Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

December 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Công Trứ
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Lưu Linh
Quách Tấn
Keywords
Chỉnh Huynh thường những nguyễn Liên huyền quang dũng Xương Phong Khuyến Đường Pháp Trần bính Hạnh Trọng miền nhất

Share | 
 

 Lý Bạch

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 2:05 pm

Thu phố ca - kỳ 8

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其八

秋浦千重岭,
水车岭最奇。
天倾欲堕石,
水拂寄生枝。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 8

Thu phố thiên trùng lĩnh,
Thủy xa lĩnh tối kì.
Thiên khuynh dục đọa thạch,
Thủy phất kí sinh chi.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 8

Thu phố có ngàn đỉnh núi trùng điệp
Riêng đỉnh Thủy Xa lại rất kỳ lạ.
Nghiêng bên trời như muốn trút đá (núi)
Nước phe phẩy gởi qua cành lá


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 8

Thu phố núi ngàn đỉnh
Đỉnh Thủy Xa khác thường
Nghiêng trời như trút đá,
Nước phe phẩy cành vươn.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 2:42 pm

Thu phố ca - kỳ 9

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其九

江祖一片石,
青天扫画屏。
题诗留万古,
绿字锦苔生。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 9

Giang Tổ[1] nhất phiến thạch,
Thanh thiên tảo họa bình.
Đề thi lưu vạn cổ,
Lục tự[2] cẩm đài sinh.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 9

Nơi Giang Tổ có một phiến đá
Trời xanh quét rửa họa bình
Thơ ghi lại lưu danh cho hậu thế
Chữ xanh được sinh ra từ gấm rêu.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 9

Giang Tổ đá một phiến
Trời xanh quét họa bình
Thơ ghi lưu hậu thế
Chữ xanh, gấm rêu sinh.

Bản diệt: Ngao_0p


1. Giang Tổ: Cách 25 dặm phía tây nam thành Tri Châu một phiến đá đột nhiên xuất hiện nơi nước chảy giao nhau. Tương truyền có tiên ở trên đó gọi là Giang Tổ thạch.
2. Lục tự: Chữ khắc trên rêu xanh trông như gấm dệt người xưa gọi là lục tự.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 3:12 pm

Thu phố ca - kỳ 10

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十

千千石楠树,
万万女贞林。
山山白鹭满,
涧涧白猿吟。   
君莫向秋浦,
猿声碎客心。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 10

Thiên thiên thạch nam thụ,
Vạn vạn nữ trinh lâm.
Sơn sơn bạch lộ mãn
Giản giản bạch viên ngâm.
Quân mạc hướng Thu phố,
Viên thanh toái khách tâm
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 10

Cây thạch nam(cây trò) có hàng ngàn
Rừng trinh nữ (nguyên sinh) có hàng vạn
Cò trắng bay đầy núi
Tiếng vượn hú khắp cùng khe suối
Anh đừng bao giờ đến Thu phố
Tiếng vượn kêu sẽ làm tan nát trái tim


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 10

Thạch Nam ngàn ngàn gốc
Trinh Nữ vạn vạn rừng.
Có trắng bay đầy núi
Vượn hú khắp suối bưng
Thu phố! Xin đừng đến
Vượn gào tim muốn ngưng.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 3:52 pm

Thu phố ca - kỳ 11

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十一

逻人横鸟道,
江祖出鱼梁。   
水急客舟疾,
山花拂面香。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 11

La nhân hoành điểu đạo,
Giang Tổ xuất ngư lương.
Thủy cấp khách chu tật,
Sơn hoa phất diện hương
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 11

Người đi tuần đi ngang đường chim bay
Nơi Giang Tổ xuất hiện cái cầu để dơm cá.
Nước sông xô gấp chiếc thuyền yếu ớt của khách
Hoa núi phe phẩy mùi hương.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 11

Đường chim bay, người rảo
Giang Tổ trông thấy cầu
Nước mạnh xô thuyền khách
Mùi hương hoa núi đâu!


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 4:08 pm

Thu phố ca - kỳ 12

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十二

水如一匹练,
此地即平天。   
耐可乘明月,
看花上酒船。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 12

Thủy như nhất thất luyện,
Thử địa tức bình thiên.
Nại khả thừa minh nguyệt,
Khán hoa thượng tửu thuyền.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 12

Nước với lụa như là một
Đất với trời cũng ngang nhau
Yên lòng cưỡi trăng sáng
Xem hoa trên thuyền rượu.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 12

Nước trong như dải lụa
Đất trời liền chân nhau
Yên lòng cưỡi trăng sáng
Thuyền rượu hoa ngạt ngào.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 4:33 pm

Thu phố ca - kỳ 13

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十三

渌水净素月,
月明白鹭飞。   
郎听采菱女,
一道夜歌归。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 13

Lục thủy tịnh tố nguyệt,
Nguyệt minh bạch lộ phi.
Lang thính thái lăng nữ,
Nhất đạo dạ ca quy.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 13

Nước trong xanh, mặt trăng quang đãng.
Cò trắng bay trong ánh trăng sáng.
Mấy anh trai nghe tiếng các cô gái hái củ ấu
Trên cùng con đường về nhà ban đêm hai bên hát ca.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 13

Nước xanh in trăng tỏ
Trăng sáng đường cò bay.
Nghe tiếng nàng hái ấu
Đường về hát vui vầy.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 4:49 pm

Thu phố ca - kỳ 14

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十四

炉火照天地,
红星乱紫烟。   
赧郎明月夜,
歌曲动寒川。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 14

Lô hỏa chiếu thiên địa,
Hồng tinh loạn tử yên.
Noản lang minh nguyệt dạ,
Ca khúc động hàn xuyên.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 14

Lửa trong lò sáng rực cả trời đất.
Những tia lửa hồng bắn lung tung trong đám khói màu tía.
Người thợ rèn trẻ tuổi mặt đỏ hồng trong ánh trăng,
Tiếng anh chàng hát vang động dòng sông lạnh.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 14

Lửa lò soi trời đất
Khói tía nhộn tia hồng
Trăng sáng, chàng bừng mặt,
Tiếng hát động lòng sông.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 23, 2011 4:55 pm

Thu phố ca - kỳ 15

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十五

白 髮 三 千 丈
離 愁 似 個 長
不 知 明 鏡 裏
何 處 得 秋 霜
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 15

Bạch phát tam thiên trượng
Ly sầu tự cá trường
Bất tri minh kính lý
Hà xứ đắc thu sương?
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 15

Tóc trắng dài ba ngàn trượng,
Do nỗi sầu ly biệt gây ra.
Không biết ở trong gương sáng này,
Sương thu chui vào bằng lối nào.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 15

Tóc trắng ba nghìn trượng,
Vì buồn, dài lạ sao!
Trong gương thật chẳng hiểu,
Sương thu vào lối nào.


Bản dịch: Trúc Khê

Tóc bạc ba nghìn trượng,
Ly sầu dằng dặc vương.
Gương trong nhìn chẳng biết,
Nào chốn đẫm thu sương?


Bản dịch: Trần Trọng San


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 8:18 am

Thu phố ca - kỳ 16

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十六

秋浦田舍翁,
采鱼水中宿。   
妻子张白鹇,
结罝映深竹。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 16

Thu phố điền xá ông,
Thái ngư thủy trung túc.
Thê tử trương bạch nhàn,
Kết ta ánh thâm trúc.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 16

Thu phố có lão nhà nông.
(hàng ngày) ở nơi khe suối bắt cá
Vợ con thì đi bắt gà lôi,
Cùng kết lưới bóng rợp rừng trúc.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 16

Thu phố có lão nông
Bắt cá nơi suốt hút
Vợ con vây gà lôi
Kết lưới rợp rừng trúc.

Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 8:58 am

Thu phố ca - kỳ 17

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦歌 其十七

桃陂一步地,
了了语声闻。  
暗与山僧别,
低头礼白云。
Phiên âm:

Thu phố ca - kỳ 17

Đào bi[1] nhất bộ địa,
Liễu liễu ngữ thanh văn.
Ám dữ sơn tăng biệt,
Đê đầu lễ bạch vân.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thu phố - kỳ 17

Hoa đào trên mỗi bước chân dọc bờ ao
Tiếng (người) nói đều nghe thấy rõ ràng
Từ biệt các vị tăng trên núi kịp lúc trời tối,
Cúi đầu lạy chòm mây trắng.


Các bản dịch thơ:

Bài ca thu phố - kỳ 17

Bờ ao, Đào cách bước
Tiếng tha nhân vọng đầy
Tối, biệt Tăng trên núi
Cúi đầu mây trắng bay.


Bản diệt: Ngao_0p


1. Có bản ghi là Ba (波) Sách Toàn Đường thi chép là Bi (陂 và giải thích là 池塘名)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 10:13 am

Thu Phố ký nội

Nguyên tác chữ Hán:

秋浦寄内

我今寻阳去,
辞家千里馀。
结荷倦水宿,
却寄大雷书。   
虽不同辛苦,
怆离各自居。  
我自入秋浦,
三年北信疏。
红颜愁落尽,
白发不能除。   
有客自梁苑,
手携五色鱼。  
开鱼得锦字,
归问我何如?   
江山虽道阻,
意合不为殊。
Phiên âm:

Thu Phố ký nội

Ngã kim Tầm dương khứ,
Từ gia thiên lí dư.
Kết hà quyện thủy túc,
Tức kí đại lôi thư.
Tuy bất đồng tân khổ,
Sảng li các tự cư.
Ngã tự nhập thu phổ,
Tam niên bắc tín sơ.
Hồng nhan sầu lạc tận,
Bạch phát bất năng trừ.
Hữu khách tự Lương uyển,
Thủ huề ngũ sắc ngư.
Khai ngư đắc cẩm tự ,
Quy vấn ngã hà như?   
Giang san tuy đạo trở,
Ý hợp bất vi thù.
Dịch nghĩa:

Thư Thu phố gởi vợ

Ta nay đã đến Tầm dương
Cách xa nhà hơn ngàn dặm.
Kết hoa sen ở bên dòng nước mỏi mệt
Ngay lập tức gởi thư nhanh gấp
Tuy sự cay đắng nhọc nhằn khác nhau
Nhưng ở nơi nào cũng đau khổ ly tan.
Ta miễn cưỡng vào Thu phố
Ba năm phương Bắc tin tức ngày càng thưa thớt
(Chắc) nàng đeo nỗi buồn đến tận cùng
Mái đầu bạc không thể ngăn lại (theo thời gian)
Có người khách từ Lương uyển đến
Tay cầm cá năm màu
Mổ ra nhận được thư gấm
(trong thư) hỏi ta hiện giờ ra sao?
Núi sông đừng xá tuy cách trở
Nhưng ý tình vẫn bên nhau mãi mãi.


