)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 10:00 am

Dục Thúy sơn

Bản chữ Hán

浴翠山

山色尚依依,
遊人胡不歸。
中流光塔影,
上界塏岩扉。
浮世如今別,
閒名悟昨非。
五湖天地闊,
好訪舊漁磯。
Phiên âm Hán Việt

Dục Thúy sơn

Sơn sắc thượng y y,
Du nhân hồ bất quy?
Trung lưu quang tháp ảnh,
Thượng giới khải nham phi.
Phù thế như kim biệt,
Nhàn danh ngộ tạc phi[1].
Ngũ hồ thiên địa khoát,
Hảo phóng cựu ngư ky.
Dịch nghĩa: Núi Dục Thúy

Sắc núi vẫn (xanh) mượt mà
Người đi chơi sao không về
Giữa dòng sáng ngời bóng tháp
Thượng giới mở cánh cửa hang
Có cách biệt với cuộc đời trôi nổi như ngày nay
Mới biết rõ cái danh hờ trước kia là không đúng
Trời đất ở Ngũ hồ rộng thênh thang
Hãy tìm lại tảng đá ngồi câu khi trước.



Các bản dịch thơ:

Núi Dục Thúy

Non xanh xanh vẫn như xưa,
Du nhân đi mãi vẫn chưa thấy về!
Sóng in bóng tháp bồ-đề,
Mở toang cửa động liền kề chân mây.
Đời lênh đênh trước khác nay,
Thân nhàn mới biết trước ngày lầm to.
Mênh mông trời đất Năm hồ,
Vòm câu cũ, kíp thăm dò nơi đâu.

Bản dịch: Trần Văn Giáp


Sắc núi còn xanh ngắt,
Lâu rồi, người vẫn đi!
Lòng sông in bóng tháp,
Tầng thẳm cửa thôi che.
Từ cách xa đời tục,
Mới hay điều thị phi.
Năm hồ trời đất rộng,
Bến cũ khi nào về?

Bản dịch: Băng Thanh


Núi xanh xanh mượt xanh mà
Người đi chơi tận phương xa chưa về
Sáng ngời bóng tháp lòng khe
Cửa hang đá mở lập loè trên cao
Mặc đời trôi nổi nơi nao
Mới hay rằng cái danh nào hư danh
Ngũ hồ trời đất rộng thênh
Lại về câu chỗ đá ghềnh khi xưa.

Bản dịch: Nguyễn Duy

1. Thuở còn trẻ Trương Hán Siêu bài Phật. Vua không trách, lại bổ ông làm quản tự cho một ngôi chùa lớn. Sau Trương Hán Siêu mới hiểu, và nhận ra sai lầm của mình.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 10:10 am

Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký

Bản chữ Hán


Phiên âm Hán Việt

Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký
Ngô hương đa thắng cảnh , thiếu thời du lãm, túc tích đãi biến; thường xả chu đăng thử sơn, phụ kỳ nhai bi, bác đài nhận độc, tắc tri cố tháp nãi Lý triều Quảng Hựu thất niên Tân mùi sở kiết dã. Cập trắc khâm sầm thượng tằng điên, đãn kiến tàn chuyên phế chỉ ủy ế vu u tùng loạn thạch gian, bất giác thứu nhiên trường thán: hà hưng vong thành bại tài nhị bách sổ thập dư niên, cự thành trần tích, tương tòng nhi ma diệt da? Hựu hữu tác giả phủ da? Tự hữu vũ trụ, tiện hữu thử sơn, đăng lâm nhi đồng tân giả, bất tri kỳ kỷ dã! Dư hậu khách tứ phương, sĩ hoạn vu triền, bị vị đài sảnh, thiên nhai cựu ẩn, thời phục mộng trung du nhĩ!

Kim thượng tức vị chi nhị niên động, dư tại kinh sư, sơn tăng Trí Nhu chí môn cáo viết:

- Trung kiến bảo tháp, việt tự Khai Hựu Đinh sửu, tuế lạp lục chu, kim tất công hĩ, nguyện công ký chi. Sở hữu công đức bất khả tư nghị; sở hữu báo ứng, diệc phục như thị. Sơ chiêm thời, tăng Đức Văn mộng thiên dư nhân tập sơn điên, kỳ trung tam quý, tướng mạo thu dị, ngữ chúng viết: "Nhữ đẳng đương tri tạo tháp thị chửng tam đồ thắng sự". Cập hạ thủ nhật, tăng Đức Môn dạ mông Trúc lâm Phổ Tuệ Tôn giả kết ấn an trấn. Cập tăng Đức Tịnh, Đức Minh tiền hậu xế tháp môn lộ, thôi lạc đại thạch, mệnh dữ thạch câu oanh cái sổ nhẫn nhi hạ. Quan giả hãi tán dĩ vi phấn toái thả tận; cập đáo địa phù khởi, vô tổn thương xứ. Tháp thành tứ tằng, dạ phóng quang minh, viễn cận hàm đổ. Phàm thử loại giả, vô phi ngã Phật thần thông lực dã! Thả Nhu văn chi, tích A Dục vương dịch quỷ thần tạo bát vạn tứ thiên tháp, chiêm lễ giả như thân kiến Phật; trượng đầu khắp tháp, diệc nhĩ yêu vphân; khóa hải phù đồ, nga tùy vụ ẩn; sự phi quái đản, kim cổ đồng phù. Thỉnh sàm vu thạch, dĩ truyền lai thế, vĩnh thác già lam cảnh giới, dụng vị hàm thức tân lương, vô nãi bất khả hồ?.

Dư vị:

- Thích Ca lão tử dĩ tam không chứng đạo, diệt hậu mạt thời, thiểuphụng Phật giáo, cổ hoặc chúng sinh, thiên hạ ngũ phần, tăng sai cư kỳ nhất,phế diệt di luận, hư phí tài bảo; ngư ngư nhi du, xuy xuy nhi tòng, kỳ bất vi yêu mỵ gian quỹ giả cơ hi! Bỉ kỳ sở vị ô ô khả. Tuy nhiên sư nãi Phổ Tuệ thị giả, thâm đắc Trúc lâm pháp tủy, luật thân khổ hạnh, hữu miệt tan điều, trửc trương không quyền, thành đại thủ đoạn. Niệm kỳ trước vân căn, lũy quyển thạch, do thốn nhi xích, xích nhi nhận, nhất bộ tiến nhất bộ, nhất trùng cao nhất trùng, dĩ chí ngột nhiên đặc lập, thế ỷ khung thương, tăng quan hà chi tráng quan, dữ tạo vật nhi luận công, khởi thao thao nhàn nạp khả đồng nhật tráng quan, dữ tạo vật nhi luận công, khởi thao thao nhàn nạp khả đồng nhật nhi ngữ dã! Y, hậu thử giả hựu kỷ bách niên, phủ ngưỡng biến diệt, trùng hữu phát dư trường khái, ninh vô Nhu đẳng bối sổ nhân, hà khả tất dã!

Nhược phù thúy nghiễn thương ba, giang không tháp ảnh, nhật mô biêu chu, phiêu nhiên kỳ hạ, bồng ngạo nghễ, dát thuyền huyền nhi ca Thương lang, tố Tử Lăng nhất ti chi thanh phong, phỏng Đào Chu Ngũ chi cựu ước; thử cảnh, thử hoài, duy dư dữ thử giang sơn tri chí.

Thiệu Phong tam niên nhật nguyệt Tả ty lang trung. Tả gián nghi đại phu TRƯƠNG HÁN SIÊU thăng Phủ ký.


Dịch nghĩa:

BÀI KÝ THÁP LINH TẾ Ở NÚI DỤC NGHĨA [1]



Những bài thơ, kí được khắc trên đá núi Dục Thúy
Quê ta nhiều cảnh đẹp, thuở thiếu thời dạo chơi, in dấu chân hầu khắp. Từng dừng thuyền lên núi này, vỗ tấm bia bên vách núi, cạo rêu mà đọc kỹ, mới biết ngôi tháp cũ đây xây từ năm Tân mùi, niên hiệu Quảng Hựu thứ bảy triều Lý. Đến khi trèo lên tận đỉnh cheo leo, chỉ thấy nền hoang ngói vỡ vùi lấp giữa lùm cây rậm rạp, đá tảng ngổn ngang, bất giác bùi ngùi than thở. Sao sự hưng vong thành bại mới trải hai trăm mấy mươi năm mà đã trở thành dấu vết cũ kỹ? Rồi đây sẽ mai một cả ư? Hay lại có người xây dựng lại? Từ có vũ trụ đã có núi này, khách lên núi dạo chơi rồi vắng bóng. không biết đã bao người?

