Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
Phong dũng Liên Huynh thường nhất bính miền nguyễn Trọng quang

Share | 
 

 Kỳ Đồng

Go down 
Tác giảThông điệp
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Kỳ Đồng    Tue Jun 04, 2013 8:56 am

Kỳ Đồng
(1875-1929)




Kỳ Đồng và một viên chức Pháp tại Marquises Tahiti.
Kỳ Đồng(奇童) tên thật là Nguyễn Văn Cẩm (阮文錦), người làng Trung Lập (theo cuốn Danh nhân Thái Bình thì quê ông là làng Ngọc Đình), phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình. Ông vốn có tư chất thông minh từ nhỏ lại được cha, là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là Người Việt đầu tiên đỗ tú tài Pháp.

Kỳ Đồng có nghĩa là (Đứa trẻ kỳ tài) là tên gọi được vua Tự Đức sắc phong cho cùng với sớ: "Thử hệ niên khinh, vị khả lục dụng, trước giao Hưng Yên tỉnh thần giáo dục, trừ vi quốc gia nhật chi". (Tên này còn ít tuổi, chưa thể dùng được, nay giao tỉnh thần Hưng Yên dạy bảo, để khi lớn lên, nhà nước sẽ dùng.)

Tám tuổi mụ (năm 1882), Kỳ Đồng đã được cha cho dự kỳ thi khảo khóa chuẩn bị cho kỳ thi hương sau đó tại trường Nam Định. Nguyễn Văn Cẩm đoạt loại ưu, được quan đốc học Nam Định trình tấu về triều. Vua Tự Đức ban chỉ dụ khen thưởng, cấp tiền gạo ăn học.

Năm 1887, những người dân có tư tưởng chống Pháp nhưng mê tín ở tỉnh Nam Định cũ (ở cả Nam Định và Thái Bình ngày nay) tôn Kỳ Đồng làm hậu thân của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, tiến hành tổ chức một đám rước kiệu Kỳ Đồng tiền về tỉnh lỵ Nam Định, nhằm hướng nhân tâm về một thủ lĩnh chống Pháp mới. Công sứ Pháp ở Nam Định là Brie phải ra lệnh nổ súng thị uy, giải tán đoàn người. Sau đó, người Pháp quay sang lợi dụng lại việc này vào mục đích tuyên truyền: họ lưu đày những người tổ chức sự kiện này ở Côn Đảo, nhưng riêng Kỳ Đồng họ lại cho đi du học ở thủ đô An giê (Alger) của Algérie lúc đó thuộc Pháp, ngày 2 tháng 10 năm 1887.

Tại An giê, Kỳ Đồng học tại trường trung học Louis Legrand trong 9 năm, từ tháng 10 năm 1887 đến tháng 9 năm 1896. Trong thời gian này, ông quen và thân thiết với Quận công Ưng Lịch (Hàm Nghi) lúc đó cũng đang bị lưu đầy tại đó và từng đến thăm viếng cựu hoàng.

Ông từ chối lời mời làm quan của Pháp mà chỉ xin đất để mở mang việc làm ruộng ở Yên Thế vào năm 1897.

Vì sợ ông liên lạc với Đề Thám nên Pháp đã đày ông sang đảo Marquises. Ông mất ở Tahiti năm 1929, thọ 54 tuổi.

Tác phẩm:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Đoàn đã có nhiều công phu sưu tầm thơ văn Kỳ Đồng và xác định được ngót 40 bài thơ do Kỳ Đồng sáng tác.

Ngoài ra, thơ văn, câu đối của Kỳ Đồng còn được lưu giữ tản mạn trong dân gian, nhất là ở vùng Thái Bình có nhiều người đã từng là bạn cùng chí hướng của Kỳ Đồng hoặc đi theo phong trào Kỳ Đồng.

Ông còn có soạn một vở kịch bằng thơ Pháp lấy tên là "Les amours d'un vieux peintre aux Marquises" tức "Những mối tình của một họa sĩ già ở đảo Marquises".

Nguồn: internet

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Tue Jun 04, 2013 9:17 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Tue Jun 04, 2013 10:33 am

Binh khởi

Phiên âm Hán Việt:

Binh khởi

Đương thời binh khởi các tây đông
Thế thượng thùy năng lập đại công
Văn vũ như tương tùng hội hợp
Thùy ngư ưng diệc nhất kỳ phùng
Lưu hành tốc nhược bưu truyền mạnh
Ứng vận tranh đồng thảo thượng phong
Sự thế đáo đầu an đắc trụ
Điểm long nhưng tự tác phi long.


Dịch thơ:

Nổi binh

Giờ đây quân dậy khắp tây đông
Ai dám vùng lên lập đại công
Cả nước phen này vui gặp gỡ
Võ văn chính hội giúp non sông
Lệnh truyền nhanh chóng qua binh trạm
Vận nước vần xoay gió lướt đồng
Tình thế kíp rồi không để lỡ
Rồng nằm vươn dậy lập kỳ công.


Người dịch: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Wed Jun 05, 2013 7:32 am

Cô đăng

Phiên âm Hán Việt:

Cô đăng

Cô đăng khiêu tận vị thành miên
Tinh nhật ôi ôi ốc thượng huyền
Thân ngọa cô sàng vô bản địa
Nguyệt lâm tiểu địa bất cao thiên
Kim triêu do tác trần trung khách
Tha nhật nhưng thành thể thượng tiên
Thử nội tài hoa chân bất thiểu
Thư ngôn vương đạo đãng biền biền.


Dịch thơ:

Chiếc đèn lẻ loi

Đèn riêng bấc lụi giấc chưa thành
Vằng vặc trăng sao bạc mái tranh
Cô quạnh giường riêng không đất ở
Lạnh lùng trăng dọi lạc trời xanh
Nay còn làm khách nơi trần thế
Sau sẽ nên tiên cốn đất lành
Đất Việt người tài đâu phải hiếm
Còn cơ hưng thịnh nước non mình.