Các bản dịch thơ:

Thư Thu phố gởi vợ

Bến Tầm dương ta đến,
Cách nhà ngàn dặm xa
Kết sen nghỉ bên suối,
Thư viết vội gởi nhà
Dẫu đắng cay có khác
Khổ ly biệt mà ra.
Ta từ vào Thu phố,
Tin Bắc ba năm nhòa
Nàng chắc buồn heo hút,
Mái đầu bạc phấn hoa.
Bạn Lương Uyển vừa đến
Mang cá năm màu ra
Mổ cá được thư gấm
Bao chuyện Nàng hỏi ta?
Núi sông tuy cách trở
Ta, Nàng mãi không xa!


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 10:58 am

Thu phong từ

Nguyên tác chữ Hán:

秋风词

秋风清,
秋月明,   
落叶聚还散,
寒鸦栖复惊。   
相思相见知何日?
此时此夜难为情!   
入我相思门,
知我相思苦,   
长相思兮长相忆,
短相思兮无穷极,   
早知如此绊人心,
何如当初莫相识。
Phiên âm:

Thu phong từ

Thu phong thanh,
Thu nguyệt minh,
Lạc diệp tụ hoàn tán,
Hàn nha tê phục kinh.
Tương tư tương kiến tri hà nhật?
Thử thì thử dạ nan vi tình!
Nhập ngã tương tư môn,
Tri ngã tương tư khổ,
Trường tương tư hề trường tương ức,
Đoản tương tư hề vô cùng cực,
Tảo tri như thử bán nhân tâm,
Hà như đương sơ mạc tương thức.
Dịch nghĩa:

Thu phong từ

Gió thu lặng,
Trăng thu sáng,
Lá vàng rơi xuống hợp lại rồi bay đi,
Con quạ lạnh đậu một chỗ kêu tiếng sợ hãi.
Thương nhớ trong lòng không biết ngày nào gặp
Đêm nay khắc ấy khó cầm lòng,
Thấu nỗi tương tư này,
Hiểu tương tư là khổ,
Nhớ mong lâu (hề) cứ thương nhớ hoài,
Chợt nhớ nhung (hề) khôn kể xiết.
Sớm hay biết nỗi niềm nhớ sẽ rối lòng,
Giá như khi xưa tuyệt chẳng quen biết.


Các bản dịch thơ:

Thu phong từ

Gió thu thanh,
Trăng thu trong,
Vàng rơi bay qua lại
Quạ lạnh kêu xé lòng.
Thương thương nhớ nhớ khi nào gặp?
Đêm nay khắc ấy những hoài mong!
Thấu nỗi tương tư này,
Biết tương tư là khổ,
Nhớ mong mãi, hề thương nhớ hoài,
Chợt nhớ nhung, hề khôn kể xiết.
Sớm biết tâm hồn lạc viễn vông,
Vậy khi xưa tuyệt không quen biết.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 2:10 pm

Thu tịch lữ hoài

Nguyên tác chữ Hán:

秋夕旅懷

涼風度秋海。
吹我鄉思飛。
連山去無際。
流水何時歸。
目極浮云色。
心斷明月暉。
芳草歇柔艷。
白露催寒衣。
夢長銀漢落。
覺罷天星稀。
含悲想舊國。
泣下誰能揮。
Phiên âm:

Thu tịch lữ hoài

Lương phong độ thu hải
Xuy ngã hương tứ phi
Liên sơn khứ vô tế
Lưu thủy hà thời quy
Mục cực phù vân sắc
Tâm đoạn minh nguyệt huy
Phương thảo yết nhu diệm
Bạch lộ thôi hàn y
Mộng trường Ngân Hán lạc
Giác bãi thiên tinh hy
Hàm bi tưởng cựu quốc
Khấp hạ thùy năng huy.
Dịch nghĩa:

Tối mùa thu nhớ nhà

Gió lạnh thổi qua bể về mùa thu,
Thổi theo lòng nhớ quê nhà của tôi.
Núi liền nhau như chạy dài vô cùng tận.
Nước trôi mãi hỏi có khi nào trở về chăng?
Sắc mây nổi xa cùng cực khỏi tầm mắt.
Trăng sáng soi tỏ làm đứt tươm khúc ruột.
Cỏ thơm hết đẹp mướt,
Sương bạc giục người mặc áo rét.
Giấc mơ dài tưởng rơi dải Ngân hà,
Tỉnh dậy sao trên trời chỉ con lác đác.
Ôm mối sầu tưởng nhớ đến nước cũ.
Khóc rơi nước mắt ai lau cho được.


Các bản dịch thơ:

Tối mùa thu nhớ nhà

Lạnh lùng gió vượt bể thu,
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Chạy dài dãy núi liền mây,
Nước trôi trôi mãi, có ngày về chăng?
Đám mây vút mắt xa chừng,
Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.
Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,
Áo may mặc rét giục người móc sa!
Giấc mơ rơi dải Ngân hà,
Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Đoái thương nước cũ ngậm ngùi
Khóc rơi giọt lệ lau chùi đố ai?


Bản dịch: Tản Đà


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 3:50 pm

Thu tứ

Nguyên tác chữ Hán:

秋思

春阳如昨日,
碧树鸣黄鹂。
芜然蕙草暮,
飒尔凉风吹。
天秋木叶下,
月冷莎鸡悲。
坐愁群芳歇,
白露凋华滋。
Phiên âm:

Thu tứ

Xuân dương như tạc nhật,
Bích thụ minh hoàng li.
Vu nhiên huệ thảo mộ,
Táp nhĩ lương phong xuy.
Thiên thu mộc diệp hạ,
Nguyệt lãnh sa kê[1] bi.
Tọa sầu quần phương hiết,
Bạch lộ điêu hoa tư.
Dịch nghĩa:

Ý Thu

Ánh mặt trời mùa xuân như (là) ngày hôm qua
Cây xanh đầy tiếng chim hoàng oang hót
Cỏ cây (khô) đốt trong bóng hoàng hôn
(Tai) Nghe tiếng gió mát thổi nhẹ
Trời thu lá cây rơi rụng
Trăng lạnh con giọt trùng khóc
Ngồi buồn (nghe) hương thơm các loài cỏ tiêu tan
Móc trắng làm xơ xác thêm màu sắc (mùa thu)


Các bản dịch thơ:

Ý Thu

Hôm qua, ánh xuân chiếu
Hoàng oanh hót cành xanh.
Khói chiều cỏ hoang góp
Bên tai tiếng gió lành.
Vào thu hoa lá rụng
Con giọt trùng khóc trăng
Buồn nghe hương cỏ nhạt,
Móc trắng, thu mong manh.


Bản diệt: Ngao_0p


* Trên internet có nhiều bản Thu tứ của Lý Bạch nhưng hình như bị ghi nhầm tên! Bản này có ghi lấy từ "Toàn Đường thi" quyển 165-24.
1. Sa kê: con giọt sành, loài cào cào dài mà xanh, xúc giác và bắp chân đều dài có thể lấy ống chân cọ vào nhau mà kêu ra thành tiếng, đẻ trứng một lần nở ra 99 con.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 4:23 pm

Thục đạo nan

Nguyên tác chữ Hán:

蜀道難

噫吁戲,
危乎高哉!
蜀道之難難於上青天!
蠶叢及魚鳧,
開國何茫然。
爾來四萬八千歲,
始與秦塞通人煙。
西當太白有鳥道,
可以橫絕峨眉巔。
地崩山摧壯士死,
然後天梯石棧方鉤連。
上有六龍回日之高標,
下有衝波逆折之迴川。
黃鶴之飛尚不得,
猿猱欲度愁攀援。
青泥何盤盤,
百步九折縈巖巒,
捫參歷井仰脅息,
以手撫膺坐長歎。
問君西遊何時還?
畏途巉巖不可攀。
但見悲鳥號古木,
雄飛雌從繞林間;
又聞子規啼 夜月,
愁空山。
蜀道之難難於上青天!
使人聽此凋朱顏。
連峰去天不盈尺,
枯松倒掛倚絕壁。
飛湍瀑流爭喧豗,
砯崖轉石萬壑雷。
其險也如此!
嗟爾遠道之人,
胡為乎來哉?
劍閣崢嶸而崔嵬,
一夫當關,
萬夫莫開;
所守或匪親,
化為狼與豺,
朝避猛虎,
夕避長蛇,
磨牙吮血,
殺人如麻。
錦城雖云樂,
不如早還家。
蜀道之難難於上青天,
側身西望常咨嗟。
Phiên âm:

Thục đạo nan[1]

Y hu hy,[2]
Nguy hồ, cao tai!
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên.
Tàm Tùng[3 cập Ngư Phù.
Khai quốc hà mang nhiên.
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế,
Thủy sữ Tần[4] tái thông nhân yên.
Tây đang Thái Bạch[5] hữu điểu đạo,[6]
Khả dĩ hoành tuyệt Nga Mi[7] điên .
Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử.
Nhiên hậu thiên thê, thạch sạn phương câu liên.
Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu.
Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên.
Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc.
Viên nhứu dục độ sầu phan viên.
Thanh Nê[8] hà bân bân.
Bách bộ cửu chiết oanh nham loan .
Mô Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiệp tức.[9]
Dĩ thủ phủ ưng tọa trường than.
Vấn quân tây du hà thời hoàn,
Úy đồ sàm nham bất khả phan.
Đản kiến bi điểu hào cổ mộc.
Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian.
Hữu văn Tử qui[10] đề dạ nguyệt,
Sầu Không san.
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên!
Sử nhân thính thử điêu chu nhan.
Liên phong khứ thiên bất doanh xích.
Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích .
Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi.
Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi.
Kỳ hiểm dã nhược thử.
Ta nhĩ viễn đạo chi nhân.
Hồ vi hồ lai tai.
Kiếm Các[11] tranh vanh nhi thôi ngôi.
Nhất phu đang quan,
Vạn phu mạc khai.
Sở thủ hoặc phi thân,
Hóa vi lạng dữ sài.
Triều ty mãnh hổ.
Tịch ty trường sà .
Ma nha duận huyết,
Sát nhân như ma.
Cẩm thành[12] tuy vân lạc.
Bất như tảo hoàn gia.
Thục đạo chi nan, nan ư hướng thanh thiên.
Trắc thân tây vọng trường tư ta.
Dịch nghĩa:

Đường Thục khó

Ôi, nguy hiểm thay, cao thay!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Các vua Tàm Tùng và Ngư Phù ở chốn xa xôi biết bao!
Từ đó đến nay, đã bốn vạn tám nghìn năm, mới thông suốt với chổ có khói người ở ải Tần.
Phía tây là núi Thái Bạch có đường chim bay, có thể vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi.
Đất lở, núi sập, tráng sĩ chết, rối mới có thang trời, đường đá móc nối liền nhau.
Phía trên có ngọn cao sáu rồng lượn quanh mặt trời.
Phía dưới có dòng sông uốn khúc sóng xô rẽ ngược.
Hạc vàng còn không bay qua được; vượn khỉ muốn vượt qua, cũng buồn khi vin tới, leo trèo.
Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao! Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt vòng quanh núi non hiểm trở.
Đứng trên cao, tưởng chứng như mó được sao Sâm, lướt qua sao Tỉnh ngẩng trông nín thở, đưa tay vổ bụng, ngồi than thở hoài.
Hỏi bạn đi chơi phía Tây, bao giờ trở lại? Đường đi cheo leo, nguy hiểm, không với tớI được.
Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ, con trống bay theo con mái, lượn quanh trong rừng.
Lại nghe thấy tiếng chim tứ quí kêu dưới bóng trăng đêm, buồn trong núi vắng.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó, phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung.
Các ngọn núi liền nhau, cách trời không đầy một thước.
Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất.
Nước bay, thác chảy đua tiếng ào ào.
Đập vào sườn núi, rung động đá, muôn khe suối vang ầm như sấm.
Đường Thục hiểm trở là như thế! Thương thay cho các bạn, những người đi đường xa, tại sao đến nơi đây?
Miền Kiếm Các cheo leo, chót vót!
Chỉ một người canh giữ ải, đến muôn người cũng không mở nổi.
Những kẻ giữ ải có thể không phải là người thân, lại biến đổi thành ra loài sài lang.
Còn những người đi đường thì ban sáng phải lánh cọp dữ, buổi tối phải tránh rắn dài; bọn chúng mài nanh, hút máu, giết hại người nhiều như cây gai.
Thành Cẩm Quan tuy rằng có vui, nhưng sao bằng sớm trở về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Nghiêng mình trông sang phía tây, than thở hoài.


Các bản dịch thơ:

Đường Thục khó

Ôi, chao ôi!
Nguy hề, cao thay!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Tàm Tùng và Ngư Phù
Mở nước bao xa xôi!
Đến nay bốn vạn tám ngàn năm,
Mới cùng ải Tần liền khói người.
Phía tây núi Thái Bạch có đường chim,
Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi,
Đất long, núi lở, tráng sĩ chết,
Rồi sau thang trời, lối đá mới nối liền.
Trên đỉnh có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật;
Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả đua chen.
Hạc vàng bay qua còn chẳng được;
Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin.
Rặng Thanh Nê quanh co!
Trăm bước, chín vòng núi nhấp nhô .
Ngẩng trông Sâm Tỉnh, không dám thở,
Lấy tay vổ bụng ngồi thở dài.
Hỏi bạn sang tây, bao giờ trở lại?
Đường hiểm núi cao, khó lắm thay;
Chỉ thấy chim buồn gào cổ thụ,
Trống bay theo mái lượn rừng cây.
Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối,
Buồn tênh, núi vắng người!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Khiến người nghe nói héo mặt son.
Núi liền cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất.
Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng,
Vổ bờ, tung đá, muôn khe vang.
Hiểm nghèo là như vậy,
Đường xa, thương cho ai,
Vì sao lại đến đây?
Kiếm Các cheo leo cao ngất mây.
Một người giữ cửa quan
Muôn người khôn mở ải
Chẳng phải là người thân,
Biến thành ra sài lang.
Sớm lánh hổ dữ,
Tối tránh rắn dài;
Mài nanh, hút máu,
Giết người như gai .
Cẩm thành tuy vui thú,
Đâu bằng sớm về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Nghiêng trông sang tây, mãi thở than.


Bản dịch: Trần Trọng San


1. Thục: nay là tỉnh Tứ Xuyên.
2. Y hu hy: người Thục mỗi khi sửng sốt , kinh hãi thường thốt ra ba tiếng này.
3 Tàm Tùng, Ngư Phù: tên hai vua đầu tiên mở mang đất Thục.
4. Tần: nay là tỉnh Thiểm Tây.
5. Thái Bạch: tên núi, ở huyện Mi, tỉnh Thiểm Tây.
6. Điểu đạo: đường chim bay.
7.Nga Mi: tên núi, ở huyện Mi, tỉnh Tứ Xuyên.
8. Thanh Nê: tên núi, ở Hưng Châu, trên đường đi từ Tần vào Thục, sao Tỉnh thuộc phận dã đất Tần.
9. Hiệp tức: nín thở .
10. Tử qui: còn có tên đỗ quyên hay đỗ vũ .
11. Kiếm Các: tên nơi hiểm trở ở quận Tử Đồng, tỉnh Tứ Xuyên .
12. Cẩm Thành: thành Cẩm Quan, ở phía nam Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 26, 2011 4:59 pm

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 1

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其一

胡尘轻拂建章台,
圣主西巡蜀道来。   
剑壁门高五千尺,
石为楼阁九天开。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 1

Hồ[1] trần khinh phất kiến Chương đài,[2]
Thánh chủ tây tuần Thục đạo lai.
Kiếm Bích Môn cao ngũ thiên xích,
Thạch vi lâu các cửu thiên khai.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 1

Bụi giặc Hồ nhẹ phớt trên đường Chương Đài.
Nhà vua đi về hướng tây đi tuần ở đất Thục.
Cửa Kiếm Bích cao những năm ngàn thước,
Đá tạo thành lầu như mở ra chín tầng trời.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 1

Giặc Hồ vấy bụi nhiễu Chương Đài
Thánh chủ tuần tây đường Thục dài.
Cửa Kiếm Bích cao năm ngàn thước
Chín tầng trời mở đá ra oai.

Bản diệt: Ngao_0p


1. Ám chỉ An Lộc Sơn. 10 Bài thơ này viết khi An Lộc Sơn tấn công thành Trường An, Đường Huyền Tông đi tuần phía Tây đến đất Thục tị nạn.
2. Chương Đài là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 9:25 am

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 2

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其二

九天开出一成都,
万户千门入画图。   
草树云山如锦绣,
秦川得及此间无。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 2

Cửu thiên khai xuất nhất Thành đô,
Vạn hộ thiên môn nhập họa đồ.
Thảo thụ vân sơn như cẩm tú,
Tần xuyên đắc cập thử gian vô.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 2

Chín tầng trời khai sinh ra một vùng Thành đô
Vạn hộ dân ngàn cửa ngõ xếp như bức tranh họa đồ.
Cây cỏ, mây, núi giống như gấm dệt,
Thử hỏi sông nước đất Tần sánh được không?


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 2

Chín tầng trời mở một Thành đô,
Ngàn cửa, vạn dân tựa họa đồ.
Mây, núi, cỏ, cây như gấm dệt,
Nước sông Tần ấy sánh sao vô?


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 10:07 am

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 3

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其三

华阳春树号新丰,
行入新都若旧宫。
柳色未饶秦地绿,
花光不减上阳红。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 3

Hoa dương xuân thụ hiệu tân phong,
Hành nhập tân đô nhược cựu cung.
Liễu sắc vị nhiêu Tần địa lục,
Hoa quang bất giảm thượng dương hồng.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 3

Ánh mặt trời rực rỡ, cây cối mang khí xuân báo hiệu sự hưng thịnh mới đến
Bước vào kinh đô mới như vào cung xưa.
Màu sắc, hương vị cây liễu tất cả như mang màu xanh đất Tần
Hoa cỏ rực lên không hề giảm ánh dương hồng ở trên.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 3

Cây xuân rực báo điềm lành,
Vào kinh đô mới ngỡ hoàng cung xưa.
Liễu xanh sánh đất Tần vừa
Ánh dương hồng thắm vui đùa cỏ hoa.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 10:49 am

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 4

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其四

谁道君王行路难,
六龙西幸万人欢。  
地转锦江成渭水,
天回玉垒作长安。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 4

Thùy đạo quân vương hành lộ nan,
Lục long[1] tây hạnh vạn nhân hoan.
Địa chuyển Cẩm giang thành Vị thủy,
Thiên hồi Ngọc lũy tác Trường an.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 4

Ai nói với nhà vua đường đi (vào Thục) khó
Sáu con long mã (chở vua) vào Tây đem niềm may mắn, vạn người vui mừng.
Đất chuyển sông Cẩm giang thành sông Vị thủy
Trời xoay Ngọc lũy nhìn giống Trường an.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 4

Ai tâu với Vua đường gian nan?
Sáu ngựa vào Tây, người đón chen.
Đất chuyển Cẩm Giang thành Vị Thủy,
Trời xoay Ngọc Lũy biến Trường An.

