Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

December 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Công Trứ
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Lưu Linh
Quách Tấn
Keywords
Đường Trần Xương Phong nhất Khuyến dũng bính Chỉnh Pháp huyền quang Huynh Trọng Hạnh những thường miền Liên nguyễn

Share | 
 

 Ðổ Phủ

Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Ðổ Phủ    Sat Dec 03, 2011 11:07 am

Ðổ Phủ
(712 - 770)
Tiểu truyện:

Ðổ Phủ (杜甫) là cháu 13 đời của Ðổ Dự (杜 預), một danh tướng đời Tấn, người ở Ðổ Lăng, phủ Kinh Triệu (tỉnh Thiểm Tây). Vì thế người đời sau gọi ông là Ðỗ Thiếu Lăng (杜 少 陵); còn gọi là Ðỗ Công bộ (杜 工 部), vì ông từng làm chức Công bộ viên ngoại lang.

Tập thơ của Ðỗ Phủ có tên là Ðỗ Thiếu Lăng tập, Ðỗ Công bộ tập hay Thảo đường thi tập (vì ông có thảo đường tại Thành Ðô).

Ðỗ Phủ sinh vào năm Ðường Huyền Tông lên ngôi vua (721), ở Dao-Loan, phía đông huyện Củng (tỉnh Hà Nam). Lúc đó thân phụ là Ðỗ Nhàn đã 30 tuổi. Thân mẫu mất sau khi sinh ông được ít lâu. Tất cả các em trai, gái của ông đều là con của bà mẹ kế họ Lư.

Ðỗ Phủ có tự là Tử Mỹ (子美). Lúc nhỏ từng đến ở nhà người cô ở Lạc Dương, cách quê nhà 140 dặm. Thời đó Lạc Dương là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc. Ðỗ Phủ rất thông minh hoạt bát, còn nhỏ tuổi đã nổi tiếng về văn tài. Các danh sĩ Lạc Dương đương thời như Thôi Phượng, Ngụy Tâm Khải khi đọc thơ ông đều khen là Ban Cố, Dương Hùng tái sinh, Ðỗ Phủ có tài viết chữ: lên 9 tuổi đã viết được đại tự, theo bút pháp Ngu Thế Nam thời Sơ Ðường.

Năm 725 (Khai Nguyên thứ 13). Ðỗ Phủ mới 14 tuổi, đã được các nhà tinh thông âm luật yếu trọng, như Kỳ vương Lý Phạm và Thôi Diều, sủng thần của Dương Huyền Tông. Tại nhà các vị này, Ðỗ Phủ gặp danh ca Lý Qui Niên.

Trong lúc thiếu thời, Ðỗ Phủ thường đi chơi các vùng Ngô, Việt, Tề, Triệu. Năm 730 (19 tuổi), đi Hoàng hà, đến Tuân hà, sang Hoài Âm, Dương châu rồi qua Trường giang, xuống Giang Nam. Thăm mộ Ngô vương Hạp Lư ở Cô Tô, Kiếm trì ở núi Hổ Khâu, rồi đến Trường châu uyển (đều ở huyện Ngô, tỉnh Giang Tô). Sau đó vượt sông Tiền Ðường, đi đến Viêm khê, đậu thuyền dưới núi Thiên Mụ (ở huyện Tân Xương, tỉnh Chiết Giang). Ông có lưu lại Giang Ninh( Kim Lăng, tỉnh Giang Tô) một thời gian, được biết cảnh hào hoa cũ của họ Vương, họ Tạ thời Lục Triều.

Sau mấy năm ngao du tại Giang-Nam, Ðỗ Phủ trở về quê (huyện Củng) để đi thi tiến sĩ. Khoa thi năm ấy, trong số ba ngàn thí sinh, chỉ có 23 người đậu. Ðỗ Phủ bị rớt. Ông lai đi man du đến vùng Sơn Ðông, Hà Bắc. Lúc này thân phụ ông đang làm chức Tư mã ở huyện Dương châu (Sơn Ðông).

Sau mười năm phiêu lãng giang hồ, Ðỗ Phủ về Lạc Dương, làm nhà ở bên Thi Hương đình, dưới núi Thủ Dương, là nơi có phần mộ của tổ phụ là Ðỗ Thẩm Ngôn và viêng tổ là Ðỗ Dự. Năm ấy Ðỗ Phủ vừa 30 tuổi. Kết hôn với con gái của Dương Di, làm chức Tư nông thiếu khanh.