Người dịch: Phạm Môn-Phạm Đức Duật
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Wed Jun 05, 2013 7:37 am

Con vịt và Ngân hà


Muốn cho rộng đất ta chơi

Thì như con vịt ta bơi Ngân hà

Đi tìm hòn đá Nữ Oa

Chỗ nào còn trống ta ra ngoài giời

Ù ù, cạc cạc với đời

Việc giời, giời biết, việc người, người hay.




Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng tiểu sử và thơ văn, Sở văn hoá và thông tin Thái Bình, 1983.)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Wed Jun 05, 2013 7:58 am

Dòng Xích Bích [1]

Dịch thơ:

Dòng Xích Bích[2] nước trôi lai láng,

Nào ai sang Phú Lãng cùng anh

Thơ rằng: phong cảnh nước trong xanh

Xanh mây in bóng chốn lành thánh sinh.

Sinh ra trời đất thanh bình

Việc đời vẩn đục sao đành ngồi trông

Trông ra địa lợi hổ rồng

Rồng đang lợi thế non sông-dân tình

Tình người sông Nhĩ kế sinh

Sinh ra thánh chủ tự giành chiến công”.



Người dịch: Phạm Môn
Tư liệu của Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


1. Người ta còn đồn rằng: từ năm lên 9 tuổi, Kỳ Đồng đã soạn bài hịch kêu gọi nhân dân chống Pháp và năm 11 tuổi lại sáng tác bài thơ “Dòng Xích Bích” nổi tiếng, phân tích thế mạnh của dân tộc về cả ba mặt thiên thời, địa lợi, nhân hòa (?).
2. Xích Bích là tên một tổng, có con sông Tẻ chảy qua, cạnh làng Ngọc Đình thuộc tổng Hạ Lý.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Wed Jun 05, 2013 8:03 am

Đại hạn

Phiên âm Hán Việt:

Đại hạn

Đại hạn nam thiên thử khí nùng
Vạn dân vọng vũ nhất tâm đồng;
Nhất nhân ưng vị liên đinh khẩu,
Thiên thượng vân đằng trữ bắc phong.


Dịch nghĩa:

Trời Nam nắng hạn không khí oi bức
Muôn dân đều một lòng mong mưa
Một người đứng ra gánh vác nhiệm vụ, liên kết với nhiều người
Mây bay trên trời còn đợi gió bắc.


Dịch thơ:

Nắng hạn

Trời Nam nắng hạn khí oi nồng
Dân chúng mong mưa thảy một lòng
Một người liên kết muôn người lại
Mây ruổi từng không đợi bắc phong.


Người dịch: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng tiểu sử và thơ văn, Sở văn hoá và thông tin Thái Bình, 1983.)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 10:42 am

Đăng Yên Thế lộ [1]

Bản chữ Hán

登安世路

何事紛紜說露機,
騎驢相顧沒相隨。
雖翔千仞猶虞難,
難寓孤山作住持。
治疇且學伊先覺,
揚節難扶漢故基。
既姑托跡耕耡暇,
何事紛紜說露機。
Phiên âm Hán Việt

Đăng Yên Thế lộ

Hà sự phân vân thuyết lộ ky,
Kỵ lô tương cố một tương tuỳ.
Tuy tường thiên nhận do ngu nạn,
Nan ngụ cô sơn tác trụ trì.
Trị trù thả học Y[2] tiên giác,
Dương tiết nan phù Hán cố ky.
Ký cô thác tích canh sừ hạ,
Hà sự phân vân thuyết lộ ky

Dịch thơ:

Đường lên Yên Thế

Dùng dắng làm chi để lộ mưu,
Cưỡi lừa ngoảnh lại chẳng người theo.
Dẫu bay nghìn dặm còn lo nạn,
Khó sống nhiều năm mãi đỉnh đèo.
Hãy học thầy Y tài tính liệu,
Mong phò nhà Hán cảnh gieo neo.
Tạm thời ẩn náu vui cày cấy,
Dùng dắng làm chi để lộ mưu.


Người dịch: Đỗ Quang Liên

* * * * * * * *

Bản khác có tựa:

Thiên lý du du

Phiên âm Hán Việt

Thiên lý du du nhất lộ ky
Kị lô tương cố một tương tùy
Tuy tường thiên nhận do ngu nạn
Nan ngụ cô sơn tác trụ trì
Tri trù ưng học Y tiên giác
Dương tiết nan khôi Hán cố ky
Ký cô lạc ngã ưu sài hạ
Hà sự yêm yêm lãng síu mi


Dịch nghĩa:

Bước đi ngàn dặm xa vời vợi
Cưỡi ngựa nhìn lại không một ai theo
Dẫu bay cao ngàn trượng vẫn lo nạn
Làm nhà tu hành ngụ chốn cô sơn cũng khó thay
Biết trước thời cơ nên học cách trị nước của Y Doãn
Nay dẫu giương cao khí tiết cũng khó khôi phục cơ đồ nhà Hán
Hãy mượn tạm thú vui trong việc cày cấy
Việc gì phải đăm chiêu lo lắng, cau mày.



(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


1. Bài này còn có dị bản chép tựa là "Thiên lý du du". Bài thơ được làm theo thể “thuận-nghịch áp”: hai chữ cuối của mỗi câu nói lái lại thành hai chữ đầu của câu sau và nghĩa cũng khác hẳn. Ví dụ: kỵ lô – lộ ky, tương tùy – tuy tường v.v… Đây là lối thơ chơi chữ, ít phổ biến.
2. Y Doãn: Người có công giúp Thành Thang tiêu diệt nhà Hạ, thành lập nhà Thương và phò nhà Thương ổn định trong thời gian đầu. Tuy nhiên có quan điểm đánh giá Y Doãn là một nhân vật khá phức tạp trong lịch sử Trung Quốc cổ đại.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 10:49 am

Đảo thập đẳng danh


Đảo thập đẳng danh cư đệ nhất

Khắp trẻ già ai cũng bằng ông

Khi hành mâu[1], khi đài các, khi nam bắc, khi tây đông

Khắp bốn bể chẳng đâu là nghịch lữ[2]

Bách tính bất túc, thiên hạ thục dữ chi tài[3]

Giai kỳ cơ viết cơ, giai kỳ hàn viết hàn[4]

Phải nhu túc[5]khiên thường[6] cho cấp cấp

Chờ đến lúc nhân gia cấp túc

Rồi ra trượng ư quốc, trượng ư hương[7]

Làm cho tỏ mặt phi thường.




Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


1. Hành mâu: nhà tranh trong ngõ hẹp
2. Nghịch lữ: khách đi đường, khách lang bạt.
3. Ý nói:Trăm họ không đủ thì ai là người trong thiên hạ bỏ của ra giúp?
4. Mọi người đói thì mình cũng đói, mọi người rét thì mình cũng rét.
5. Nhu túc: ướt chân.
6. Khiên thường: vén xiêm áo.
7. Tuổi già thảnh thơi (chống gậy thong dong trong làng ngoài nước).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 10:54 am

Đối nguyệt

Phiên âm Hán Việt:

Đối nguyệt

Tọa nhàn đối nguyệt thính phong xuy,
Nguyệt bả nguyệt phong tả nhất thi.
Phong tống thanh thanh ca vạn diệp,
Nguyệt minh sát sát tiếu thiên chi.
Tôn trung tửu vị tòng phong khứ,
Tịch thượng cầm thanh hướng nguyệt phi.
Chuyển động tâm thân dư thí vấn,
Nguyệt phong tri ngã dữ vô tri?


Dịch thơ:

Đối trăng

Ngồi nhàn nghe gió ngắm trăng trong
Trăng gió vào thơ viết mấy dòng
Gió lá lao xao lên khúc hát
Trăng cành vằng vặc đẹp mông lung
Trong ly hơi rượu lan theo gió
Ngoài chiếu cung đàn vút khoảng không
Rung động tâm hồn ta thử hỏi
Gió trăng có biết đến ta không?



Người dịch: Phạm Môn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 10:57 am

Gia bần hiếu độc thi thư

Phiên âm Hán Việt:

Gia bần hiếu độc thi thư

Thiện Trần Nhụ Tử bất hoài cư,
Gia tối bần yên hiếu độc thư.
Lậu ốc tất bồng môn yểm tịch,
Chiếu nhan Hoàng, Lão quyển doanh dư.
Bình quân nhục khán lý trung tổ,
Giả thác minh vi Hoài điếu ngư.
Tá Hán nhị kỳ thị thiết hậu,
Ngã tâm không tự quyển trung thư.


Dịch thơ:

Nhà nghèo thích đọc sách

Khen Trần Nhụ Tử khéo yên vui
Nghèo xác thi thư vẫn miệt mài
Che cửa tất bồng nhà dẫu dột
Đẩy xe Hoàng, Lão quyển hằng soi
Xem trong ấp tể phân chia khéo
Mượn chốn sông Hoài cá nhử chơi
Giúp Hán nên công hai tướng giỏi
Lòng ta đang cuộn... mở ngay rồi



Người dịch: Đoàn Ngọc Phan
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:00 am

Không đề I


Tài cao thời hẳn nên dùng

Cớ sao lại phải trông mong làm gì

Không thì phúc lý tương tuy

Túi thơ bầu rượu xa đi trần phàm

Sông núi Nam thời vua chúa Nam

Há có nhẽ đem Tây, đem Bắc

Ta từ lúc phong vân bất đắc

Chẳng tức ai chỉ tức với ông giời

Không tiên không tục không người

Ngất ngơ ngất ngưởng trên đời tiêu dao

Đường cũ theo lối vua Nghiêu

Kẻ ca tạc đỉnh người giao canh điền

Bao giờ hội ngộ được tiên.



Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:01 am

Không đề II


Trông thấy chữ thi nhân tác tiết

Có trí khôn thời biết người hiền

Đã dự vào tuyển dụng chi quyền

Sao cho biết kẻ trung người nịnh

Sách có chữ “duy thiên bảo định”

Ngâm vài câu tình tính để mà chơi

Kìa anh hùng tự cổ chí kim

Đạo quân phụ một niềm trung hiếu

Cũng có kẻ ngâm câu “vô sự tiểu”

Mà lúc này chưa hiểu kỳ danh

Mở Dịch xem được quẻ đại hành

Thế mới biết “thiên sinh ngô hữu ý”

Sách có chữ “đức tương vô túy”

Có say sưa một tý mới nên đời

Bể Sở kia ai tát mà vơi

Khi nhàn hạ thả thuyền chơi bể sóng

Cảnh Thiên Thai ân cần tương tống

Chí rắp mong nhất thống sơn hà

Có chăng ta lại biết ta!



Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:04 am

Khuyến học

Phiên âm Hán Việt:

Khuyến học

Ngũ bách niên lai hội nhất phùng,
Danh vi Đại Khả hiệu vi Đồng.
Học phi Oánh tỷ niên do tốn,
Tài bất Bật luân xỉ tắc đồng.
Thư tịch phát huy trì Lão tử,
Đại đình khôi quán vãn Lương công.
Bỉ xưng dĩnh ngộ kỳ nhân khẩu,
Nhĩ tiểu sinh nghi tảo lập công.


Dịch thơ:

Khuyến học

Năm trăm năm lại hội tao phùng
Đại Khả là tên, hiệu chữ Đồng
Oánh tuổi hơn ta còn học kém
Bật tài chẳng vượt tuổi tuy đồng
Lớn rồi mới học kìa Tô lão
Già đỗ trạng nguyên nọ Lương công
Thiên hạ thường khen là bậc giỏi
Học sinh mình phải sớm thành công.