Bản diệt: Ngao_0p


1. Ngựa cao trên tám thước Tàu gọi là long.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 2:12 pm

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 5

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其五

万国同风共一时,
锦江何谢曲江池。   
石镜更明天上月,
后宫亲得照蛾眉。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 5

Vạn quốc đồng phong cộng nhất thì,
Cẩm Giang hà tạ Khúc Giang trì.
Thạch kính canh minh thiên thượng nguyệt,
Hậu cung thân đắc chiếu nga mi.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 5

Nhiều nước cùng phong tục, thói quen trong cùng một thời
Sao sông Cẩm Giang lại từ chối (chảy vào) ao Khúc Giang.
Gương đá (có lúc) thay bầu trời sáng trăng trong,
Cung phi ở gần (vua) ắt được chiếu sáng mày ngài.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 5

Nhiều nước cùng thời, thói giống nhau,
Cẩm Giang sao ngại nước vào ao?
Trời trăng có lúc nhường gương đá,
Thân cận mày ngài rạng nét cao.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 3:02 pm

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 6

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其六

濯锦清江万里流,
云帆龙舸下扬州。
北地虽夸上林苑,
南京还有散花楼。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 6

Trạc cẩm thanh giang vạn lí lưu,
Vân phàm long khả hạ Dương châu.
Bắc địa tuy khoa thượng lâm uyển,
Nam kinh hoàn hữu tán hoa lâu.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 6

Rửa mặt trên dòng sông Cẩm trong vắt nước chảy xuôi vạn dặm,
Thuyền rồng, buồm mây đang xuống Dương Châu.
Đất Bắc dầu khoe có nhiều rừng,
Trở lại Nam kinh thì thấy (như) lầu hoa tan ra.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 6

Rửa mặt, nước sông trôi vạn dặm
Thuyền rồng xuôi gió xuống Dương Châu.
Cây rừng đất Bắc từng khoe lắm,
Về lại Nam kinh tưởng hoa nhàu.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 4:09 pm

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 7

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其七

锦水东流绕锦城,
星桥北挂象天星。   
四海此中朝圣主,
峨眉山下列仙庭。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 7

Cẩm thủy đông lưu nhiễu cẩm thành,[1]
Tinh Kiều[2] bắc quải tượng thiên tinh.
Tứ hải thử trung triêu thánh chủ,
Nga mi sơn hạ liệt Tiên đình.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 7

Nước sông Cẩm xuôi về hướng đông quây quanh (như dệt) gấm cho thành (Thành đô),
Những câu cầu (trên sông Cẩm) như hình tượng sao Bắc đẩu trên trời.
Bốn biển tụ lại chầu nhà vua
Dưới núi Nga mi các vị tiên đứng (chờ) ở dưới sân.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 7

Sông Cẩm xuôi đông dệt gấm Thành,
Tinh Kiều, Bắc đẩu cũng sao xanh.
Bốn biển một lòng chầu Thánh chúa
Nga mi, Tiên đứng đợi sân đình.


Bản diệt: Ngao_0p


1. Ý nói Thành đô.
2. Trên sông Cẩm giang có bảy chiếc cầu bắc qua xếp vị trí gần giống sao Bắc đẩu nên còn còn gọi là Tinh Kiều (cầu sao).
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 27, 2011 4:57 pm

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 8

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其八

秦开蜀道置金牛,
汉水元通星汉流。   
天子一行遗圣迹,
锦城长作帝王州。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 8

Tần khai Thục đạo trí kim ngưu,
Hán thủy nguyên thông tinh Hán lưu.
Thiên tử nhất hành di thánh tích,
Cẩm thành trường tác Đế vương châu.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 8

Nhà Tần mở đường vào Thục dựng trâu vàng
Nước sông Hán thông thoát dòng nước chảy xuôi
Thiên tử một lần dời đi để lại thánh tích
Thành Gấm dựng lên lâu dài là châu của bậc đế vương.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 8

Tần thông đường Thục dựng trâu vàng,
Sông Hán khai dòng nước chảy ngang.
Thiên tử tuần hành ghi thánh tích,
Gấm Thành, châu của Đế vương sang.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 8:06 am

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 9

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其九

水绿天青不起尘,
风光和暖胜三秦。   
万国烟花随玉辇,
西来添作锦江春。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 9

Thủy lục thiên thanh bất khởi trần,
Phong quang hòa noãn thắng Tam Tần.
Vạn quốc yên hoa tùy ngọc liễn
Tây lai thiêm tác Cẩm giang xuân.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 9

Trời xanh nước biếc bụi trần yên ả
Nắng gió hòa hợp ấm áp hơn cả đất Tam Tần
Khói hoa vạn nước cùng theo xe vua
Vào Tây làm tăng thêm vẻ xuân của dòng Cẩm Giang.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 9

Nước biếc trời xanh chẳng bụi trần
Nắng hòa gió hợp vượt Tam Tần.
Khói hoa vạn nước theo xe Chúa,
Sông Cẩm rạng ngời thắm sắc xuân.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 10:21 am

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 10

Nguyên tác chữ Hán:

上皇西巡南京歌其十

剑阁重关蜀北门,
上皇归马若云屯。  
少帝长安开紫极,
双悬日月照乾坤。
Phiên âm:

Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 10

Kiếm Các trọng quan Thục bắc môn,
Thượng hoàng quy mã nhược vân đồn.
Thiếu đế Trường an khai Tử cực,
Song huyền nhật nguyệt chiếu càn khôn.
Dịch nghĩa:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 10

Kiếm các là cửa ải quan trọng ở cửa Bắc của đất Thục.
Thượng hoàng quay ngựa về nơi đóng binh như cưỡi mây.
Ở Trường An, Thiếu đế xây dựng Tử Cực điện,
Treo đôi vòng Nhật nguyệt chiếu trời đất.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 10

Kiếm Các hiểm ải bắc Thục môn,
Thượng hoàng quay ngựa lướt mây dồn.
Trường An, Thiếu đế xây cung điện,
Nhật nguyệt đôi vòng chiếu Càn khôn.

Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 10:56 am

Thượng lưu điền hành

Nguyên tác chữ Hán:

上留田行

行至上留田,
孤墳何崢嶸。
積此萬古恨,
春草不復生。
悲風四邊來,
腸斷白楊聲。
借問誰家地,
埋沒蒿里塋。
古老向余言,
言是上留田。
蓬科馬鬣今已平,
昔之弟死兄不葬,
他人於此舉銘旌。
一鳥死,
百鳥鳴,
一獸走,
百獸驚。
桓山之禽別離苦,
欲去迴翔不能征。
田氏倉卒骨肉分,
青天白日摧紫荆。
交柯之木本同形,
東枝顦顇西枝榮。
無心之物尚如此,
參商胡乃尋天兵。
孤竹延陵,
讓國揚名。
高風緬邈,
頹波激清。
尺布之謠,
塞耳不能聽。
Phiên âm:

Thượng lưu điền hành

Hành chí Thượng lưu điền,
Cô phần hà tranh vanh.
Tích thử vạn cổ hận,
Xuân thảo bất phục sanh.
Bi phong tứ biên lai,
Trường đoạn bạch dương thanh.
Tá vấn thùy gia địa,
Mai một hao lí oanh.
Cổ lão hướng dư ngôn,
Ngôn thị thượng lưu điền.
Bồng khoa mã liệp kim dĩ bình,
Tích chi đệ tử huynh bất táng,
Tha nhân vu thử cử minh tinh.
Nhất điểu tử,
Bách điểu minh,
Nhất thú tẩu,
Bách thú kinh.
Hoàn san chi cầm biệt li khổ,
Dục khứ hồi tường bất năng chinh.
Điền thị thương tốt cốt nhục phân,
Thanh thiên bạch nhật tồi tử kinh.
Giao kha chi mộc bổn đồng hình,
Đông chi tiều tụy tây chi vinh.
Vô tâm chi vật thượng như thử,
Tham thương hồ nãi tầm thiên binh.
Cô trúc duyên lăng,
Nhượng quốc dương danh.
Cao phong miễn mạc,
Đồi ba kích thanh.
Xích bố chi dao,
Tắc nhĩ bất năng thính.
Dịch nghĩa:

Đến Thượng Lưu Điền

Bổ sung sau

Các bản dịch thơ:

Đến Thượng Lưu Điền

Bước chân đến Thượng lưu điền,
Một ngôi mộ lẻ lùm lùm nhô cao.
Chốn này khô hạn đã lâu,
Cỏ mùa xuân chẳng thể nào sinh sôi.
Sàu thương gió tự bốn trời,
Bạch dương vi vút bồi hồi ruột gan.
Đất nhà ai, một cỏ lan?
Cụ già thủng thẳng ân cần nói qua.
Thượng lưu điền, chính đó mà
Cỏ bờm, cỏ guột giờ đà nhẵn không.
Em chết anh chẳng được chôn,
Tống táng, người khác lo toan vội vàng.
Chim chết cả đàn kêu thương,
Thú chết, trăm thú kinh hoàng rừng sâu.
Núi Hoàn chim biết bay đâu
Muốn bay muốn vượt không sao thoát trời.
Họ Điền ruột thịt đôi nơi,
Thanh thiên bạch nhật chia phôi tan lìa.
Cây đâu còn vẹn dáng xưa,
Bên đông khô héo, Tây thừa tốt tươi.
Vật còn thế huống chi người,
Sâm Thương đôi ngã binh trời tận đâu.
Người chết thảm, kẻ mưu cầu
Triền miên gió thổi ào ào sóng reo.
Câu về ai rõ nông sâu,
Khúc nhôi đến lắm cơ màu đừng nghe.


Bản dịch: Ngô Văn Phú


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 2:03 pm

Thướng Tam Hiệp

Nguyên tác chữ Hán:

上三峽

巫山夾青天,
巴水流若茲。
巴水忽可盡,
青天無到時。
三朝上黃牛,
三暮行太遲。
三朝又三暮,
不覺鬢成絲。
Phiên âm:

Thướng Tam Hiệp[1]

Vu sơn giáp thanh thiên,
Ba thủy lưu nhược tư.
Ba thủy hốt khả tận,
Thanh thiên vô đáo thì.
Tam triêu thượng Hoàng ngưu,[2]
Tam mộ hành thái trì.
Tam triêu hựu tam mộ,
Bất giác mẩn thành ti.
Dịch nghĩa:

Lên Tam Hiệp

Núi Vu sơn giáp với trời xanh,
Sông Ba (Trường giang) nước chảy theo mùa.
Nước sông Ba (chợt) nhìn không thấy hết
Trời xanh chưa đến lúc
Ba buổi sáng đi lên Hoàng ngưu hiệp
Ba buổi chiều càng lúc càng chậm
Ba sáng lại ba chiều
Không hiểu sao tóc đã thành tơ.


Các bản dịch thơ:

Lên Tam Hiệp

Vu sơn giáp trời xanh,
Sông Ba chảy theo mùa.
Nước nhìn không thấy hết
Trời xanh chưa đến thời.
Ba sáng lên Hoàng ngưu
Thêm ba chiều càng chậm.
Sáng sáng lại chiều chiều,
Tóc bổng dưng thành tơ.