Năm 744 (33 tuổi), Ðỗ Phủ quen biết Lý Bạch (44 tuổi) ở Lạc Dương.

Năm 745 , Ðỗ phủ rời Lạc Dương, lên ở Ðổ Khúc, phía đông Trường An sống thanh khổ nghèo nàn.
Năm 751 (Thiên Bảo thứ 10), tháng Giêng, nhân dịp Ðường huyền Tông làm lễ tế trời đất, tổ tiên. Ðỗ Phủ dâng lên vua ba bài Ðại lễ phú. Huyền Tông khen ngợi, cho đến ở Tập hiền viện; sai quan tể tướng thử tài văn chương. Sau khi dư. khảo thí xong, ông không nhận được tin tức gì (vì trong triều có người ám hại). Trong khi sống cùng khổ tại kinh đô, ông nhận tin đứa con nhỏ gởi nuôi tại huyện Phụng Tiên (tỉnh Thiểm Tây) bị chết đói. Nổi thương tâm ấy được tả trong bài “Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài“ gồm 500 chữ.

Chứng kiến cảnh xa hoa hưởng lạc của Ðường Minh Hoàng và Dương quí Phi khi thì ở cung Hoa Thanh(trên núi Ly Sơn , huyện Lâm Ðồng, tỉnh Thiểm Tây ), khi thì ở Khúc Giang trì (phía đông nam Trường An) , Ðỗ Phủ làm bài “ Lệ nhan hành “.

Năm 755 (Thiên Bảo thứ 14) tháng 11, Phạm Dương tiết độ sứ An Lộc Sơn làm phản, đem hơn 10 vạn quân từ U Châu (Sơn Ðông) tiến về kinh, lấy danh là giết Dương Quốc Trung, Tháng 12, quân An Lộc Sơn vượt sông Hoàng hà, vây hãm Ðông Kinh (Lạc Dương).

Năm 756, tháng Giêng, An Lộc Sơn tiếm hiệu tại Ðông Kinh. Tháng 6, tướng Ca Thư Hàn bị đại bại tại Linh Bảo. Ðồng Quan thất thủ. Ðường Huyền Tông phải lánh sang quận Thụ . Tháng 7, Thái tử lên ngôi tại Ðông Vũ (tỉnh Cam Túc) lấy hiệu là Túc Tông.

Lúc chiến sự sơ khởi , Ðỗ Phủ đang ở Phụng Tiên (cách Trường An 150 dặm), bèn đem gia quyến đến ở nhờ nhà người cậu ở huyện Bách Thủy, rồi sau đến Phu châu (đều thuộc tỉnh Thiểm Tây). Ðược tin Túc Tông lên ngôi, Ðỗ Phủ tìm đến Linh Vũ. Trên đường đi, bị quân giặt bắt đem về Trường An. Làm các bài “Dạ nguyệt“, “Nguyệt đại ức xá đệ “ và “Ai giang đầu“.

Năm 757 (năm đầu niên hiệu Chí Ðức), tháng Giêng, An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự giết chết, rồi tự lập làm vua. Tháng 2, Túc Tông từ Bành Nguyên (huyện Ninh, tỉnh Cam Túc) rời sang huyện Phượng Tường (tỉnh Thiểm Tây), Ðỗ Phủ trốn khỏi Trường An, đến yết kiến Túc Tông tại đây, rồi được phong làm chức Tả thập di (tháng 5). Nhân việc Phòng Quản thua trận, bị bãi tướng. Ðỗ Phủ hết sức can vua không nên bỏ người hiền. Túc Tông cả giận, sai tam tư điều tra. May nhờ Tể tướng kế nhiệm là Trương Hạo tận lực cứu giúp ông mới được phục chức. Tháng 8 nhuận, Ðỗ Phủ xin về thăm gia đình tại Phu Châu. Ba bài “Khương Thôn “ được làm trong dịp này.