Người dịch: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:13 am

Kiền khôn phú tái

Phiên âm Hán Việt:

Kiền khôn phú tái

Kiền khôn phú tái khôn lường
Đào viên đỉnh phí khuyển dương tranh hùng
Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
Đảo Hoành Sơn tam liệt ngũ phân
Ta hồ vô phụ vô quân
Đào viên lạc tán ngô dân thủ thành
Đoài phương triệu ứng giáng sinh
Cửu trùng ướng thuỵ long thành ngũ vân
Phá điền tiên thánh giáng trần
Mãnh sĩ mưu thần như hải như lâm
Trần công nãi thị phúc tâm
Giang hồ xử sĩ Đào Tiềm xuất du
Tướng thần hệ xuất Y, Chu
Thứ cơ phục kiến Đường Ngu khải hành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Đông tây vô sự Nam thành quốc gia.


Dịch thơ:

Trời che đất chở

Trời che đất chở khôn lường
Nước sôi lửa bỏng khuyển dương tranh giành
Cơ sự này giao tranh chửa dứt
Nghiêng Hoành Sơn chia cắt sơn hà
Than ôi không chúa không cha
Vườn đào tan tác dân ta giữ thành
Phương đoài ứng triệu giáng sính
Chín tầng rồng hiện trời xanh tuyệt trần
Phá nương thánh xuống cõi trần
Mãnh sĩ mưu thần như nước như non
Trần công một tấm lòng son
Đào Tiềm đi ẩn cũng toan xuất hành
Chu Công, Y Doãn triều thần
Ngõ hầu trở lại tinh thần Đường Ngu
Thái bình thiên hạ vui ca
Đông tây yên ổn, nước nhà thành công.



Người dịch: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:18 am

Kỳ Đồng tự phú nhất luật

Phiên âm Hán Việt:

Kỳ Đồng tự phú nhất luật

Lịch thập niên lai lưỡng độ Tê (Tây)[1]
Thục vi Y Lã thục Di Tề
Cát long vị báo tam xa sính
Khổng phượng hồ vi nhất lữ thê
Thiệt Hán khách như Bì Hạ Lịch
Huyết đường nhân bất Thị Trung Kê
Anh hùng khổng nhãn vô Tiêu Tử
Tu chiếu vương tôn bích thượng đề.


Dịch thơ:

Kỳ Đồng làm thơ tự hỏi mình

Quỷ trắng mười năm mấy lượt về
Ai là Y Lã với Di Tề
Cát long chưa báo ba lần triệu
Khổng Tử vẫn dìu một lũ mê
Gia khánh vắng người tài sánh lịch
Tôi trung thiếu kẻ đức như Kê
Anh hùng liếc mắt không Tiêu Tử
Nhìn kỹ bài thơ chốn vách đề.



Người dịch: Phạm Đức Duật
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


1. Ý nói: hai lần quân Pháp đánh Nam Định (12-12-1873 và 27-3-1883).
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:22 am

Kỳ Đồng vấn nguyệt


Tiết thu dạ thiên quang vân tĩnh
Chốn lữ đình sực tỉnh canh khuya
Tai nghe văng vẳng bốn bề
Gương nga vằng vặc giãi kề quế lan
Thấy trăng thêm động lòng vàng
Ngâm câu vấn nguyệt ngỏ ngang mấy nhời
Hỏi chị nguyệt đôi lời sau trước
Duyên cớ sao mà được thảnh thơi?
Nguyệt rằng vật đổi sao rời
Gương này giời để cho người soi chung
Làm cho mỏi mắt anh hùng
Nghìn thu sương tuyết một lòng thanh quang
Hỏi chị nguyệt có đường lên tới
Chốn thiềm cung phỏng mấy mươi xa?
Nguyệt rằng ta lại biết ta
Có cây đan quế đó là chị em
Anh hùng thử tới mà xem
Kìa gương ngọc thỏ nọ rèm thủy tinh
Hỏi chị nguyệt có tình chăng tá
Niên quang kia phỏng đã nhường bao?
Nguyệt rằng chút phận tơ đào
Càng lên càng tỏ càng cao càng tròn
Mảnh gương vằng vặc không mòn
Bao nhiêu tinh đẩu là con cái nhà
Hỏi chị nguyệt hằng nga mấy tuổi
Cứ ngày rằm đến tối lại ra?
Nguyệt rằng trong cõi người ta
Minh minh trường dạ ai mà biết ai!
Vậy nên mở mắt soi đời
Biết nơi nham hiểm biết người tà gian
Thấy nguyệt hỏi lòng càng yêu nguyệt
Biết lòng ta có nguyệt hay chăng?
Muốn lên cho tới cung trăng
Kết duyên cho được chị hằng mới thôi
Một giăng với lại một ta
Biết nhau chỉ có canh ba điểm thùng
Thong thả nguyệt ướm lòng hỏi lại
Cõi trần gian là cõi làm sao?
Cuộc đời xem bẵng chiêm bao
Công hầu khanh tướng xôn xao trong lòng
Giành nhau vì chút hơi đồng
Cướp nhau vì miếng đỉnh chung của người
Nguyệt lại hỏi tới người quân tử
Lúc vân lôi hai chữ kinh luân?
Ta rằng có đấng thánh thần
Ra tay dẹp loạn nên thân thái bình
Còn phường trục lợi ham danh
Chẳng qua như dáng lênh đênh khua mồi
Nguyệt lại hỏi rừng nho mấy kẻ
Quyết ra tay bẻ quế tràng an?
Ta rằng cá nước chim ngàn
Đời nào chẳng có phượng hoàng kình ngư
Ta hỏi nguyệt ngẩn ngơ ngơ ngẩn
Nguyệt hỏi ta thơ thẩn thẩn thơ
Chồi hoa trận gió phất phơ
Hiu hiu gió thổi hương đưa ngọt ngào
Canh càng khuya nguyệt càng cao
Nguyệt ta ta nguyệt biết bao sự tình
Mấy câu ngâm chốn lữ đình
Có ta với nguyệt biết tình ta chăng?



Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 11:25 am

Lời non nước


Nước xanh biếc lững lờ một giải
Kề trên bờ một trái non cao
Nhân khi ngẫu nhĩ gặp nhau
Nước non bày tỏ nông sâu sự đời
Non bảo nước: "Bác người lịch duyệt
"Khắp xa gần đi hết mọi nơi
"Đục trong đã trải mùi đời
"Gốc nguồn xin kể cho tôi biết cùng"
Nước nghe nói nỗi lòng tỏ giãi
Rằng: "Tôi nay tứ hải vi gia
"Thênh thênh đâu cũng là nhà
"Khi vào lục địa khi ra hải tần
"Khắp thiên hạ nhân dân mong mỏi
"Mong gặp tôi cho khỏi khô khan
"Khắp loài sinh vật thế gian
"Công tôi vun tưới cả ngàn năm nay
"Thở hơi ra thành mây ngũ sắc
"Phun ra mưa nhuần khắp mọi nơi
"Gọi là cũng tạm giúp đời
"Dở hay xin dạy cho tôi biết cùng!"
Non nghe nói trong lòng chán ngắt
Bảo nước rằng: "Bác thực rỗi hơi
"Công đâu chìm nổi với đời
"Mà trong, mà đục, mà vơi, mà đầy
"Cứ như tôi thế này cũng đủ
"Riêng một bầu, một thú làm vui
"Trơ trơ đứng ở giữa trời
"Còn trời, còn đất vui chơi còn nhiều..."
Nước nghe nói mấy lời trái ý
Mắng non rằng: "Nghĩa lý phải đâu!
"Thử xem mặt quả địa cầu
"Cổ kim từng mấy bể dâu đổi dời
"Kìa cứ lấy mặt trời mà nói
"Sáng phương đông, chiều tối phương tây
"Trăng còn khi khuyết khi đầy
"Bốn mùa khí hậu đêm ngày khác nhau
"Máy tạo hoá ngẫm câu vô địch
"Phải tìm đường mưu tính mới xong
"Chí tôi đã quyết giao thông
"Dẫu rằng trong đục, đục trong quản gì
"Ai lại cứ ngồi ỳ như bác
"Coi sự đời chẳng khác chiêm bao
"Đêm ngày mượn thú tiêu dao
"Dù ai muốn khoét muốn đào cũng thôi
"Thế còn mọc ra đời chi nữa?
"Chật đất thêm mà có ích gì?
"Mau mau, phải tính phải suy
"Đá kia, nước chảy có khi cũng mòn!"



Kỳ Đồng
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 2:52 pm

Nghĩ bản tỉnh sự thế

Phiên âm Hán Việt:

Nghĩ bản tỉnh sự thế

Dân sự gian nan dĩ kỷ niên,
Phương kim tỉnh thế tối phân phiền.
Giang phòng nhật nhật dân phương cấp,
Thuỷ hoạn thang thang hoạn hựu duyên.
Vị trí ung hy đô tại thử,
Mạc phi khí hoá ngẫu nhi nhiên.
Hạnh đắc thiên nhân thi trí trị,
Phiên linh nhân lực khả hồi thiên.


Dịch thơ:

Suy nghĩ tình thế tỉnh nhà

Khó khăn dân chịu mấy năm rồi
Tình thế ngày nay thực rối bời
Gìn giữ đê điều dân khó nhọc
Mênh mông lũ lụt nước chưa lui
Đời chưa thịnh trị do lẽ ấy
Vận chửa thăng bình bởi thế thôi
May được trời người cùng hòa hợp
Sức người sẽ chuyển đổi cơ trời.



Người dịch: Hoàng Tạo - Phạm Đức Duật
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 2:54 pm

Niềm vui mở đồn điền


Nông giả thiên hạ chi đại bản

Dẫu nắng mưa thôi chớ quản chi thân

Xưa Thái Công tích phát Kỳ Sơn

Lấy nông nghiệp tạo thành quân nghiệp

Ta dòng dõi Thần Nông thế phiệt

Việc canh nông thực nghiệp nước nhà

Khuyên anh em sinh trưởng nước Nam ta

Việc nông nghiệp cố mà chủ lấy

Nước mạnh dân giàu là bởi đấy

Bờ xôi ruộng mật phải nên tham

Chế khí cơ sửa các đồ làm

Vun bón để mạ lên lúa tốt

Sẵn thóc chứa như non như nước

Dân đủ no bán được nhiều tiền

Nghề nông ta cố ta chuyên.



Tư liệu của: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 3:03 pm

Phản thiệt thi [1]

Phiên âm Hán Việt:

Phản thiệt thi

Vạn lý giang sơn tác trấn kỳ
Ký trần long giá dụng tham tùy
Tuy phàm vị hiểu do thành phúng
Phùng thánh hà nan túc hộ trì
Trị hồ tự hậu quang viên nghiệp
Kiêm Việt hàng khan tác chính ky
Ký chinh tự thị tùng khai triển
Thiên khải thái bình khải diện my.


Dịch thơ:

Phản thiệt thi

Muôn dặm non sông rẽ ngả này
Xe rồng vừa sắp được vời ngay
Tuy hèn chưa hiểu còn nuôi chí
Gặp thánh sao nề sẵn góp tay
Qủy trắng trừ xong cơ nghiệp sáng
Âu vàng nguyên vẹn móng nền xây
Ra quân từ đó đà thêm rộng
Trời mở yên vui mở mặt mày.



Người dịch: Đoàn Ngọc Phan
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


1. Phản thiệt thi tức bài thơ được làm theo thể “thuận-nghịch áp”: hai chữ cuối của mỗi câu nói lái lại thành hai chữ đầu của câu sau và nghĩa cũng khác hẳn. Ví dụ: kỵ lô – lộ ky, tương tùy – tuy tường v.v… Đây là lối thơ chơi chữ, ít phổ biến.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 3:09 pm

Thế sự thi

Phiên âm Hán Việt:

Thế sự thi

Dục vấn thiên cơ vấn thế tâm
Cổ lai vị hữu thậm ư câm
Chung nam tự hữu song tam khí
Nhất Việt hồ vi tứ ngũ âm.
Thục vị cập canh năng hạ cửu
Thùy tri tuất bắc cánh thu thâm
Cổ lai vị hữu nhân tài tử
Mã thượng thung dung tự lập nhâm.