Vào mùa đông năm thứ hai sau khi đức vua lên ngôi, ta đang ở Kinh thành thì vị sơn tăng là trí Nhu tới bảo rằng:

- Việc xây dựng lại tháp báu bắt đầu từ năm Đinh sửu, niên hiệu Khai hựu qua sáu năm tròn, nay đã xong. xin ông làm cho bài ký. Công đức to lớn không biết chừng nào mà việc báo ứng cũng vậy. Khi mới xem đất để khởi công, sư Đức Văn đêm chiêm bao thấy hơn một nghìa người tụ hợp ở đỉnh núi, trong đó có ba vị ưquí nhân, tướng mạo khác thường, bảo với mọi người rằng: "các người nên biết xây tháp là một việc tốt đẹp, để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi tam đồ". Hôm bắt tay vào việc, sư Đức Môn lại chiêm bao thấy đức Trúc lâm Phổ Tuệ kết ấn giữ cho tháp yên vững. Thế rồi khi các sư Đức Tịnh Đức Minh, kẻ trước người sau đang làm việc xây đường đi vào tháp, bỗng đẩy rơi một tảng đá lớn, người cũng rơi theo, lăn lộc cộc đến mấy nhận. Mọi người trông thấy đều kinh hãi chạy tản hết, cho rằng thân thể họ tất phải nát vụn. Thế mà khi rơi tới đất, vực dậy thì không bị tổn thương một chỗ nào. Tháp xây bốn tầng, đêm toả hào quang, kẻ xa người gần đều trông thấy rõ. Tất cả những việc ấy, có việc nào không phải do phép mầu nhiệm của đức Phật ta.

Vả tôi lại nghe nói: xưa vua A Dục sai quỷ thần xây bốn vạn tám nghìa ngôi tháp; người đến chiêm ngưỡng cúng bái đều như chính mắt được trông thấy Phật. Hình tháp khắc ở đầu gậy cũng có thể trừ được yêu khí; cả ngôi tháp vượt qua bể chỉ phút chốc đã lẩn khuấn trông mây mù. Sự việc đó không phải là quái đản mà xưa và nay đều phù hợp; xin khắc vào bia đá, truyền lại cho đời sau, gửi lại lâu dài nơi cảnh chùa, dùng làm bến làm cầu tế độ chúng sinh. Như vậy há chẳng nên sao?

- Đức Thích Ca lão trượng lấy "tam không" để chứng đạo. Khi Phật tịch rồi, đời sau ít người tôn thờ giáo lý của Phật mà chỉ làm mê hoặc chúng sinh. Đất thiên hạ năm phần, chùa chiền chiếm một, làm cho hư nát đạo thường, hao phí tiền của; bọn sư sãi thì dông dài mà những người khờ khạo lại tin theo. Như thế mà không trở thành quỉ quái gian tà, thật cũng hiếm có. Những việc làm ấy không thể được, không thể được!

Tuy nhiên, sư Trí Nhu là người theo hầu đức Phổ Tuệ, thâm hiểu tôn chỉ của phái Trúc lâm, tu thân khổ hạnh, bỏ được lễ nghi phiền phức và giơ hai bàn tay không mà làm nên việc lớn. Nghĩ đến việc nhà sư lấn chân mây, xếp từng hòn đá, từ một tấc đến một thước, từ một thước đến một nhân, một bước tiến thêm một bước, một tầng cao thêm một tầng; tới lúc tháp cao sứngững, thế chạm trời xanh, tô thêm vẻ đẹp của non sông, tranh công xây dựng cùng tạo hóa, thì bọn sư sãi tầm thường đâu có thể sánh được!

Than ôi, mai sau mấy trăm năm nữa, chốc lát cảnh tượng biến đổi, nếu lại có kể buông lời than thở như ta, lẽ nào không có vài người như sư Nhu xây dựng lại? Việc ấy không đoán trước được!

Còn như non xanh nước biếc bóng tháp in dòng, lúc chiều tà buông chiếc thuyền con lênh đênh dưới núi, nàng mái bồng nhìn quanh ngạo nghễ, gõ mạn thuyền ca khúc Thương lang, thử sợi dây câu tìm phong cách thanh cao của Tử Lăng, dạo chơi Ngũ hồ hỏi ước cũ của Đào Chu, thi cảnh này tình này duy có ta với non sông này biết nhau mà thôi.