Tháng 9, Quảng Bình vương Lý Xúc (con trưởng của Túc Tông) cùng Quách Tử Nghi thâu phục được Tây kinh (Trường An). Ðược tin này, Ðỗ Phủ làm bài “Văn quan quân thủ Hà nam , Hà Bắc“. Tháng 10, thâu phục Ðông kinh (Lạc Dương). Túc Tông từ Phượng Tường trở về Kinh đô. Tháng 11, Ðỗ Phủ đem gia quyến từ Phu châu về Trường An. Thượng Hoàng (Ðường Minh Hoàng) cũng từ Thục trở về.

Năm 758 , mùa xuân, Ðỗ Phủ lại được làm chức Thập tả di. Tháng 6, đổi ra làm tư công tại Hoa châu (huyện Hoa, tỉnh Thiểm Tây). Ở đây được mấy tháng, ông về Lạc Dương; năm sau lại sang đây.

Năm 759, tháng Giêng, Sử Tư Minh ở Ngụy Châu (huyện Ðại Danh , tỉnh Hà Bắc), tự xưng là Yên Vương. Tháng 3, Sử Tử Minh giết chết An Khánh Tự. Quân Quách Tử Nghi đi đánh dẹp bị thua, phải trở về giữ Ðông Kinh.

Lúc này Ðỗ Phủ đang ở trên đường đi từ Lạc Dương về Hoa châu. Làm các bài: "Tân An Lại“, “Thạch Hào Lại , “Ðồng quan Lại" (tam lại) và “Tân hôn biệt“ ,”Thùy Lão biệt“, “Vô gia biệt" (tam biệt). Những bài này là tác phẩm tiêu biểu của Ðỗ Phủ, như sau này ông viết :”Ức tại Ðồng Quan thi hứng đa“ (Nhớ trước Ðồng Quan lắm hứng thơ).

Tháng 7, Ðỗ Phủ bỏ quan chức , đem gia quyến rời Hoa châu, sang ở nhờ nhà người cháu là Ðỗ Hựu tại Tần Châu (huyện Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc). Sinh hoạt nghèo khốn, thân thể suy yếu, Ðỗ Phủ làm 20 bài “Tần châu tạp thi“.

Tháng 10 lại rời nhà đến huyện Ðồng Cốc (nay là huyện Thành, ở tỉnh Cam Túc), những tưởng ở đây việc mưu sinh dể dàng hơn, không ngờ cũng chẳng hơn gì lúc ở Tần Châu. Làm 7 bài ca “Càn Nguyên Trung, ngụ cư Ðồng Cốc huyện“.

Tháng 12 Ðỗ Phủ vào đất Thục đến Thành Ðô.

Năm 760 (49 tuổi), tại Thành Ðô, Ðỗ Phủ từng cư ngụ chùa Hoàn Hoa khê, giao du với nhà sư Phục Không. Sau nhờ có sự giúp đỡ của bạn bè, ông dựng thảo đường trên hai mẫu đất hoang bên Hoàn Hoa khê, rồi làm thơ gởi đi các nơi xin các cây đào, lý, trúc, mai về trồng. “Thành Ðô thảo đường“ xây cất xong vào tháng 3.

Thành Ðô thảo đường quay lưng về phía quách Thành Ðô, ở ngoài đường Thạch Tuân, phường Bích Khuê, Thiếu Thành, phía bắc đầm Bách Hoa, phía tây cầu Vạn Lý, suối Hoãn Hoa, gần sông Cẩm Giang, phía Tây Bắc trông ra núi Tây lĩnh, có tuyết phủ quanh năm.

Năm 761, tháng 3, Sử Tư Minh bị con là Sử Triều Nghĩa giết chết. Khoảng cuối năm, Nghiêm Vũ được phong làm Thành đô doãn.

Năm 762 , tháng 4, Huyền Tông mất. Ít lâu sau, Túc Tông cũng băng hà. Ðại Tông lên ngôi. Tháng 7, Nghiêm Vũ được triệu về triều . Ðỗ Phủ đi Miên Châu, rồi Từ Châu. Mùa đông lại về Thành Ðô, đón gia đình đến Tử châu (huyện Tam Ðài, tỉnh Tứ xuyên).

Năm 763 (Quãng Ðức Nguyên Niên), tháng 9, Ðỗ Phủ đi tế Phòng Quản tại Lăng Châu (huyện Lăng Trung tỉnh Tứ Xuyên). Trong năm này ông được bổ làm công tào tại Kinh Triệu, nhưng không đi nhận chức.