Dịch thơ:

Thơ thời thế

Muốn hỏi cơ trời thế cục đây
Xưa chưa từng thấy tệ như nay
Núi Nam lúc nhúc hai ba bọn
Đất Việt om sòm tiếng tụi Tây
Ai bảo thời cơ đà sắp đến
Nào hay tình thế vẫn còn gay
Anh hùng tự cổ đâu cam chịu
Giành lại non sông hẳn có ngày.



Người dịch: Nguyễn Tiến Đoàn
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 3:25 pm

Thu dạ hoài ngâm [1]

Bản chữ Hán

秋夜懷吟

天氣入中秋之夜,
蕭條經四坐霜寒。
仙家別占清閒,
打殘棋陣飲殘菊杯。
九天外樓臺歌管,
碧溪連滿澗桃花。
芳樽一感歲華,
悠然不覺是何乾坤。
號杜宇千村寂寞,
唧蟲聲四壁淒涼。
可憐自古戰場,
苔封金鏃烏禳孤魂。
群雄逐橫奔之鹿,
四海瞻止屋之烏。
天心未厭胡雛,
水深火熱來蘇者誰?
葵藿有心而向日,
殘鶯何物卻知秋。
西天堂陛交孚,
花裘競色羶狐同章。
千尋柏經霜不變,
雙南金百練彌剛。
苟能鐵石肝腸,
留名竹簡留芳豹皮。
依是日義旗唱率,
將忠心取日虞淵。
洗清舊國山川,
阿童氣概一天高橫。
蓋忠義天青日白,
而榮華雲白狗蒼。
立身所貴綱常,
休將一夢黃粱壯懷。
人世罕逢開口笑,
癡兒亦未了公家。
可憐六代豪華,
遊麋梁館啼鴉宋臺。
人世不知皆矯我,
容才無主可憐君。
徘徊人事天辰,
花經眼酒入唇那堪。
欲問禪曇而奉佛,
禪曇非石室蘭臺。
金連坐下如來,
難將巨燭大開昏衢。
欲問蓬壺諸仙子,
蓬壺空流水桃花。
商山寂寞芝歌,
武陵往跡煙霞深深。
黯黯月而沉沉夜,
指秋江欲下孤舟。
江楓漁火對愁,
風搖桂棹月浮金樽。
人勸我侯門一見,
即青年可便封侯。
我知其曲如鉤,
鞍車駟馬我求何為?
人勸我高飛遠走,
恐西塵欲垢人焉。
我知我直如弦,
為輪為磾隨天賦形。
我必謂人生自古,
未逢時何苦勞心。
盤溪一尺追尋,
可能垂釣夢吟羆熊。
我必謂英雄無盡,
待明君方引級升。
莘原抱道幾曾,
聘車三至可能鼎調。
斯也未逢堯舜禪,
不如高臥且加餐。
洞知故國江山,
人民城郭朝班屬胡。
識時務在乎俊傑,
星兢光而月未明。
風塵何日掃清,
龍驤首起穀城羽飛。
因感興吟詩絕夜,
一篇中字可珠璣。
世人認作蓍龜,
避凶趨吉兩岐分明。
Phiên âm Hán Việt

Thu dạ hoài ngâm

Thiên khí nhập trung thu chi dạ,
Tiêu điều kinh tứ toạ sương hàn.
Tiên gia biệt chiếm thanh nhàn,
Đả tàn kỳ trận ẩm tàn cúc bôi.
Cửu thiên ngoại lâu đài ca quản,
Bích khê liên mãn giản đào hoa.
Phương tôn nhất cảm tuế hoa,
Du nhiên bất giác thị hà càn khôn.
Hào đỗ vũ thiên thôn tịch mịch,
Tức trùng thanh tứ bích thê lương.
Khả liên tự cổ chiến trường,
Đài phong kim thốc ô nhương cô hồn.
Quần hùng trục hoành bôn chi lộc,
Tứ hải chiêm chỉ ốc chi ô.
Thiên tâm vị yếm hồ sồ,
Thuỷ thâm hoả nhiệt lai tô giả thuỳ?
Quỳ hoắc hữu tâm nhi hướng nhật,
Tàn oanh hà vật khước tri thu.
Tây thiên đường bệ giao phu,
Hoa cừu cạnh sắc chiên hồ đồng chương.
Thiên tầm bách kinh sương bất biến,
Song nam kim bách luyện di cương.
Cẩu năng thiết thạch can trường,
Lưu danh trúc giản lưu phương báo bì.
Y thị nhật nghĩa kỳ xướng xuất,
Tương trung tâm thủ nhật ngu uyên.
Tẩy thanh cựu quốc sơn xuyên,
A đồng khí khái nhất thiên cao hoành.
Cái trung nghĩa thiên thanh nhật bạch,
Nhi vinh hoa vân bạch cẩu thương.
Lập thân sở quý cương thường,
Hưu tương nhất mộng hoàng lương tráng hoài.
Nhân thế hãn phùng khai khẩu tiếu,
Si nhi diệc vị liễu công gia.
Khả liên lục đại hào hoa,
Du mi Lương quán đề nha Tống đài.
Nhân thế bất tri giai kiểu ngã,
Dung tài vô chủ khả liên quân.
Bồi hồi nhân sự thiên thần,
Hoa kinh nhãn tửu nhập thần na kham.
Dục vấn thiền đàm nhi phụng Phật,
Thiền đàm phi thạch thất lan đài.
Kim liên toạ hạ Như Lai,
Nan tương cự chúc đại khai hôn cù.
Dục vấn Bồng hồ chư tiên tử,
Bồng hồ không lưu thuỷ đào hoa.
Thương sơn tịch mịch chi ca,
Vũ Lăng vãng tích yên hà thâm thâm.
Ảm ảm nguyệt nhi trầm trầm dạ,
Chỉ thu giang dục hạ cô châu.
Giang phong ngư hoả đối sầu,
Phong dao quế trạo nguyệt phù kim tôn.
Nhân khuyến ngã hầu môn nhất kiến,
Tức thanh niên khả tiện phong hầu.
Ngã tri kỳ khúc như câu,
An xa tứ mã ngã cầu hà vi?
Nhân khuyến ngã cao phi viễn tẩu,
Khủng tây trần dục cấu nhân yên.
Ngã tri ngã trực như huyền,
Vi luân vi đạn tuỳ thiên phú hình.
Ngã tất vị nhân sinh tự cổ,
Vị phùng thời hà khổ lao tâm.
Bàn khê nhất xích truy tầm,
Khả năng thuỳ điếu mộng ngâm bi hùng.
Ngã tất vị anh hùng vô tận,
Đãi minh quân phương dẫn cấp thăng.
Sằn nguyên bão đạo kỷ tằng,
Sính xa tam chí khả năng đỉnh điều.
Tư dã vị phùng Nghiêu Thuấn thiện,
Bất như cao ngoạ thả gia xan.
Đỗng tri cố quốc giang san,
Nhân dân thành quách triều ban thuộc Hồ.
Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt,
Tinh cạnh quang nhi nguyệt vị minh.
Phong trần hà nhật tảo thanh,
Long tương thủ khởi Cốc thành vũ phi.
Nhân cảm hứng ngâm thi tuyệt dạ,
Nhất thiên trung tự khả châu ky.
Thế nhân nhận tác thi quy,
Tị hung xu cát lưỡng kỳ phân minh.