Mùa hè năm Quý mùi, niên hiệu Thiệu Phong thứ ba (1343) Tả ty lang trùng, Tả gián nghị đại phu TRƯƠNG HÁN SIÊU tự là Thăng Phủ ghi.


Bản dịch: Băng Thanh - Huệ Chi

1. Tháp Linh Tế được xây dựng năm 1091, đời vua Lý Nhân Tông. Qua 250 năm do sự tàn phá của thời gian, tháp chỉ còn là "một nền hoang ngói vỡ, vùi lấp giữa lùm cây rậm rạp, đá tảng ngổn ngang". Trước cảnh tượng ấy, nhà sư Trí Nhu đã chủ trì cho xây lại. Sau sáu năm (1337-1342), công việc hoàn tất. Nhà sư đã ra tận kinh đô Thăng Long xin Trương Hán Siêu viết cho bài kí nhân ngày tái khánh thành tháp. Quan đại phu Trương Hán Siêu đã nhận lời và bài kí ra đời năm 1343, được khắc trên vách núi Thúy.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 10:30 am

Hóa Châu tác

Bản chữ Hán

化州作

玉京回首五雲深,
零落殘生苦不禁。
已辨荒郊埋病骨,
海天草木共愁吟。
Phiên âm Hán Việt

Hóa Châu tác [1]

Ngọc kinh[2] hồi thủ ngũ vân thâm,
Linh lạc tàn sinh khổ bất câm (cấm).
Dĩ biện hoang giao mai bệnh cốt,
Hải thiên thảo mộc cộng sầu ngâm.

Dịch nghĩa: Thơ làm ở Hóa Châu

Ngoảnh đầu lại Ngọc kinh, năm mây thăm thẳm,
Kiếp sống tàn điêu linh xơ xác, khổ không chịu nổi.
Đã sửa soạn chốn hoang vu để chôn vùi nắm xương ốm yếu,
Cỏ cây nơi trời biển xa xôi cùng ta ngâm thơ sầu.



Các bản dịch thơ:

Thơ làm ở Hóa Châu

Ngoảnh lại năm mây phủ đế đô,
Hồn tàn bao xiết khổ bơ vơ.
Thôi đành cõi rậm vùi xương bệnh,
Cây cỏ chung sầu cũng họa thơ.


Bản dịch: Hoa Bằng

1. Trong tác phẩm "Việt âm thi tập" có chú thích rằng đây là bài thơ do Trương Hán Siêu làm lúc đang giữ chức Chiêu dụ đại sứ (khoảng năm 1354).
2. Chỉ kinh đô.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 10:48 am

Khai Nghiêm tự bi ký

Bản chữ Hán


Phiên âm Hán Việt

Khai Nghiêm tự bi ký

Tượng giáo do thiết, nãi phù đồ thị độ nhân phương tiện. Cái dục sử ngu nhi vô tri, mê nhi bất ngộ giả, tức thử di vi hồi hướng bạch nghiệp địa. Nãi kỳ đổ chi giảo khoái giả, thù thất khổ không bản ý vu chiếm danh viên giai cảnh, dĩ kim bích kỳ cư, long tượng kỳ chúng, đương thế lưu tuc hào hữu bối hựu tòng nhi hưởng ứng. Cố phàm thiên hạ áo khu danh thổ, tự cư kỳ bán. Tri hoàng qui chi, phỉ canh nhi thực, phỉ thức nhi y; thất phu thất phụ vãng vãng ly gia thất, khứ hương lý, tùy phong nhi my. Y! khứ thanh du viễn, đạo chi bất minh, nhậm sư tướng giả, ký vô Chu Thiệu dĩ thủ phong hóa, châu lư hương đảng hựu vô tường tự dĩ thân hiếu đễ chi nghĩa, tư nhân an đắc bất hoàng hoàng cố nhi chi tha? Diệc thế sử nhiên dã.

Duy Bắc-hà lộ thượng bạn, Như-ngột giáp Thứ-nhị xã Khai-nghiêm tự nãi Lý triều Nguyệt Sinh công chúa sở sáng dã. Kỳ diện thế tắc Tiên-sơn vọng kỳ nam, Điềm-giang bão kỳ bắc, nhất phương hình thắng, thức tụy ư tư. Y! Tích quy mô, huy dĩ vô kỷ, ư thị Nội nhân hỏa đầu Chu Tuế toại xướng suất hương nhân tịnh lực trùng tâu, do Khái hựu ngũ niên Quý dậu, việt thất niên Ất hợi tất công. Phật giáo tăng phòng, tất nhưng cựu quán. Lạc thành chi nhật, hạp cảnh trĩ mạo, mạc bất hợp chưởng tán thán, dĩ vi Nguyệt Sinh phục sinh dã. Mậu dần đông, tự lai Thiên-trường; cầu dư văn dĩ vi ký. Thả viết: "Từ cố hữu chung, kim thủy đại thạch; nhược phi ký thực, khủng dẫn tiền tung".

Dư vị: tự phế nhi hưng, cố phi ngô ý; thạch lập nhi khắc hà sự ngô ngôn? Phương kim thánh triều, duc xướng hoàng phong dĩ cứu đồi tục; dị đoan tại khả truất, chính đạo đương phục hành. Vi sĩ đại phu giả, phi Nghiêu Thuấn chi đạo bất trần tiền, phi Khổng Mạnh chi đạo bất trước thuật, cố nãi khu khu dữ Phật thị nhiếp nhu, ngô tương thùy khi? Tuy nhiên Tuế thường vi Nội mật viện lại, tập ư tào sự, vãn bạc sĩ hoạn, hiếu xả thí, cố từ hậu lộc, phung thân nhi thoái, thị ngô sở nguyện học nhi vị năng dã. thị khả thư dã.

Khai Hựu thập nhất niên, Kỷ mão tuế, Nhị nguyệt thập ngũ nhật.

Chính nghị đại phu, Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo kiêm Thiêm tri nội mật viện sự, Chưởng bảo tứ kim ngư đại nha thủy TRƯƠNG HÁN SIÊU thăng Phủ ký.


Dịch nghĩa:

VĂN BIA CHÙA KHAI NGHIÊM [1]
Tượng giáo đặt ra là để đạo Phật được dùng làm phương tiện tế độ chúng sinh; chính vì muốn khiến cho những kẻ ngu mà không giác ngộ, mê mà không tỉnh lấy đó làm nơi trở về với thiện nghiệp. Thế nhưng những kẻ giảo hoạt trong bọn sư sãi lại bỏ mất cái bản ý " khổ không" của đạo Phật mà chỉ chăm lo chiếm những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự giát vàng nạm ngọc cho chổ ở của chúng rực rở, tô điểm cho môn đồ của chúng lộng lẫy như voi rồng. Đương thời bọn có quyền thế, bọn ngoại đạo dua lại đua đòi hùa theo. Vì thế những nơi u nhã thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nữa. Bọn áo thâm, áo vàng tụ tập ở đấy, không cày mà ăn, không dệt mà mặt; những người thất phu thất phụ thường bỏ cửa nhà, bỏ làng xóm lũ lượt quy theo.

Than ôi! Các bậc thánh hiền ngày càng xa cách, chính đạo ngày càng lu mờ; những kẻ làm thày, làm tướng đã không có bậc Chu, Thiệu để dẫn đầu việc giáo hoá, các xóm thôn châu huyện lại không có trường để dạy dỗ, nghĩa hiếu thảo hào thân, như thế thì người ta trách sao khỏi hoang mạng, ngoảnh nhìn rồi bỏ đi theo đường khác.Đó cũng là thế tất nhiên.

Chùa Khai - nghiêm ở xã Thứ - nhị, tổng Như - ngột, miền trên lộ Bắc - hà là ngôi chua do công chúa Nguyệt Sinh triều Lý xây dựng. Xung quanh: núi Tiên - sơn chầu phía Nam, sông Điềm - giang bao phía Bắc; cảnh đẹp cả một vùng thực đã quy tụ ở nơi đây. Nhưng tiếc thay vi mô xây dựng trước đã đỗ nát chẳng còn được bao nhiêu. Lúc đó Chu Tuế làm chức Nội nhân hỏa đầu dắt dẫn dân làng góp công xây dựng lại. Khởi công từ năm Quý dậu niên hiệu Khai Hựu thứ năm, đến năm Ất hợi niên hiệu Khai Hựu thứ bảy thì xong. Trong chùa điện Phật, phòng tăng đều theo kiểu cũ. Ngày làm lễ khánh thành, già trẻ trong cả một vùng đều chắp tay khen ngợi, tưởng như công chúa Nguyệt Sinh sống lại.