Năm 764, mùa xuân, Ðỗ Phủ dem gia đình từ Tử Châu đến Lăng Châu. Hoàng môn thị lang Nghiêm Vũ lại ra làm tiết độ sứ ở đất Thục. Ðỗ Phủ lại trở về Thành Ðô. Tháng 6, Nghiêm Vũ dâng biểu tiến cử Ðỗ Phủ làm Tiết độ tham mưu, kiêm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Nguyên Ðỗ Phủ là cố cựu của Nghiêm Dĩnh Chi, thân phụ của Nghiêm Vũ, nên khi Ðỗ Phủ đến ở Thành Ðô, Nghiêm Vũ thường đến thăm ông ở thảo đường.

Năm 765, tháng 1, vì không chịu được sự câu thúc, lại thấy đồng liêu đố kị, Ðỗ Phủ từ chức ở Mạc phủ, trở về thảo đường. Bạn thân là Tán Kỵ thường thị Cao Thích mất. Tháng 4, Nghiêm Vũ cũng từ trần. Tháng 5 , Ðỗ Phủ rời Thành Ðô đi xuống phía nam. Từ Nhung châu (huyện Nghi Tân) đi đến Du Châu (huyện Ba). Tháng 6, đến Trung châu (huyện Trung), rồi đến huyện Vân An (Vân Dương, đều thuộc tỉnh Tứ Xuyên).

Năm 766 (Ðại lịch nguyên niên), mùa xuân, Ðỗ Phủ từ Vân An đi xuống Qui Châu (Phụng Tiết, Tứ Xuyên), ở phía đông. Trong mùa thu, ngụ tại Tây Các phủ Quì.

Quì Châu là nơi có nhiều cổ tích danh tiếng như Bạch Đế thành của Công Tôn Thuật, Bát trận đồ của Khổng Minh. Vì vậy thơ Đỗ Phủ làm trong thời kì này phần nhiều là vịnh hoài, như 8 bài "Thu hứng", 5 bài "chư tướng", 5 bài "Vịnh hoài cổ tích".

Năm 767, mùa xuân, từ tây Các trở về Xích Giáp. Tháng 3 rồi sang Nhương Tây. Mùa thu, đến Đông Đồn rồi trở về lại Nhương Tây (đều thuộc Quì châu).

Năm 768 (57 tuổi) Đổ Phủ rời Quì châu, ra khỏi Giáp. Tháng 3, đến Giang Lăng (tỉnh Hồ Bắc). Cuối năm đi sang Nhạc châu (Nhạc Dương, tỉnh Hoài Nam).

Năm 769, tháng Giêng, Đỗ Phủ rời Nhạc châu, theo dòng sông Tương đi đến Đàm Châu (Trường Sa tỉnh Hồ Nam). Tại đây ông gặp danh ca Lý qui Niên, làm ra bài thơ nổi tiếng "Giang Nam phùng Lý Qui Niên".

Năm 770 (Đại Lịch thứ 5), tháng 4, Hồ Nam binh mã sứ Tang Giới giết chết đoàn luyện sứ Thôi Quán. Để tránh loạn này. Đỗ Phủ xuống thuyền cùng vợ con đi Hành Châu (Hành Dương, tỉnh Hồ Nam). Làm bài thơ gồm 36 vần: "Phong tật, chu trung phục phục chẩm thư hoài" (Lúc gió thổi nhanh nằm trong thuyền ôm gối, viết mối hoài cảm). Sau đó đi Sâm châu, rồi Lỗi Dương (đều thuộc tỉnh Hồ Nam). Đỗ Phủ mất tại Lỗi Dương, thọ 59 tuổi.

Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo túng quá, đành phái tám đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp, mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về táng tại chân núi Thủ Dương, ở Lạc Dương ( Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.

Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thần Đỗ Phủ qua kinh châu, có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi . Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ, nói rằng: "Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ!".

Đỗ Phủ có hai con trai là Tông Văn, Tông Vũ, Tự Nghiệp là con của Tông Vũ.


Theo Thơ Đường của Trần Trọng San

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Ðổ Phủ
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Nước Ngoài :: Thơ Đường Trung Quốc-
Chuyển đến