Bản diệt: Ngao_0p


1. Tam hiệp: Thuộc sông Trường giang có ba khe sông lớn là: Vu hiệp, Cù đường hiệp, Tây lăng hiệp.
2. Hoàng ngưu: Bến Hoàng ngưu còn gọi Hoàng ngưu hiệp là một nhánh của khe Vu hiệp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 2:14 pm

Tĩnh dạ tứ

Nguyên tác chữ Hán:

静夜思

床前明月光,
疑是地上霜。
举头望明月,
低头思故乡。
Phiên âm:

Tĩnh dạ tứ

Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Dịch nghĩa:

Cảm nghĩ đêm yên tĩnh

Đầu giường, ánh trăng rọi sáng,
Tưởng là sương trên mặt đất
Ngẩng đầu ngắm trăng sáng
Cúi đầu nhớ quê cũ.


Các bản dịch thơ:

Cảm nghĩ đêm yên tĩnh

Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.


Bản dịch: Tương Như

Đầu giường chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ trên đất, ngỡ rằng sương sa.
Ngửng đầu trông vẻ gương nga,
Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn.


Bản dịch: Trần Trọng Kim

Trước giường ngắm ánh trăng sa,
Trắng phơi mặt đất, ngỡ là ánh sương
Ngẩng đầu trông ngắm vầng trăng;
Cúi đầu lại nhớ xóm làng ngày xưa.


Bản dịch: Trần Trọng San


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 3:13 pm

Tô Đài Lãm Cổ

Nguyên tác chữ Hán:

蘇臺覽古

舊 苑 荒 臺 楊 柳 新
菱 歌 清 唱 不 勝 春。
只 今 惟 有 西 江 月
曾 照 吳 王 宮 裏 人 。
Phiên âm:

Tô Đài Lãm Cổ[1]

Cựu uyển hoang đài dương liễu tân
Lăng ca[2] thanh xướng bất thăng xuân
Chỉ kim duy hữu Tây Giang nguyệt
Tằng chiếu Ngô vương cung lý nhân.
Dịch nghĩa:

Xem cảnh cũ ở đài Cô Tô

Dương liễu mới trổ nơi đài hoang và vườn Thượng uyển cũ.
Tiếng hát trong trẻo bài “Lăng ca” (Thái lăng ca - hái củ ấu) vang lên níu kéo mùa xuân.
Nay chỉ còn vầng trăng trên sông Tây Giang
Là đã từng chiếu những người đẹp của Ngô vương trong cung.


Các bản dịch thơ:

Xem cảnh cũ ở đài Cô Tô

Vườn cũ, đài hoang, dương liễu tơ,
Lăng ca, ai hát khiến xuân chờ.
Tây Giang còn đó vầng trăng mộng,
Từng ngắm cung Ngô người ngọc xưa.


Bản diệt: Ngao_0p


1. Tô đài: tức đài Cô Tô nền cũ hiện tại Giang Tô tỉnh Tô Châu.
2. Lăng ca: tên đầy đủ là Thái Lăng ca, bài hát hái củ ấu.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 4:18 pm

Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn - kỳ 1

Nguyên tác chữ Hán:

送裴十八圖南歸嵩山其一

何处可为别,
长安青绮门。    
胡姬招素手,
延客醉金樽。    
临当上马时,
我独与君言。
风吹芳兰折,
日没鸟雀喧。    
举手指飞鸿,
此情难具论。    
同归无早晚,
颍水有清源。
Phiên âm:

Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn - kỳ 1

Hà xứ khả vi biệt ,
Trường an thanh ỷ môn.
Hồ cơ chiêu tố thủ,
Duyên khách túy kim tôn.
Lâm đương thượng mã thì,
Ngã độc dữ quân ngôn.
Phong xuy phương lan chiết,
Nhật một điểu tước huyên.
Cử thủ chỉ phi hồng,
Thử tình nan cụ luận.
Đồng quy vô tảo vãn,
Dĩnh thủy hữu thanh nguyên.
Dịch nghĩa:

Tiễn Bùi Thập Bát muốn về nam đến Tung Sơn - kỳ 1

Nơi nào làm ra biệt ly,
Trường An có rèm cửa xanh.
Có nàng mặc yếm vẩy bàn tay trắng,
Kéo khách say dài trong chén vàng.
Vừa lúc đang trên mình ngựa
Một mình ta kịp truyền lời vua
Gió thổi đưa hương cành lan cây cỏ đến.
Buổi chiều chìm đắm trong tiếng chim sẽ kêu
Chỉ tay nhìn chim hồng bay
Tình ta với ông không nói cho hết
Sớm hôm cùng nhau về
Sông Dĩnh có nguồn nước trong.


Các bản dịch thơ:

Tiễn Bùi Thập Bát muốn về nam đến Tung Sơn - kỳ 1

Biệt ly, ly biệt nơi nào?
Trường An thấp thoáng cổng chào rèm xanh.
Tay ngà, yếm thắm vẩy quanh
Chén vàng đong cả tâm tình khách say.
Một mình một ngựa vừa hay,
Lời vua ta đã giải bày cùng ông.
Gió đưa lan, cỏ hương nồng
Chim chiều kêu bạn chạnh lòng bốn phương.
Hồng kia bay lượn cuối đường
Tình ta sao nói cho tường hết đây.
Đường về hôm sớm vui vầy,
Nguồn con sông Dĩnh còn đầy nước trong!


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 28, 2011 4:44 pm

Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn - kỳ 2

Nguyên tác chữ Hán:

送裴十八圖南歸嵩山其二

君思颍水绿,
忽复归嵩岑。
归时莫洗耳,
为我洗其心。   
洗心得真情,
洗耳徒买名。
谢公终一起,
相与济苍生。
Phiên âm:

Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn - kỳ 2

Quân tư Dĩnh thủy lục,
Hốt phục quy Tung sầm.
Quy thì mạc tẩy nhĩ ,
Vi ngã tẩy kì tâm.
Tẩy tâm đắc chân tình,
Tẩy nhĩ đồ mãi danh.
Tạ công chung nhất khởi,
Tương dữ tế thương sinh.
Dịch nghĩa:

Tiễn Bùi Thập Bát muốn về nam đến Tung Sơn - kỳ 2

Ông suy nghĩ về làn nước biếc của sông Dĩnh,
Chợt lại quay về núi Tung sơn.
khi về thì nhớ đừng rửa tai
Vì tôi ông hãy rửa tâm của mình.
Rửa tâm thì được tình chân thật,
Rửa tai chỉ là đồ mua danh.
Từ tạ ông trong hết một lần
Hứa cùng nhau giúp người đời.


Các bản dịch thơ:

Tiễn Bùi Thập Bát muốn về nam đến Tung Sơn - kỳ 2

Ông suy tư nước biếc,
Chợt muốn về núi Tung
Khi về, tai đừng rửa
Vì ta hãy rửa tâm.
Rửa tâm, tình chân thật,
Rửa tai đám hão danh.
Biệt ông trong lần cuối,
Hứa cùng giúp dân lành.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 29, 2011 10:13 am

Tống Chúc Bát chi Giang Đông phú đắc Cán Sa Thạch

Nguyên tác chữ Hán:

送祝八之江東赋得浣紗石

西施越溪女,
明豔光雲海。
未入吳王宮殿時,
浣紗古石今猶在。
桃李新開映古查,
菖蒲猶短出平沙。
昔時紅粉照流水,
今日青苔覆落花。
君去西秦適東越,
碧山青江幾超忽。
若到天涯思故人,
浣紗石上窺明月。
Phiên âm:

Tống Chúc Bát chi Giang Đông phú đắc Cán Sa Thạch

Tây Thi Việt khê nữ,
Minh diễm quang vân hải.
Vị nhập ngô vương cung điện thì,
Cán sa cổ thạch kim do tại.
Đào lí tân khai ánh cổ tra,
Xương bồ do đoản xuất bình sa.
Tích thì hồng phấn chiếu lưu thủy,
Kim nhật thanh đài phúc lạc hoa.
Quân khứ tây tần thích đông việt,
Bích sơn thanh giang kỷ siêu hốt.
Nhược đáo thiên nhai tư cố nhân,
Cán Sa Thạch thượng khuy minh nguyệt.
Dịch nghĩa:

Tiển Chúc Bát đi Giang Đông đến Cán Sa Thạch

Tây Thi cô gái bên bờ suối nước Việt
Nhan sắc sáng rực biển, mây.
Lúc chưa vào cung điện của vua Ngô
Từng giặt lụa trên phiến đá cổ ở đây
Đào, mận nở hoa xung quanh
Cỏ xương bồ còn ngắn mọc ở bãi cát bằng
Chuyện xưa ghi má hồng soi dòng nước nước chảy,
Hôm nay đài rêu lật hoa rơi rụng
Ông đến Tây Tần rồi đến Đông Việt
Núi biếc sông xanh vượt qua bao dặm đường
Thuận đến Thiên nhai nhớ người xưa.
Cán Sa Thạch đứng nhìn trăng sáng.


Các bản dịch thơ:

Tiển Chúc Bát đi Giang Đông đến Cán Sa Thạch

Tây Thi gái nước Việt
Nhan sắc rực biển mây.
Cung Ngô chưa đến những ngày
Lụa sa từng giặt bến này thuở xưa.
Mận, đào hoa nở đẩy đưa,
Cát bằng cỏ mọc lưa thưa ven đường.
Má hồng lấy nước làm gương,
Hôm nay hoa rụng vướng vương rêu đài.
Tây Tần, Đông Việt dặm dài,
Sông xanh núi biếc miệt mài ông qua.
Thiên Nhai, nhớ cố nhân à?
Cán Sa Thạch đứng vỡ òa ánh trăng.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 29, 2011 10:42 am

Tống Dương Sơn Nhân Quy Tung Sơn

Nguyên tác chữ Hán:

送杨山人归嵩山

我有万古宅,
嵩阳玉女峰。   
长留一片月,
挂在东溪松。   
尔去掇仙草,
菖蒲花紫茸。   
岁晚或相访,
青天骑白龙。
Phiên âm:

Tống Dương Sơn Nhân Quy Tung Sơn

Ngã hữu vạn cổ trạch,
Tung Dương Ngọc Nữ phong
Trường lưu nhất phiến nguyệt
Quải tại đông khê tùng
Nhĩ khứ xuyết tiên thảo
Xương bồ hoa tử nhung.
Tuế vản hoặc tương phỏng
Thanh thiên kỵ bạch long.
Dịch nghĩa:

Tiễn người ở núi họ Dương về Tung Sơn

Ta có ngôi nhà cổ đã lâu năm
Nhà ở núi Tung Dương, đỉnh Ngọc Nữ
Lưu mãi một mảnh trăng
Treo ở cây thông bên bờ suối phía đông.
Nay đi hái cỏ tiên
Nõn hoa xương bồ tím
Năm hết có thể ghé thăm nhau
Cưỡi rồng trắng bay lên trời xanh.


Các bản dịch thơ:

Tiễn người ở núi họ Dương về Tung Sơn

Ta có ngôi nhà cổ,
Đỉnh Ngọc Nữ, Tung Dương.
Trăng treo dài một mảnh
Trên cây thông, suối đông.
Cỏ tiên ông đi hái
Xương bồ tím mịn màng
Cuối năm thăm nhau nhỉ?
Trời xanh, ta cưỡi rồng.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 29, 2011 3:19 pm

Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế

Nguyên tác chữ Hán:

送賀監歸四明應制

久辞荣禄遂初衣,
曾向长生说息机。   
真诀自从茅氏得,
恩波宁阻洞庭归。   
瑶台含雾星辰满,
仙峤浮空岛屿微。   
借问欲栖珠树鹤,
何年却向帝城飞。
Phiên âm:

Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế

Cửu từ vinh lộc toại sơ y,
Tằng hướng trường sanh thuyết tức ky.
Chân quyết tự tòng Mao thị đắc,
Ân ba ninh trở Động Đình quy.
Dao Đài hàm vụ tinh thần mãn,
Tiên kiệu phù không đảo tự vi.
Tá vấn dục tê châu thụ hạc,
Hà niên tức hướng Đế thành phi.
Dịch nghĩa:

Thơ ứng chế tiễn Hạ Giám về Tư Minh

Từ lâu đã muốn bỏ vinh hoa lợi lộc khoát áo đơn sơ,
Bèn học phép trường sinh hướng đến thoát vòng danh lợi.
Phép bí truyền chân thật từ theo Mao thị
Ơn vua về ở hồ Động Đình
Dao Đài sương phủ trăng sao đầy
Núi Tiên nổi nhiều bãi giữa trời.
Thử hỏi cành châu chim hạc đậu
Năm nào mới bay về Đế thành.


Các bản dịch thơ:

Thơ ứng chế tiễn Hạ Giám về Tư Minh

Từ giã vinh hoa, khoát áo tơi
Trường sinh theo học cốt quên đời
Bí truyền Mao thị mong ra chốn
Ân chúa Động Đình được đến nơi.
Sương phủ đài Dao sao xuống thấp,
Núi che bãi nổi đảo lưng trời.
Cành châu hạc đậu, cho ta hỏi,
Thành Đế năm nào mới đến chơi?


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 29, 2011 4:47 pm

Tống Hạ tân khách quy Việt[1]

Nguyên tác chữ Hán:

送贺宾客归越

镜湖流水漾清波,
狂客归舟逸兴多。   
山阴道士如相见,
应写黄庭换白鹅。
Phiên âm:

Tống Hạ tân khách quy Việt

Kính hồ lưu thuỷ dạng thanh ba
Cuồng khách[2] quy chu dật hứng đa
Sơn âm đạo sĩ như tương kiến
Ưng tả Hoàng đình[3] hoán bạch nga
Dịch nghĩa:

Tiễn Hạ Tri Chương về Việt

Mặt hồ như gương nước chảy gợn sóng xanh sóng sánh,
Người khách cuồng về thuyền nổi cơn hứng thú.
Đạo sĩ ở núi phía Bắc cùng đến gặp
Nói đổi kinh Hoàng đình lấy ngỗng trắng.


Các bản dịch thơ:

Tiễn Hạ Tri Chương về Việt

Nhấp nhô hồ nước tựa gương trong
Cuồng khách về ghe sóng gợn lòng.
Đạo sĩ Âm sơn cùng đến gặp,
Hoàng đình, ngỗng trắng đổi nhau không?


Bản diệt: Ngao_0p


1. Bài thơ này Lý Bạch làm tặng hạ Tri Chương.
2.Hạ Tri Chương thường tự xưng mình là "Tư Minh cuồng khách".
3. Tích truyện Vương Hi Chi nhà đại thư pháp thời Đông Tấn, tác già cuốn thư pháp Lan Đình tập tự nổi tiếng đã dùng bút pháp của mình viết kinh Hoàng đình để đổi bầy ngỗng của đạo sĩ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 29, 2011 4:58 pm

Tống hữu nhân

Nguyên tác chữ Hán:

送友人

青山橫北郭,
白水遶東城。
此地一為別,
孤蓬萬里征。
浮雲游子意,
落日故人情。
揮手自茲去,
蕭蕭班馬鳴。
Phiên âm:

Tống hữu nhân

Thanh sơn hoành Bắc quách,
Bạch thuỷ nhiễu Đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình.
Huy thủ tự tư khứ,
Tiêu tiêu ban mã minh.
Dịch nghĩa:

Tiễn bạn

Rặng núi xanh vắt ngang ải bắc.
Dòng sông trắng lượn quanh thành đông.
Một lần từ biệt đất này,
Bạn như cỏ bồng lẻ loi đi xa muôn dặm.
Ý du tử ví như đám mây trôi chóng tan.
Tình cố nhân giống như mặt trời lặn.
Bạn vẫy tay ra đi từ nay.
Tiếng con ngựa lìa đàn nghe rất buồn thương.


Các bản dịch thơ:

Tiễn bạn

Chạy dài cõi Bắc non xanh,
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước non này chỗ đưa nhau,
Một xa, muôn dặm biết đâu cánh bồng!
Chia phôi khác cả mối lòng,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Vẫy tay thôi đã rời xa,
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.


Bản dịch: Tản Đà


Cửa Bắc non ngăn lại,
Thành Đông nước uốn theo.
Một lìa non nước ấy,
Muôn dặm cánh bồng veo!
Du tử: lòng mây nổi,
Cố nhân: tình bóng chiều.
Vẫy tay từ đây biệt,
Tiếng ngựa não nùng reo.


Bản dịch: Khương Hữu Dụng


Núi ngang ải bắc xanh xanh,
Một dòng sông trắng lượn quanh đông thành.
Nơi đây cất bước viễn hành,
Cỏ bồng muôn dặm một mình xa xôi.
Ý du tử: đám mây trôi;
Tình cố nhân: ánh nắng chiều vấn vương.
Vẫy tay từ đấy lên đường,
Tiếng con ngựa hý đau thương lìa đàn.


Bản dịch: Trần Trọng San


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 30, 2011 8:58 am

Tống hữu nhân nhập Thục

Nguyên tác chữ Hán:

送友人入蜀

見 說 蠶 叢 路
崎 嶇 不 易 行
山 從 人 面 起
雲 傍 馬 頭 生
芳 樹 籠 秦 棧
春 流 繞 蜀 城
升 沈 應 已 定
不 必 問 君 平 。
Phiên âm:

Tống hữu nhân nhập Thục

Kiến thuyết Tàm Tùng lộ
Kỳ khu bất dị hành
Sơn tòng nhân diện khởi
Vân bạng mã đầu sinh
Phương thụ lung Tần sạn
Xuân lưu nhiễu Thục thành
Thăng trầm ưng dĩ định
Bất tất vấn Quân Bình[1].
Dịch nghĩa:

Tiễn bạn vào xứ Thục

Thấy nói đường vào (xứ Thục) tên là Tàm Tùng,
Đường gập ghềnh, khúc khuỷu không dễ đi.
Núi cứ theo chân người mà chắn ngang trước mặt,
Mây thấp sát ngay đầu ngựa
Cây thơm che bóng trên đường lát gỗ (từ) đời Tần.
Dòng nước mùa xuân chảy quanh thành đô xứ Thục
Thời vận lên xuống (của mỗi người, trời) đã định trước
Đâu cần phải hỏi ông Quân Bình!


Các bản dịch thơ:

Tiễn bạn vào xứ Thục

Mảng nghe bên nước Tàm Tùng
Đường đi khấp khểnh khó lòng buông chân.
Núi theo trước mặt nổi dần,
Mây quanh đầu ngựa dần dần mọc ra.
Đường Tần lát ván rường xa,
Nước sông ngoắc ngoéo diễn qua Thục thành.
Việc đời chìm nổi đã đành,
Chẳng cần phải hỏi Quân Bình làm chi.


Bản dịch: Trần Trọng Kim

Thấy nói quê vua Thục,
Đường đi rất gập ghềnh.
Mặt người, sườn núi ngất,
Đầu ngựa bóng mây quanh.
Cây lợp con Tần sạn,
Sông vây dải Thục thành.
Bổng chìm trời đã định,
Cần chi hỏi Quân Bình.


Bản dịch: Ngô Tất Tố


1. Nghiêm Quân Bình (86 - 10 TCN), tư tưởng gia, đạo gia thời Tây Hán.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 30, 2011 9:07 am

Tống khách quy Ngô

Nguyên tác chữ Hán:

送客归吴

江村秋雨歇,
酒尽一帆飞。
路历波涛去,
家惟坐卧归。
岛花开灼灼,
汀柳细依依。
别后无馀事,
还应扫钓矶。
Phiên âm:

Tống khách quy Ngô

Giang thôn thu vũ yết
Tửu tận nhất phàm phi
Lộ lịch ba đào khứ
Gia duy tọa ngọa qui
Đảo hoa khai chước chước
Đinh liễu tế y y
Biệt hậu vô dư sự
Hoàn ưng tảo điếu ky.
Dịch nghĩa:

Tiển khách đi về Ngô

Xóm bên sông, cơn mưa thu vừa tạnh
Rượu vừa cạn chén, một lá buồm ra đi như bay
Đường đi lướt trên những làn sóng,
Trong thuyền dù ngồi hay nằm cũng sẻ về đến nhà
Cây trên đảo nở hoa rực rỡ
Liễu bên bờ rủ tơ thướt tha
Sau lúc chia tay rồi chẳng còn có việc gì nữa,
Phủ tấm đá lại ngồi câu cá


Các bản dịch thơ:

Tiển khách đi về Ngô

Sông thu ngớt hạt mưa tuôn
Rượu vừa cạn chén, cánh buồm xa bay
Đường đi trải mấy nước mây
Ngồi nằm, ai chẳng khó thay đến nhà
Ca6y đồi hớn hở ra hoa
Lăn tăn lá liễu thướt tha bên ngàn
Xa nhau rồi những thanh nhàn
Thú chơi quét tấm thạch bàn ngồi câu.


Bản dịch: Tản Đà


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Tống Khúc Thập thiếu phủ   Fri Dec 30, 2011 9:51 am

Tống Khúc Thập thiếu phủ

Nguyên tác chữ Hán:

送麴十少府

試發清秋興,
因爲吳會吟。
碧雲歛海色,
流水折江心。
我有延陵劍,
君無陸賈金。
艱難此爲別,
惆悵一何深。
Phiên âm:

Tống Khúc Thập thiếu phủ

Thí phát thanh thu hứng,
Nhân vi Ngô hội ngâm.
Bích vân liễm hải sắc,
Lưu thủy Chiết giang tâm.
Ngã hữu Duyên lăng kiếm,
Quân vô Lục Giả[1] kim.
Gian nan thử vi biệt,
Trù trướng nhất hà thâm.
Dịch nghĩa:

Tiễn Thiếu phủ Khúc Thập

Thử ra ngoài (gặp) trời thu trong, thi hứng nổi lên
Nương theo hội ca ngâm của đất Ngô.
Mây biếc gom màu sắc của nước biển
Nước chảy trong lòng sông Chiết Giang
Ta có cây kiến Duyên lăng
Ông có có vàng của Lục Giả
Chia tay nhau thật khó
Nỗi buồn thật nặng nề biết bao!


Các bản dịch thơ:

Tiễn Thiếu phủ Khúc Thập

Ra trời trong, thi hứng
Nương hội Ngô khúc ngâm.
Mây biếc gom màu biển
Chiết Giang nước chảy ngầm.
Kiếm Duyên Lăng ta có,
Vàng Lục Giả ông thâm
Chia tay sao khó thế,
Buồn chất ngất trong tâm!


Bản diệt: Ngao_0p


1. Lục Giả: mưu sĩ của Hán tổ Lưu Bang.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 30, 2011 11:52 am

Tống Trữ Ung chi Vũ Xương

Nguyên tác chữ Hán:

送麴十少府

黄鹤西楼月,
长江万里情。
春风三十度,
空忆武昌城。
送尔难为别,
衔杯惜未倾。
湖连张乐地,
山逐泛舟行。
诺为楚人重,
诗传谢脁清。
沧浪吾有曲,
寄入棹歌声。
Phiên âm:

Tống Trữ Ung chi Vũ Xương

Hoàng Hạc tây lâu nguyệt,
Trường Giang vạn lí tình.
Xuân phong tam thập độ,
Khổng ức Vũ Xương thành.
Tống nhĩ nan vi biệt,
Hàm bôi tích vị khuynh.
Hồ liên trương nhạc địa,
Sơn trục phiếm chu hành.
Nặc vi Sở nhân trọng,
Thi truyền Tạ Diễu thanh.
Thương Lang ngô hữu khúc,
Kí nhập trạo ca thanh.
Dịch nghĩa:

Tiễn Trữ Ung đi Vũ Xương

Ánh trăng treo ở phía tây lầu Hoàng Hạc,
Trường Giang sông rộng tình trải vạn dặm.
Gió xuân đưa đẩy độ ba mươi lần,
Nhớ lắm thành Vũ Xương
Tiễn ông đi khó (nói lời) ly biệt
Nuốt chén rượu tiếc không say được
Hồ (Động Đình) hợp với đất giương khúc nhạc
Núi cùng theo nổi lòng của thuyền trên cuộc hành trình
Tiếng "dạ, vâng" bao nhiêu người nước Sở trọng.
Thơ truyền ở (lầu?) Tạ Diễu thanh tao
Sông Thương Lang ta có khúc hát,
Gởi lời ca vào mái chèo.


Các bản dịch thơ:

Tiễn Trữ Ung đi Vũ Xương

Trăng lầu tây Hoàng Hạc
Trường Giang vạn dặm tình.
Gió xuân ba mươi lượt
Nhớ lắm Vũ Xương thành.
Tiễn ông, chia tay khó
Muốn say rượu cạn bình.
Đất, hồ giao khúc nhạc,
Núi dõi cuộc hành trình
"Dạ, vâng" người Sở trọng,
Tạ Diễu, thơ lung linh.
Ta hát Thương Lang khúc
Mái chèo nhịp sóng xanh.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Jan 03, 2012 9:10 am

Tống Trương xá nhân chi Giang đông

Nguyên tác chữ Hán:

送張舍人之江東

张翰江东去,
正值秋风时。   
天清一雁远,
海阔孤帆迟。   
白日行欲暮,
沧波杳难期。   
吴洲如见月,
千里幸相思。
Phiên âm:

Tống Trương xá nhân chi Giang đông

Trương Hàn Giang Đông khứ,
Chính trị thu phong thì.
Thiên thanh nhất nhạn viễn,
Hải khoát cô phàm trì.
Bạch nhật hành dục mộ,
Thương ba liểu nan kỳ.
Ngô Châu như kiến nguyệt,
Thiên lý hạnh tương tư.
Dịch nghĩa:

Tiễn Xá nhân họ Trương đi Giang Đông

Trương Hàn đi đến Giang Đông,
Đúng vào lúc gió thu đến.
Trời xanh một cánh nhạn lạc loài,
Biển mênh mông một cách buồm đi chậm chạp.
Ngày đã qua chiều lại đến
Sóng mênh mông, mờ mịt khó gặp lại,
Khi đến Ngô Châu nhìn thấy ánh trăng
Ngàn dặm may nhớ đến nhau.


Các bản dịch thơ:

Tiễn Xá nhân họ Trương đi Giang Đông

Giang Đông, Trương Hàn đến,
Đúng mùa gió thu sang.
Trời xanh nhạn cô lẻ,
Biển rộng, buồm vương mang.
Ngày qua trời lại tối,
Sóng khuất nẻo ngút ngàn.
Trăng Ngô Châu như gặp
Đây đó nhớ bạn vàng.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Jan 03, 2012 9:55 am

Tòng Quân Hành

Nguyên tác chữ Hán:

從軍行

百戰沙場碎鐵衣
城南已合數重圍 。
突營射殺呼延將
獨領殘兵千騎歸 。
Phiên âm:

Tòng Quân Hành

Bách chiến sa trường toái thiết y
Thành nam dĩ hợp sổ trùng vi.
Đột doanh sạ sát Hô Duyên tướng
Độc lĩnh tàn binh thiên kỵ quy.
Dịch nghĩa:

Bài hát tòng quân

Đã đánh cả trăm trận nơi sa trường, giáp sắt mòn.
Địch quân đã vây nhiều lớp ngoài phía nam thành.
(Tướng quân) đột ngột cho mở cửa, dẫn quân ra bắn chết tướng Hung nô.
Một mình ông trở về với khoảng một ngàn kỵ binh còn sống sót.


Các bản dịch thơ:

Bài hát tòng quân

Trăm trận chiến trường, giáp chẳng lành
Nam thành lớp lớp địch vây quanh.
Mở đường chóng giết Hung nô tướng
Khinh kỵ ngàn quân hát khải hành.


Bản diệt: Ngao_0p


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Jan 03, 2012 10:16 am

Trào Lỗ nho

Nguyên tác chữ Hán:

嘲魯儒

鲁叟谈五经,
白发死章句。   
问以经济策,
茫如坠烟雾。   
足著远游履,
首戴方山巾。   
缓步从直道,
未行先起尘。   
秦家丞相府,
不重褒衣人。   
君非叔孙通,
与我本殊伦。   
时事且未达,
归耕汶水滨。
Phiên âm:

TòTrào Lỗ nho

Lỗ tẩu đàm ngũ kinh
Bạch phát tử chương cú.
Vấn dĩ kinh tế sách
Mang nhiên trụy yên vụ.
Túc trước viễn du lý
Thủ đới phương sơn cân
Hoãn bộ tòng trực đạo
Vị hành tiên khởi trần
Tần gia Thừ Tướng phủ
Bất trọng bao y nhân
Quân phi Thúc Tôn Thông
dữ ngã bản thù luân.
Thời sự thả vị đạt
Quy canh Vấn thủy tân.
Dịch nghĩa:

Giễu ông đồ nước Lỗ

Ông già nước Lỗ bàn chuyện năm kinh
Tóc bạc vùi trong những từ chương đã chết
Hỏi ông cách giúp đời gúp nước
Ông ngơ ngác như từ mây mù rơi xuống
Chân ông đi giày "viễn du"
Đầu ông chít khăn kiểu "phương sơn"
Khệnh khạng ông bước trên đường thẳng
Chưa đi đã thấy bụi bay mù
Phủ Thừa tướng nhà Tần
Không ưa những người áo dài lụng thụng
Ông không phải là Thúc Tôn Thông
So với tôi , ông cũng không giống
Chuyện đời ông còn chưa thông tỏ
Nên về bờ sông Vấn đi cày.


Các bản dịch thơ:

Giễu ông đồ nước Lỗ

Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh
Bạc đầu nhai chết từng chương cú
Hỏi ông giúp đời thế nào đây ?
Mờ mịt như người mây khói phủ!
Chân đi đôi giày "viễn du lý"
Đầu đội chiếc khăn phương sơn cân"
Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng
Chưa đi bụi đã như mây vần
Này , phủ thừa tướng đời nhà Tần
Không trọng những người áo lụng thụng
Ông không phải hạng Thúc Tôn Thông
Ông so với tôi cũng không giống!
Việc đời đã chẳng hiểu chi chi
Bến Vấn liệu về cày cho chóng!


Bản dịch: Hoàng Tạo


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Jan 04, 2012 8:35 am

Trường Can hành - kỳ 1

Nguyên tác chữ Hán:

長干行之一

妾髮初覆額,
折花門前劇﹔
郎騎竹馬來,
遶床弄青梅。
同居長干裡,
兩小無嫌猜。
十四為君婦,
羞顏未嘗開﹔
低頭向暗壁,
千喚不一回,
十五始展眉,
願同塵與灰﹔
常存抱柱信,
豈上望夫臺?
十六君遠行,
瞿塘灩澦堆﹔
五月不可觸,
猿鳴天上哀。
門前遲行跡,
一一生綠苔﹔
苔深不能掃,
落葉秋風早。
八月蝴蝶來,
雙飛西園草。
感此傷妾心,
坐愁紅顏老。
早晚下三巴,
預將書報家﹔
相迎不道遠,
直至長風沙。
Phiên âm:

Trường Can hành - kỳ 1[1]

Thiếp phát sơ phú ngạch,
Chiết hoa môn tiền kịch.
Lang kỵ trúc mã lai,
Nhiễu sàng lộng thanh mai.
Đồng cư Trường Can lý,
Lưỡng tiểu vô hiềm sai.
Thập tứ vi quân phụ,
Tu nhan vị thường khai.
Đê đầu hướng ám bích,
Thiên hoán bất nhất hồi.
Thập ngũ thuỷ triển mi,
Nguyện đồng trần dữ bôi.
Thường tồn bảo trụ tín, [2]
Khởi thướng Vọng Phu đài? [3]
Thập lục quân viễn hành,
Cồ Đường, Diễm Dự đôi.[4]
Ngũ nguyệt bất khả xúc,
Viên thanh thiên thượng ai.
Môn tiền cựu hành tích,
Nhất nhất sinh lục đài.
Đài thâm bất năng tảo,
Lạc diệp thu phong tảo.
Bát nguyệt hồ điệp lai,
Song phi tây viên thảo.
Cảm thử thương thiếp tâm,
Toạ sầu hồng nhan lão.
Tảo vãn hạ Tam Ba,[5]
Dự tương thư báo gia.
Tương nghinh bất đạo viễn,
Trực chỉ Trường Phong Sa.[6]
Dịch nghĩa:

Bài ca Trường Can - kỳ 1

Tóc em mới xoà ngang trán
Bẻ hoa trước cửa nhà chơi
Chàng cửa ngựa tre đến
Quanh giường nghịch ném quả mơ xanh
Cùng sống ở đất Trường Can
Hai đứa nhỏ chẳng hề giữ ý
Năm mười bốn làm vợ anh
Mặt thẹn thò không lúc nào tươi
Cúi đầu ngoảnh vào vách tối
Gọi nghìn câu chẳng một lời đáp lại
Năm mười lăm mới tươi tỉnh mặt mày
Nguyện sống chết chẳng rời nhau
Thường tin chàng như người ôm cột một lòng
Há tưởng thiếp phải lên đài cao ngóng chồng
Năm mười sáu chàng đi xa
Đến Cồ Đường , Diệm Dự
Tháng năm nơi ấy không thể qua
Tiếng vượn kêu vang trời thảm thiết
Trước cửa dấu chân bước dạo xưa
Chỗ nào cũng rêu xanh phủ mờ
Rêu dầy không quét được
Lá sớm rụng theo gió mùa thu
Tháng tám bướm bay vàng chới
Từng đôi dập dùi trên vườn cỏ phía tây
Cám cảnh ấy , lòng thiếp đau đớn
Ngồi buồn , tuổi con gái ngày một già
Sớm muộn chàng tới Tam Ba
Hãy gửi thư về nhà báo trước
Đón nhau ngại vì đường xa
Thiếp sẽ tời tận Trường Phong Sa.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Trường Can - kỳ 1

Khi tóc vừa buông trán,
Hái hoa trước cổng chơi.
Chàng cưỡi ngựa tre đến.
Quanh giường tung trái mai.
Trường Can cùng chung xóm,
Cả hai đều thơ ngây.
Mười bốn, về làm vợ,
Thiếp còn e lệ hoài.
Cúi đầu vào vách tối,
Gọi mãi, chẳng buồn quay.
Mười lăm, mới hết thẹn,
Thề cát bụi không rời.
Bền vững lòng son sắc,
Há lên Vọng phu đài.
Mười sáu, chàng đi xa,
Cồ Đường, Diễm Dự đôi.
Tháng năm không đến được;
Vượn buồn kêu trên trời.
Trước cổng vết chân cũ,
Rêu xanh mọc um đầy.
Rêu nhiều không quét hết,
Gió thổi, lá vàng rơi.
Tháng tám, bươm bướm vàng,
Trên cỏ vườn bay đôi.
Cảnh ấy đau lòng thiếp,
Má hồng buồn phôi pha .
Khi chàng xuống Tam Ba,
Nhớ gởi thư về nhà.
Thiếp sẽ mau đi đón ,
Đến thẳng Trường Phong Sa.


Bản dịch: Trần Trọng San

Tóc em mới kín trán
Trước cửa bẻ hoa đùa
Chàng cưỡi ngựa trúc lại
Quanh ghế tung mơ chua
Cùng ở xóm Trường Can
Đôi trẻ vui tha hồ
Mười bốn làm vợ chàng
Thơ ngây em hổ thẹn
Bên vách cúi gầm đầu
Mặc dầu chàng gọi đến
Mười lăm mới bạo dạn
Quấn nhau không muốn rời
Ôm cột nguyền giữ ước
Vọng phu chẳng lên đài
Mười sáu chàng đi xa
Tháp Cồ, hòn Diệm Dự
Nước lớn đang tháng năm
Vượn kêu buồn lắm nữa
Vết giày in trước cửa
Xanh xanh rêu mọc đầy
Rêu nhiều không thể quét
Lá rụng gió thu bay
Tháng tám bươm bướm vàng
Bay đôi trên áng cỏ
Xúc cảm em đau lòng
Héo già thương má đỏ
Chàng sớm rời Tam Ba
Báo thư trước về nhà
Đón chàng em há quản
Đến tận Trường Phong Sa.


Bản dịch: Trúc Khê


1. Trường Can là tên đất ở huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
2. Thường tin chàng như người ôm cột một lòng: Vi Sinh hẹn người tình đến gặp dưới chân cầu, nhưng người tình không đến. Thủy triều lên , chàng không chịu dời, ôm cột mà chết.
3. Vọng Phu Đài : Ở nam Trung châu, tỉnh Tứ Xuyên.
4. Cồ Đường, Diệm Dự : hai nơi có đá ngầm trên sông Trường Giang, thuộc Tứ Xuyên.
5. Tam ba: ba vùng đất mang tên Ba, đó là Ba Thục, Ba Đông và Ba Tây (đông bắc Tứ Xuyên).
6.Trường Phong Sa: một địa danh trên sông Trường Giang thuộc tỉnh An Huy, cách rất xa xóm Trường Can.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Jan 04, 2012 9:03 am

Trường Can hành - kỳ 2

Nguyên tác chữ Hán:

長干行之二

憶妾深閨裡,
煙塵不曾識。
嫁與長干人,
沙頭候風色。
五月南風興,
思君下巴陵。
八月西風起,
想君發揚子。
去來悲如何,
見少別離多。
湘潭幾日到,
妾夢越風波。
昨夜狂風度,
吹折江頭樹。
淼淼暗無邊,
行人在何處。
好乘浮雲驄,
佳期蘭渚東。
鴛鴦綠蒲上,
翡翠錦屏中。
自憐十五餘,
顏色桃花紅。
那作商人婦,
愁水又愁風。
Phiên âm:

Trường Can hành - kỳ 2

Ức thiếp thâm khuê lý,
Yên trần bất tằng thức.
Giá dữ Trường Can nhân,
Sơn đầu hậu phong sắc .
Ngũ nguyệt nam phong hưng,
Tư quân há Ba Lăng.
Bát nguyệt tây phong khởi,
Tưởng quân phát Dương Tử.
Khứ lai bi như hà,
Kiến thiểu biệt ly đa.
Tương đàm kỷ nhật đáo,
Thiếp mộng việt phong ba.
Tạc dạ cuồng phong độ,
Xuy chiếc giang đầu thụ.
Diểu diểu án phong biên,
Hành nhân tại hà xứ.
Hảo thừa phù vân thông,
Giai kỳ lan chử đông.
Uyên ương lục bồ thượng,
Phỉ thúy cẩm bình trung.
Tự lân thập ngũ dư,
Nhan sắc đào hoa hồng.
Na tác thương nhân phụ,
Sầu thủy phục sầu phong.
Dịch nghĩa:

Bài ca Trường Can - kỳ 2

Nhớ lại lúc còn ở trong phòng khuê sâu kín chưa từng biết cảnh gió bụi;
Từ khi lấy chồng người Trường Can, thường lên đầu núi , chờ đợi sắc gió.
Tháng năm khi gió nam thổi, thiếp đang nghĩ chàng dang đi xuống huyện Ba lăng.
Tháng tám khi gió tây thổi, thiếp nghĩ đến chàng đang từ sông Dương Tử ra đi.
Từ trước đến nay đau thương đến như thế nào?
Gặp nhau thì ít mà ly biệt thì nhiều.
Biết bao nhiêu ngày mới được huyện Tương Đàm?
Thiếp nằm mơ thấy vượt qua sóng gió.
Đêm qua cơn gió thổi mạnh qua, làm gãy cây cối ở đầu sông.
Bên gió tối mịt mùng, người đi bây giờ đang ở đâu?
Thiếp mong được cỡi con ngựa là đám mây nổi kia, để đến gặp chàng ở phía đông bãi lan.
Chim uyên ương nằm trên lớp cỏ bồ xanh; chim phỉ thúy thêu trên bức bình phong gấm.
Trông thấy cảnh đó, thiếp tự thương mình, mới hơn mười lăm tuổi, nhan sắc đỏ thắm như hoa đào, mà sao lại làm vợ người lái buôn, hết buồn vì nước lại buồn vì gió.


Các bản dịch thơ:

Bài ca Trường Can - kỳ 2

Nhớ xưa trong phòng khuê,
Chẳng từng biết gió bụi.
Lấy chồng người Trường Can,
Đợi gió trên đầu núi.
Tháng năm gió nam nổi
Chàng đang xuống Ba Lăng.
Tháng tám gió tây thổi,
Chàng đang qua sông Dương.
Bấy nay buồn biết mấy,
Ít gặp, nhiều chia xa.
Tương Đàm bao ngày tới?
Thiếp mộng vượt phong ba.
Trận cuồng phong đêm trước,
Bẻ gẫy cây đầu sông.
Mịt mùng bên gió tối,
Người đi biết đâu vùng.
Mong cưỡi ngựa mây nổi,
Hẹn nhau tại bến đông.
Uyên ương trên cỏ biếc,
Phỉ thúy trong bình phong.
Thương thay mười lăm tuổi,
Nhan sắc thắm hoa đào.
Nay thành người thương phụ,
Gió nước gợi sầu đau.


Bản dịch: Trần Trọng San


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    

Về Đầu Trang Go down
 
Lý Bạch
Về Đầu Trang 
Trang 7 trong tổng số 9 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Nước Ngoài :: Thơ Đường Trung Quốc-
Chuyển đến