Các bản dịch thơ:

Khúc ngâm cảm hoài đêm thu

Khí trời bước sang thu hiu hắt
Đêm sương rơi lạnh ngắt quanh ngồi
Xuất trần một cõi thảnh thơi
Cờ vây mấy cuộc, rượu mời mấy chung
Ngoài trời đất riêng vòng đài các
Bên ngòi khe lác đác hoa rơi
Chén say nghĩ đến sự đời
Lờ mờ nào biết đất trời là nao
Tiếng khắc khoải nơi nào cũng cuốc
Giọng véo von vách suốt là sâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Hồn siêu mả mốc là khâu chiến trường
Một hươu chạy, mấy phường đua đuổi
Đàn quạ bay bốn cõi trông theo
Giặc kia trời hãy còn chiều
Vớt chìm cứu cháy biết kêu người nào?
Có hướng nhật cớ sao còn biết
Oanh tri thu có việc gì quên
Giao hoan chủ khách một đền
Cân đai lộn vẻ, áo xiêm lẫn hàng
Cây nghìn thước gió sương vẫn đứng
Vàng trăm rèn thân cứng chẳng mềm
Sắt là ruột, đá là tim
Hy sinh để tiếng thơm nghìn muôn thâu
Cờ khởi nghĩa bắt đầu phấp phới
Lặn vực sâu gắng với lòng trung
Non sông quyết rửa cho xong
Trời Nam cao ngất, A đồng tiếng vang
Lòng trung nghĩa trời quang đất rạng
Cái vinh hoa là áng phù vân
Nặng vì hai chữ quân thân
Kê vàng một giấc cõi trần kể chi
Đời người được mấy khi cười rống
Trẻ thơ còn lúng túng việc đời
Hào hoa thuở trước than ôi,
Quán Lương đài Tống khắp nơi hoang tàn
Đã không hiểu lại càng làm khác
Cảm thương ta lưu lạc giữa đời
Trông trời lại ngẫm đến người
Hoa lác mắt rượu mềm môi sao đành
Có lúc muốn tu hành cho rảnh
Biết kiếp tu là tránh sự đời
Tòa sen Phật pháp Như Lai
Khôn đem đuốc tuệ sáng soi cõi hèn
Có lúc muốn theo tiên vào núi
Biết đời tiên là cõi nhàn du
Non Thương tiếng hát xa vù
Vũ Lăng dấu cũ mịt mù khói sương
Đêm vắng lặng chập chờn bóng nguyệt
Trỏ giòng thu xuống chiếc thuyền con
Bóng cây bóng lữa bồn chồn
Khỏa buông trèo gió, giốc dồn chén trăng
Cũng có kẻ bảo rằng ta hố
Phỏng cúi lòn ắt khá phong hầu
Nghĩ rằng câu có thắng đâu
Dù xe dù ngựa nọ cầu mà chi
Cũng có kẻ bảo đi cho rãnh
Bụi hôi tanh ngăn ngạnh đường đi
Nghĩ rằng dây có vậy gì
Ừ luân ừ đạn cũng thì thời cho
Ta tự nghĩ từ xưa đã thế
Chưa gặp thời nọ hệ lụy đâu
Khe Bàn thủng thẳng ngồi câu
Mộng hùng ứng xá Văn cầu thoát rong
Ta tự nghĩ anh hùng nào hết
Hội minh lương sẽ kết duyên lành
Nội Sằn vừa đọc vừa canh
Ba lần xe rước vạc sanh khá điều
Đời chưa gặp Đường Nghiêu thịnh trị
Chi cho bằng nằm nghĩ ăn no
Thương ơi, nước đã ra hồ
Nhân dân thành quách khác mô cả rồi
Người tuấn kiệt nên soi thời vụ
Sao sáng kìa, trăng nọ còn lu
Bao giờ quét sạch bụi mù
Cất đầu vỗ cánh mặc dù phong lưu
Nhân cảm hứng đêm thâu ngâm khúc
Toàn thiên đều ngọc đúc châu soi
Ai ơi nhận lấy kẻo hoài!
Này hung này cát đôi lời phân minh.