Mùa đông năm Mậu dần Chu Tuế thân hành đến phủ Thiên - trường xin ta viết cho bài ký và nói:

- Chùa này xưa vốn có chuông, nay mới thay bằng bia đá. Nếu không ghi lại sự tích, sợ sau này mai một mất dấu xưa.

Ta nói:

- Chùa hỏng lại xây đã ngoài ý muốn của ta thì việc dựng bia khắc chữ có can hệ gì đến văn từ của ta? Vả lại ngày nay thánh triều muốn mở mang giáo hoá để sửa đổi phong tục đồi bại. Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được phục hưng. Đã là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn, không bài tỏ trước vua; không phải đạo Khổng Mạnh, không trước thuật thế mà ta lại vương vương tự đắc, bàn bạt dài dòng về đạo Phật, ta sẽ lừa dối ai?

Tuy nhiên, Chu Tuế, đã từng làm trong Nội mật viện, thông thạo việc ty tào; đến lúc tuổi già khinh đường sĩ hoạn, ham việc bố thí, cố từ bổng lộc, tự xin về ẩn dật để được an nhàn, thì đó là việc ta muốn học mà chứa được. Cho nên đó cũng là việc đáng ghi chép vậy.

Ngày 15 tháng Hai năm Kỹ mão, niên hiệu Khai Hựu thứ mười một (25 - 03 - 1339).

Chính nghị đại phu, Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo kiêm Thiên tri nội mật viện sự Chưởng bảo tứ kim ngư đại nha thủy TRƯƠNG HÁN SIÊU tự Thăng Phủ viết.


Bản dịch: Nguyễn Đức Vân

1. Chùa Khai Nghiêm: thường gọi là chùa Vọng Nguyệt (làng Vọng Nguyệt, Bắc Ninh) do Nguyệt Sinh công chúa nhà Lý dựng. Đời Trần, Hàn lâm học sỹ Trương Hán Siêu soạn văn bia, khắc trên đá, kích thước 1,14 m x 0,79 m x 0,27 m. Đến thời Lê và Nguyễn chùa Khai Nghiêm được tu sửa lớn, dựng thạch trụ thiên đài vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705), đúc chuông đồng lớn vào năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) và tạc nhiều pho tượng Phật.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   Thu Jan 24, 2013 10:55 am

Quá Tống đô

Bản chữ Hán

過宋都

艮岳神霄失故基,
茫茫煙草沒狐狸。
政經王蔡誰為厲,
事到徽欽亦可悲。
南渡重興能幾日,
中原恢復已無期。
惟餘城闕連雲外,
空使行人賦黍離。
Phiên âm Hán Việt

Quá Tống đô

Cấn nhạc Thần Tiêu thất cố ky,
Mang mang yên thảo một hồ li.
Chính kinh Vương, Thái thùy vi lệ,
Sự đáo Huy, Khâm diệc khả bi.
Nam độ trùng hưng năng kỷ nhật,
Trung nguyên khôi phục dĩ vô kỳ.
Duy dư thành khuyết liên vân ngoại,
Không sử hành nhân phú "Thử ly".

Dịch nghĩa: Qua kinh đô nhà Tống

Cung Thần Tiêu núi Cấn nền cũ đã mất,
Chỉ thấy cáo chồn ẩn nấp trong đám cỏ xanh mênh mông.
Chính sự qua tay bọn Vương, Thái hỏi ai gây nên tai vạ?
Việc đến như Khâm, Huy thật cũng đáng thương.
Kinh đô dời xuống phương Nam, liệu được mấy ngày trùng hưng?
Việc khổi phục đất Trung nguyên đã không còn hy vọng nữa!
Chỉ trơ lại thành khuyết ngoài đám mây dày lớp lớp
Luống khiến người qua đường ngâm thơ Thử ly.



Các bản dịch thơ:

Qua kinh đô nhà Tống

Núi Cấn cung Thần đã mất rồi,
Mênh mông cỏ biếc cáo chồn chui.
Quyền sa Vương, Thái nên nghiêng ngửa,
Việc đến Khâm, Huy đáng ngậm ngùi.
Vạc chuyển trời Nam, Thôi lỡ hội,
Gươm thu đất Bắc đã qua thời.
Ngoài mây thành khuyết, ôi đâu tá?
Thơ khách thương cho lúa tốt bời.


Bản dịch: Đào Phương Bình

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Trương Hán Siêu   

Về Đầu Trang Go down
 
Trương Hán Siêu
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Thời Lý - Trần - Hồ (1009-1427)-
Chuyển đến