Người dịch: Hy Tô


Đêm trung thu trời mây trong trẻo,
Sương đầm đầm lạnh lẽo bốn bên.
Thanh nhàn riêng một cảnh tiên,
Mảng vui cờ thánh, rượu hiền tiêu dao.
Ngoài chín cõi đài cao đàn địch,
Suối liền khe nước biếc đào hồng.
Ngày dài thưởng chén rượu nồng,
Càn khôn nào biết là trong hay ngoài.
Tiếng quyên bỗng một trời khắc khoải,
Lại bốn bề dế gọi đau thương.
Buồn thay cảnh cũ chiến trường,
Cô hồn quạ cúng, tên vàng bám rêu!
Hươu một con, ùa theo bao kẻ,
Quạ một bày, bốn bể đều trông.
Giặc Hồ trời hãy còn dong,
Nước sâu lửa đỏ dễ hòng kêu ai?
Lòng quỳ hoắc theo trời mà hướng,
Tiếng oanh già vất vưởng hồn thu.
Lầu tây chủ khách gật gù,
Hoa cừu rạng rỡ, chiên hồ nghênh ngang.
Bách ngàn trượng mặc sương với gió,
Vàng trăm rèn càng đỏ thức son.
Can trường sắt đá chẳng sờn,
Dấu thơm ghi để nước non sau này!
Ngày khởi nghĩa cờ bay rực rỡ,
Tấm lòng trung nào sợ bóng chiều.
Giang sơn cố quốc sạch màu,
Đồng vang vang tiết, trời màu màu xanh.
Áng trung nghĩa rõ hình nhật nguyệt,
Bả vinh hoa mây biếc chó mờ,
Cương thường gốc cũ ngàn xưa,
Kê vàng giấc mộng, buồn mơ sá gì!
Người đời ít gặp khi cười hả,
Trẻ nhọc nhằn vất vả nào vui.
Sáu đời thịnh trị thương ôi,
Lương đình hươu nhởn, Tống đài quạ kêu.
Người ngu si những trêu cùng chọc,
Tài không vua hãy khóc thương anh.
Trông trời mà cảm sợ mình,
Rượu môi, hoa mắt dễ đành làm ngơ!
Có lúc muốn lên chùa quy Phật,
Tránh việc đời, không sách, không hoa.
Sen vàng dưới bệ Thích Ca,
Những e đuốc Tuệ còn xa hồn phàm.
Lại có lúc muốn làm tiên tử,
Lên Bồng hồ suối cũ đào hoa.
Thương sơn bặt tiếng đàn ca,
Vũ lăng thăm thẳm yên hà mơ mơ.
Đêm nguyệt dãi tỏ mờ, mờ tỏ,
Chiếu dòng thu in rõ thuyền ai.
Cảm thương cây bãi đèn chài,
Gió đưa chèo quế, trăng soi chén vàng.
Người khuyên đến cao sang quyền tước,
Tuổi trẻ trung dễ được phong hầu.
Nhưng mà lời nói uốn câu,
Lợi danh xe ngựa ta cầu chi đây.
Họ lại khuyên cao bay xa chạy,
Bụi đầy đường cảm thấy tanh hôi.
Lòng như dây thẳng mặc ai,
Không trời, luân đạn ôi thôi khó thành!
Ta nghĩ rằng người sinh tự cổ,
Chửa gặp thời, lao khổ ích chi?
Về câu Bàn thạch vội gì,
Điềm hùng có ứng, cá kia mới hòng!
Ta lại nghĩ anh hùng lắm hội,
Chờ minh quân chỉ lối duyên lành.
Ruộng sằn cày cấy nương mình,
Xe vời ba lượt điều canh cũng vừa.
Cảnh Đường Nghiêu nay chưa trở lại,
Chi cho bằng ăn rỗi nằm cao.
Giang sơn cố quốc buồn sao,
Nhân dân thành quách đã trao giặc Hồ.
Người tuấn kiệt biết chờ thời vụ,
Sao long lanh để úa vầng trăng.
Bao giờ đạp đổ đất bằng,
Cất đầu vỗ cánh dặm băng vẫy vùng.
Đêm nay hứng ngụ lòng vài khúc,
Một thiên đây châu ngọc ai ơi.
Thi, rùa quẻ bói dậy đời,
Tránh hung, theo cát đôi nơi rành rành!


Người dịch: Ngọc Canh
(Nguồn: Tổng hợp)

1. Bài thơ này còn có dị bản tên "Thu dạ lữ hoài", có vài câu chữ khác với bài đã đăng.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vạn Xuân
Biết nhậu
Biết nhậu
avatar

Tổng số bài gửi : 191
Points : 244
Thanks : 9
Join date : 26/12/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    Mon Jun 10, 2013 3:32 pm

Vịnh thời sự

Phiên âm Hán Việt:

Vịnh thời sự

Thiên hạ phân phân nại nhược hà,
Phương kim thời sự tối vi đa.
Kỷ niên dân bị phong vi lạo,
Sổ độ tặc lai chiến dĩ hoà.
Hoàn loại vị nhiên tân bão hoả?
An năng hội thiếp hải dương ba.
Thiên tâm như dục khai bình trị,
Xả ngã kỳ thuỳ tá quốc gia!


Dịch thơ:

Vịnh thời sự

Thiên hạ sao mà rắc rối a!
Càng ngày việc cứ mọc thêm ra
Dân bao năm khổ bão rồi lụt
Giặc mấy phen vô đánh lại hòa
Chẳng khác củi khô kề khói lửa
Bao giờ biển cả hết phong ba
Trời còn muốn mở nền bình trị
Không tớ thì ai giúp nước nhà!



Người dịch: Hoàng Tạo
(Nguồn: Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - Cuộc đời và Thơ văn.
Tác giả: Nguyễn Phan Quang. NXB Văn học, 2002.)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Kỳ Đồng    

Về Đầu Trang Go down
 
Kỳ Đồng
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến