Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords
Liên miền

Share | 
 

 Trần Quang Khải

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 8:54 am

Trần Quang Khải
(1241-1294)

Ông tự là Chiêu Minh, sinh vào mùa Ðông năm Tân Sửu (1241), là con trai thứ ba Trần Thái Tông.

Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), ông làm Tướng quốc thái úy, tước Ðại Vương; Ðến triều Nhân Tông (1279-1293) lại được thăng chức Thượng Tướng Thái Sư. Cùng với Trần Quốc Tuấn, ông cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước đương thời.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1284-1285, 1287-1288) Quang Khải là một trong những người đóng vai trò chủ chốt. Ông có mặt ở nhiều chiến trường quan trọng và đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử, Chương Dương giải phóng kinh thành Thăng Long.

Trần Quang Khải học rộng biết nhiều, chẳng những là một tướng cầm quân giỏi mà còn là một nhà ngoại giao có tài, một nhà thơ với những vần thơ "sâu xa lý thú". Ông là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học thời thịnh Trần. Trong thơ văn ông có thể tìm thấy một tinh thần yêu nước kiên cường, một tấm lòng gắn bó với con người và tạo vật, một khí phách anh hùng tiêu biểu cho dân tộc. Khi ông đi chiến trận, Trần Thánh Tông đã tặng lá cờ với hai câu thơ:

Nhất đại công danh thiên hạ hữu,
Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô.


Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông,
Tấm lòng trung hiếu với hai triều vua thì thế gian không ai có.

Ông mất ngày 3 tháng 7 năm Giáp Ngọ (26-7-1294).

Tác phẩm: Trần Quang Khải có tập thơ Lạc Ðạo, nhưng đã mất, chỉ còn lại 10 bài.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 9:01 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 9:23 am

Dã thự


Bản chữ Hán

野墅

野墅初開景物新,
芬菲桃李四時春。
一聲牛笛青樓月,
幾片農蓑碧隴雲。
路挽羊腸通紫陌,
溪分燕尾斷紅塵。
鬼神暗地偷相語,
一段風光可隱君。
Phiên âm Hán Việt

Dã thự

Dã thự sơ khai cảnh vật tân,
Phân phi đào lý tứ thời xuân.
Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa bích lũng vân.
Lộ vãn dương trường thông tử mạch[1],
Khê phân yến vĩ đoạn hồng trần.
Quỷ thần ám địa thâu tương ngữ,
Nhất đoạn phong quang khả ẩn quân.

Dịch nghĩa

Nhà ở đồng quê

Ngôi nhà mới dựng ở chốn quê có cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tươi tốt như bốn mùa đều xuân.
Một tiếng sáo chăn trâu dưới trăng trên lầu cao,
Mấy bóng áo tơi của nhà nông dưới mây màu ngọc biếc trên ruộng.
Con đường kéo dài như ruột dê nối liền với đường tím (tức đường lớn lên kinh đô),
Con suối tách đôi như đuôi én ngăn cách bụi hồng.
Quỷ và thần thầm lén lút nói với nhau rằng:
Đây đúng là một nơi phong quang để ngươi có thể trú ẩn.


Các bản dịch thơ

Nhà ở đồng quê

Trại mới vừa xây cảnh đáng vui,
Rườm rà đào mận bốn mùa tươi.
Trăng loe nóc điếm hồi kèn dứa,
Mây phủ đồng chiêm bóng áo tơi.
Quanh khúc ruột dê, đường lắm ngả,
Cuối khe đuôi én, bụi ngăn vời.
Quỷ thần trong tối đương bàn vụn:
Một giải phong quang khéo đợi ai.

Bản dịch: Ngô Tất Tố


Nhà đất làm xong cảnh vật tân,
Xum xuê đào lý bốn mùa xuân.
Tiếng tiêu trẻ mục, trong trăng dõi,
Áo lá nông phu, đẫm móc vần.
Đường uốn ruột dê thông tử mạch,
Ngòi chia đuôi én dứt hồng trần.
Quỷ thần luồn đất ghé tai nhủ,
Một góc phong quang đủ ẩn thân.

Bản dịch: Đinh Gia Khánh

1. Con đường tím, chỉ con đường lớn nối với kinh đô. Màu tìm chỉ màu cây cối, dương liễu hai bên đường.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 9:37 am

Đề Bạch Mã từ

Bản chữ Hán

題白馬祠

昔聞人道大王靈,
今日方知鬼帖驚。
火聚三區焚不及,
風塵一陣扇難傾。
指揮魍魎三千眾,
彈壓諸魔百萬兵。
願伏餘威推北敵,
頓令寰宇宴然清。
Phiên âm Hán Việt

Đề Bạch Mã từ

Tích văn nhân đạo đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ thiếp kinh.
Hoả tụ tam khu phần bất cập,
Phong trần nhất trận phiến nan khuynh.
Chỉ huy võng lượng tam thiên chúng,
Đàn áp chư ma bách vạn binh.
Nguyện phục dư uy thôi Bắc địch,
Đốn linh hoàn vũ yến nhiên thanh.

Dịch nghĩa

Đề đền Bạch Mã

Xưa kia nghe người ta nói đến oai linh của đại vương,
Ngày nay mới biết là ma quỷ phải khiếp kinh.
Ba khu lửa cháy, không cháy được tới đền,
Một trận gió bụi lay chuyển cũng không nghiêng đổ.
Chỉ huy ba ngàn quân yêu quái,
Trấn áp trăm vạn quân ma quỷ.
Xin nhờ dư oai của thần để phá tan giặc Bắc,
Trong chốc lát làm cho đất nước thanh bình.



Các bản dịch thơ

Đề đền Bạch Mã

Đại vương xưa nức tiếng oai linh,
Nay mới hay rằng ma quỷ kinh.
Lửa tụ ba khu không cháy miếu,
Gió lay một trận chẳng nghiêng mình.
Khiến sai bọn quỷ ba nghìn đứa,
Đánh dẹp loài ma trăm vạn binh.
Nhờ cậy dư uy trừ giặc Bắc,
Giúp ngay đất nước được thanh bình.


Bản dịch: Trần Lê Văn

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 9:57 am

Lưu Gia độ

Bản chữ Hán

劉家渡

劉家渡口樹參天,
扈從東行昔泊船。
舊塔江亭秋水上,
荒祠古塚石麟前。
太平圖誌幾千里,
阮代山河二百年。
詩客重來頭髮白,
梅花如雪照晴川。
Phiên âm Hán Việt

Lưu Gia độ [1]

Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình thu thủy thượng,
Hoang tử cổ trũng thạch lân tiền.
Thái bình[2] đồ chí kỷ thiên lý,
Nguyễn đại[3] sơn hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.

Dịch nghĩa

Bến đò Lưu Gia

Bến đò Lưu Gia cây cao ngất trời,
Xưa phò giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ, đình xưa dựng trên sông thu,
Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
Bản đồ Thái Bình ghi mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Nguyễn (nhà Lý) trải hai trăm năm.
Khách thơ nay trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong.



Các bản dịch thơ

Bến đò Lưu Gia

Đò Lưu cây cối ngất lưng trời,
Thuở nọ xuôi Đông đã ghé chơi.
Tháp cũ đình sông làn nước chảy,
Đền hoang mộ cổ sấu xành ngồi.
Dư đồ phủ ấy bao nghìn dặm?
Non nước triều xưa trải mấy đời?
Qua viếng, làng thơ đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu lòng vời.


Bản dịch: Ngô Tất Tố


Chú thích của Ngô Tất Tố:
1. Lưu Gia độ: bến đò Lưu gia (nay thuộc làng Lưu Xá, tỉnh Hưng Yên). Đời Lý khi Quách Bốc làm loạn, Huệ Tôn phải chạy về đó.
2. Thái Bình: Tức phủ Thái Bình (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Đời Trần bến đò Lưu Gia thuộc phủ ấy.
3. Nguyễn đại: Đời Nguyễn tức nhà Lý. Nhà Trần kiêng tên ông tổ là Trần Lý, nên đổi chữ Lý ra chữ Nguyễn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:09 am

Phúc Hưng viên

Bản chữ Hán

福興園

福興一曲水回環,
中有平園數畝寬。
梅塢雪消珠蓓蕾,
竹亭雲捲碧琅玕。
暑來邀客澆茶碗,
雨過呼童理藥攔。
南望狼煙無復起,
頹然一榻夢偏安。
Phiên âm Hán Việt

Phúc Hưng viên

Phúc Hưng nhất khúc thủy hồi hoàn,
Trung hữu bình viên sổ mẫu khoan.
Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi,
Trúc đình vân quyển bích lang can[1].
Thử lai yêu khách kiêu trà uyển,
Vũ quá hô đồng lý dược lan.
Nam vọng lang yên[2] vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an.

Dịch nghĩa

Vườn Phúc Hưng

Một dòng nước chảy bao quanh vườn Phúc Hưng,
Ở giữa là một khu vườn bằng phẳng rộng đến vài mẫu,
Bờ mai, khi tuyết tan, nụ lóng lánh hạt châu,
Đình trúc, lúc mây cuốn, lá xanh cành biếc.
Nắng lên, mời khách, pha chén trà,
Mưa tạnh, gọi gia đồng sửa lại giàn thuốc,
Trông về phía Nam không còn khói lang bốc lên nữa,
Thảnh thơi trên giường, yên tâm với giấc mơ riêng.



Các bản dịch thơ

Vườn Phúc Hưng

Lượn quanh bến Phúc, nước theo vời,
Vài mẫu vườn quê khá thảnh thơi,
Tan tuyết, bờ mai châu kết nụ,
Quang mây, đình trúc ngọc đâm chồi.
Nắng lên, mời khách pha chè thưởng,
Mưa tạnh, sai hề giở thuốc coi.
Xa ngóng ải Nam, im khói lửa,
Trên giường nghiêng ngửa nhẹ hồn mai.


Bản dịch: Ngô Tất Tố


1. Lang can: một thứ ngọc thạch màu xanh.
2. Lang yên: Khói của phân chó sói. Ngày xưa các đồn biên ải đốt lửa để báo hiệu khi có giặc. Các đồn khác nhận được hiệu đó lại đốt lửa truyền tin. Vì các đồn ở cách xa nhau nên khi đốt lửa người ta phải bỏ phân chó sói vào để khói đậm và bốc thẳng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:16 am

Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng

Bản chữ Hán

贈北使柴莊卿,李振文等

一封鳳詔下天庭,
咫尺皇華萬里行。
北闕衣冠爭祖道,
南州草木盡知名。
口啣威福君褒貶,
身佩安危國重輕。
敢祝四賢均泛愛,
好為卵翼越蒼生。
Phiên âm Hán Việt

Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng

Nhất phong phượng chiếu hạ thiên đình,
Chỉ xích hoàng hoa vạn lý hành.
Bắc khuyết y quan tranh tổ đạo,
Nam châu thảo mộc tận tri danh.
Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.

Dịch nghĩa

Tặng các sứ bắc Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn

Một phong chiếu phượng từ sân trời ban xuống,
Nhà vua trao trách nhiệm sứ giả cho ông đi ngoài vạn dặm.
Các bậc áo mũ ở Bắc triều tranh nhau tiễn người lên đường,
Cây cỏ ở Nam giao đều biết danh tiếng ông.
Nói lời oai phúc, ông thay nhà vua mà khen chê,
Thân mang sự an nguy quan hệ đến việc trọng khinh của nhà nước.
Dám mong bốn vị sứ giả tài giỏi có lòng yêu thương công bằng rộng lớn,
Hãy che chở cho thương sinh nước Việt.



Các bản dịch thơ

Tặng các sứ bắc Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn

Một phong chiếu phượng tự sân trời,
Gang tấc hoàng hoa, vạn dặm khơi.
Áo mũ Bắc phương đưa gót sứ,
Cỏ cây Nam quốc biết tên người.
Lời vua uy phúc mang trong miệng,
Việc nước an nguy gánh nặng vai.
Xin chúc yêu thương đều rộng khắp,
Chở che trăm họ ở quê tôi.


Bản dịch: Trần Lê Văn


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:22 am

Tống bắc sứ Sài Trang Khanh


Bản chữ Hán

送北使柴莊卿

送君歸去獨彷徨,
馬首駸駸指帝鄉。
南北心旌懸反旆,
主賓道味泛離觴。
一談笑頃嗟分袂,
共唱酬間惜對床。
未審何時重睹面,
慇懃握手敘暄涼。
Phiên âm Hán Việt

Tống bắc sứ Sài Trang Khanh

Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm tinh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân duệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.

Dịch nghĩa

Tiễn sứ bắc Sài Trang Khanh

Tiễn ông trở về riêng những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm nhằm thẳng nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng kẻ Nam người Bắc vẫn lưu luyến trên ngọn cờ về,
Tình khách chủ dạt dào trong chén rượu ly biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi chia tay,
Cùng nhau xướng họa tiếc những lúc hai giường đối diện.
Chưa biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để cầm tay ân cần tỏ nỗi hàn huyên.



Các bản dịch thơ

Tiễn sứ bắc Sài Trang Khanh

Tiễn người về Bắc dạ khôn khuây,
Vó ngựa băng chừng nẻo nước mây.
Nam Bắc bâng khuâng cờ trở bóng,
Ân tình dào dạt chén chia tay.
Nói cười thoáng đã xa hình dáng,
Xướng hoạ còn ngờ mới đó đây.
Biết đến khi nào cùng gặp lại,
Cầm tay bày tỏ nỗi niềm tây.


Bản dịch: Đào Phương Bình


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:34 am

Tụng giá hoàn kinh sư


Bản chữ Hán

從駕還京師

奪槊章陽渡,
擒胡鹹子關,
太平須致力。
萬古此江山。
Phiên âm Hán Việt

Tụng giá hoàn kinh sư [1]

Đoạt sáo Chương Dương độ[2],
Cầm Hồ Hàm Tử quan[3].
Thái bình tu trí lực[4],
Vạn cổ thử giang san.

Dịch nghĩa

Phò giá về kinh

Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương
Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử.
Thái bình rồi nên dốc hết sức lực,
Muôn đời vẫn có non sông này.



Các bản dịch thơ

Phò giá về kinh

Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.

Bản dịch: Trần Trọng Kim


Bến Chương cướp giáo giặc,
Ải Hàm bắt quân Hồ.
Thì bình nên gắng sức,
Non nước vẫn muôn thu.

Bản dịch: Ngô Tất Tố


Cướp giáo Chương Dương đó,
Bắt thù Hàm Tử đây.
Thái bình nên gắng sức,
Muôn thủa nước non này.

Bản dịch: Trinh Ðường

1. Ngày 6 tháng Sáu năm ất Dậu (9-7-1285), sau khi đã đuổi đạo quân Thoát Hoan chạy dài lên phía Bắc, giải phóng Thăng Long, hai vua Trần trở về lại Kinh đô, Trần Quang Khải đi theo phò giá và làm bài thơ trên.
2. Chương Dương: Nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, tháng Tám năm ất Dậu (1285), Trần Quang Khải cùng các tướng Trần Quốc Toản, Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh thắng một trận lớn ở đây rồi tiến về giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên tan vỡ, Thoát Hoan và A Lạt phải chạy qua sông Lô.
3. Hàm Tử: Một địa điểm trên sông Hồng, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, tháng Tư năm ất Dậu (1285), Trần Nhật Duật cùng các đạo quân khác cũng giành chiến thắng lớn.
4. Có bản chép "nghi nỗ lực"
宜努力
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:48 am

Xuân nhật hữu cảm kỳ 1


Bản chữ Hán

春日有感其一

雨白肥梅細若絲,
閉門兀兀坐書癡。
二分春色閒蹉過,
五十衰翁已自知。
故國心還飛鳥倦,
恩波海闊縱鱗遲。
平生膽氣輪囷在,
醉倒東風賦一詩。
Phiên âm Hán Việt

Xuân nhật hữu cảm kỳ 1

Vũ bạch phì mai tế nhược ti,[1]
Bế môn ngột ngột toạ thư si.
Nhị phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm[2] hoàn phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Bình sinh đảm khí luân khuân tại,
Tuý đảo đông phong phú nhất thi.

Dịch nghĩa

Cảm xúc ngày xuân kỳ 1

Mưa muốn làm tươi tốt cây mai nên gội ướt cành tơ,
Đóng cửa, ngồi sừng sững một con người nghiện sách.
Nửa phần sắc xuân đã hờ hững trôi đi,
Năm mươi tuổi tự biết mình suy yếu.
Tấm lòng cố hương mỏi mệt theo cánh chim bay,
Ơn vua như biển rộng, nên còn chần chừ như con cá giương vây.
Riêng chí dũng cảm lúc bình sinh vẫn còn nguyên đó,
Say ngả nghiêng trước gió Đông, ngâm một bài thơ.



Các bản dịch thơ

Cảm xúc ngày xuân kỳ 1

Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân cá khó bơi.
Ðảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Ðè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi.

Bản dịch: Ngô Tất Tố


Muốn gội cành mai, mưa phới bay,
Phòng văn khép cửa tựa người ngây.
Nửa chừng xuân thoáng qua hờ hững!
Năm chục già suy, vẫn tự hay.
Cố quận trời xa, chim mỏi cánh
Ơn vua biển rộng, cá giương vây.
Hào khí bình sinh còn sẵn đó,
Bài thơ ngâm giữa gió xuân say.

Bản dịch: Nguyễn Tấn Hưng

1. Có bản chép "Vũ dục mai phì nhuận tế chi" 雨浴梅肥潤細枝
2. Cố quốc tâm: Tấm lòng nhớ cố hương. Cố quốc là nước cũ, gồm cả quá khứ lịch sử của đất nước, dân tộc, nhưng nhiều khi cũng có nghĩa là cố hương. Câu thơ của Ðỗ Phủ: Tương phùng cố quốc nhân; nghĩa là: gặp gỡ người quê nhà.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 10:53 am

Xuân nhật hữu cảm kỳ 2


Bản chữ Hán

春日有感其二

月色微微夜向闌,
東風特地起春寒。
翻空柳絮黏高閣,
攪夢湘筠撲畫欄。
被物潤從天外雨,
驚心紅褪昔時顏。
袪愁賴有三杯酒,
撫劍悠悠憶故山。
Phiên âm Hán Việt

Xuân nhật hữu cảm kỳ 2

Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
Đông phong[1] đặc địa khởi xuân hàn.
Phiên không liễu nhứ niêm cao các,
Giác mộng Tương quân[2] phác hoạ lan.
Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,
Kinh tâm hồng thoái tích thì nhan.
Khứ sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố san.

Dịch nghĩa

Cảm xúc ngày xuân kỳ 2

Bóng trăng mờ mờ, đêm đã gần tàn,
Gió Ðông đột ngột khơi dậy cái rét mùa xuân.
Bay múa trên không, tơ liễu dính vào gác cao,
Tỉnh mộng, cành trúc đập vào lan can chạm vẽ.
Cảnh vật thêm tươi nhờ trận mưa ngoài trời,
Lòng kinh sợ sắc mặt hồng hào thời xưa đã phai.
Tiêu sầu nhờ có vài chén rượu,
Vỗ kiếm, vời vợi nhớ non xưa.



Các bản dịch thơ

Cảm xúc ngày xuân kỳ 2

Ðêm xuân hồ hết, bóng trăng mờ,
Lành lạnh hơi xuân mượn gió đưa.
Tơ liễu vờn không, vương gác thượng,
Cành tre quấy mộng, đập rèm thưa.
Hơi mưa xa gửi ơn đằm thắm,
Vẻ mặt buồn phai nét trẻ thơ.
Tiêu khiển may nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa.


Bản dịch: Ngô Tất Tố


1. Gió Ðông: gió từ phương Ðông, tức gió xuân.
2. Tương quân: Cành trúc, tương truyền khi vua Thuấn chết, hai vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm. Ðến miền sông Tương, hai nàng thương khóc quá, nước mắt vẩy lên rừng trúc, làm cho trúc vùng này lốm đốm rất đẹp. ở đây, tác giả dùng chữ Tương quân để chỉ trúc trong vườn mình.
-Theo Việt âm thi tuyển, Lý Tử Tấn có bình luận về bài thơ này: Hữu khứ quốc ý: nghĩa là: có lòng muốn đi ở ẩn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   Sat Mar 24, 2012 2:54 pm

Người anh hùng -
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải

Trần Quang Khải, tự Chiêu Minh, sinh vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), là con trai thứ ba Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Dưới triều Trần Thánh Tông, ông giữ chức Tướng quốc thái úy, tước Ðại vương; được thăng chức Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông. Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông (1284 - 1288), ông đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử và Chương Dương, giải phóng Thăng Long.

Trần Quang Khải là người học rộng, biết nhiều, văn võ song toàn, ngoài ra ông còn là một nhà ngoại giao, nhà thơ có tài.

Trong số các thi sĩ - chính khách thời Trần, Trần Quang Khải có lẽ là người để lại cho người đọc một ấn tượng tươi tắn mà sâu đậm. Trước hết, tuy chỉ còn lại vẻn vẹn có 10 bài thơ thôi (Trong 10 bài thơ này thì có một bài Ðề đền Bạch Mã, chỉ được chép trong Việt điện u linh tập, một bài Hạ Hồ Thành trúng Trạng nguyên, e không đúng, và một bài Ðề dã thự trùng với bài Tĩnh Bang cảnh vật của Trần Tung trong Thượng Sĩ ngữ lục. Ðiều kiện tư liệu hiện nay chưa cho phép khẳng định dứt khoát vấn đề tác giả đích thực của các bài đó), song, thơ ông bài nào cũng mang cốt cách khoáng đạt của một thi nhân cỡ lớn. Trần Quang Khải có làm thơ xã giao thù tạc cũng là cái thù tạc không cần phải gắng gượng hay khách sáo, mà trái lại dung dị, tự nhiên, hiếm người có được:

Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.


(Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo .
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau)

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh) (Tức Sài Thung)

Và Trần Quang Khải có ngắm nhìn đồng quê trong tư cách một vị chủ nhân trang trại thì vẫn là cái nhìn đột xuất, tình tứ khác thường:

Dã thự tân khai, cảnh vật tân,
Phương phi đào lý, tứ thời xuân.
Nhất thanh ngư địch, thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa, bích lũng vân.


(Trang trại mới mở, cảnh vật thật mới mẻ,
Ðào mận tốt tươi, xuân suốt cả bốn mùa.
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu, xanh thêm mặt trăng trên lầu,
Vài tấm áo tơi nông phu, biếc hẳn đám mây dưới lũng).

(Ðề dã thự)

Sau nữa, ấn tượng tươi tắn của chúng ta đối với Trần Quang Khải - thi nhân còn ở chỗ, ta biết tác giả những vần thơ khoáng đạt này là một vị Thái sư Thượng tướng, cùng với Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng văn và hàng võ, đã từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc dựng nước và giữ nước đời Trần. Là con trai thứ ba vua Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, sinh năm 1241 và mất năm 1294, với tước Chiêu Minh vương, Trần Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều chính nhà Trần suốt nhiều năm tháng, kể từ khoảng mươi năm sau cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258). Ròng rã gần hai thập niên tạm gọi là hòa bình mà kỳ thực là chuẩn bị lực lượng rất khẩn trương ấy, với cương vị một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đã ra sức chèo chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều Trần vượt qua nhiều thử thách, nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với đám sứ giả Nguyên Mông. Những bài thơ ông làm trong các dịp này cũng giống như những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông và nhiều người khác, có cái mềm mỏng, nhún nhường về lời lẽ, nó là một sách lược nhất quán trong quan hệ nhiều đời giữa nước ta với các đế chế phương Bắc vốn luôn luôn tự thị vào cái "lớn", cái "khỏe" của mình:

Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.


(Miệng nói lời oai phúc thay vua mà khen chê,
Thân mang theo sự an nguy quan hệ đến việc lớn nhỏ của nước nhà.
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng yêu thương rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân nước Việt).

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng).

Nhưng hết sức mềm mỏng đấy - và có thể không kém thân tình nữa kia đấy - mà vẫn giữ được hiên ngang cứng cỏi sau từng chữ từng câu, nó là cái tư thế bình đẳng của chủ đối với khách, cái phong thái đàng hoàng của những con người luôn luôn tự chủ được mình:

Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm linh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sáng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lượng


(Tiễn ông ra về, mình tôi luống những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm hướng về nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng Nam Bắc lưu luyến trên ngọn cờ người ra đi,
Tình chủ khách dạt dào trong chén rượu giã biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau.
Biết bao giờ lại được gặp mặt,
Ðể nắm tay ân cần kể nỗi hàn huyên).

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh)

Thế rồi, khi tình thế xã tắc không còn tài nào ngăn được cuộc xâm lăng ào ạt của lũ giặc Mông Thát, Trần Quang Khải lập tức cởi áo phòng văn, khoác áo tướng sĩ, dẫn đầu một đạo quân, ra đi. Và cứ thế, dưới quyền tiết chế của quốc công Trần Quốc Tuấn, ông xông pha trận mạc khắp nơi, hết Nghệ An ra Thăng Long, lại đi các trấn phía bắc... cho đến ngày toàn thắng.

Cái tấm lòng hăng hái bất kỳ việc gì cũng không từ nan, cũng thung dung nhận lấy và làm hết mình đó, Trần Quang Khải giữ được cho mãi đến già. Và cái nét dung dị mà khoáng đạt, hào hùng trong con người ông cũng vậy, vẫn là một cốt tính đặc sắc làm trẻ trung mãi ngòi bút của nhà thơ. Bài thơ Cảm xuân có lẽ làm ít lâu trước lúc mất là biểu hiện kết hợp cả hai mặt khoáng đạt và hăng hái nói trên.

Vũ bạch phì mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.


(Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi.
Ðảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Ðè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!)

(Ngô Tất Tố dịch)
(Cảm xuân I)

Bài thơ gợi một cảm xúc thực man mác, bâng khuâng! Trước mặt người đọc hiện ra hai con người: một người thơ và một anh hùng. Người thơ ngồi lặng trong phòng như si như ngây, suy tưởng mênh mang về đất nước, về tuổi trẻ và những tháng năm đã trôi vào dĩ vãng; còn người anh hùng thì luôn luôn tỉnh táo, nghiêm trang canh giữ xã tắc trong bao nhiêu năm không lúc nào lơi lỏng, và vẫn chờ đợi với tấm lòng hăng hái những nhiệm vụ hệ trọng mà xã tắc phó thác cho mình! Tưởng chừng hai con người là hai nhân vật khác hẳn nhau, đồng hành trên suốt một chặng đường dài... vừa chẵn năm mươi năm. Nhưng nào đâu có phải! Phải nói, có được cái mê si đầy khoái cảm của chàng thi nhân kia - mê si trong khung cảnh yên bình, nhàn nhã của đất nước - cũng là nhờ cái tỉnh táo trường kỳ, không biết mệt mỏi của người tráng sĩ nọ, và quả tình là ở phần cuối bài thơ, cả anh hùng và thi nhân đều đã nhập trở lại trong một hình tượng nhất trí. Cảm hứng của người thơ có vẻ như lâng lâng, dàn trải ở phần đầu, đến đây cũng được xác định lại cụ thể, là niềm hứng khởi, là ý thức sắc bén trước nhiệm vụ đối với đất nước, đúng y như cảm hứng của anh hùng:

Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.


(Chí khí dũng lược lúc bình sinh hãy còn hăng hái,
Muốn quật ngã gió đông mà ngâm lên một bài thơ).

Như vậy, nền tảng của sự thống nhất giữa hai con người trong thơ Trần Quang Khải chính là sức mạnh và yêu cầu thường trực về sự vững mạnh của xã tắc giang sơn; nhờ có nó người ta nhận thức được rằng mình vẫn còn và tất yếu phải còn nguyên "đởm khí" - dồi dào sức trẻ. Cũng nhờ có nó, mặt khác, người ta lại cảm thấy cái hạnh phúc được sống và quên bẵng rằng mình đang sống, nghĩa là được thoải mái đắm mình theo nhịp trôi chảy của thời gian, để rồi đôi khi nhìn lại mà bỗng thốt giật mình.

Sự thống nhất giữa người thơ và anh hùng trong thơ Trần Quang Khải còn là sự thống nhất giữa hai bình diện khác nhau của cùng một con người Việt Nam ở thời đại Lý - Trần: con người biết mê mải vui say trong nhiều niềm vui của cuộc sống đang lên, và ngược lại, cũng biết tự cảnh giác với mọi đam mê vô ích, để nhân sức mạnh của mình lên mà tỉnh táo chống trả với mọi kẻ thù đang dòm ngó sơn hà xã tắc.

Con người đó, ngay trước khi bước vào giấc ngủ cũng đã mở to con mắt: "đề phòng" dõi nhìn về những miền biên giới thân yêu:

Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Ðồi nhiên nhất tháp, mộng thiên an.


(Trông về Nam khói lửa không còn tái diễn,
Trên giường nằm ngủ yên tâm trong giấc mộng).

(Phúc Hưng viên)

Con người đó, giữa lúc chuếnh choáng vài chén giải khuây vẫn không quên phận sự, trái lại, còn biết nâng cao tấm lòng tráng chí: "Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa", làm cho sự giải khuây tăng thêm phần ý nghĩa:

Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố sơn.


(Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa)

(Ngô Tất Tố dịch)
(Cảm xuân, II)

Và con người đó, khi soi bóng trên dòng sông mà mặc cảm về mái tóc bạc trắng, cũng vẫn giữ được niềm lạc quan thanh thản, vì biết tin vào lịch sử trường tồn của đất nước, nó là cái bảo đảm vững chắc nhất cho những gì còn lại của cá nhân mình và sự nghiệp của mình:

Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lá đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.


(Cơ đồ đất nước lúc thái bình rộng mấy nghìn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đây đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông buổi trời tạnh).

(Lưu Gia Ðộ)

Từ một con người đặc sắc nhiều mặt như thế, Trần Quang Khải đã để lại rất nhiều mối cảm tình cho người đọc thơ ông. Có thể nói, chân dung một Trần Quang Khải nhà thơ đã hòa quyện với chân dung một Trần Quang Khải ở trong sử sách, cũng như một Trần Quang Khải ở trong sử sách, đã làm giàu thêm sức sống và thi liệu cho một Trần Quang Khải trong thơ. ấn tượng sâu sắc của người đọc thơ Trần Quang Khải càng trở nên rất đẹp khi được gắn liền với những giai thoại trong mối quan hệ giữa ông và Trần Quốc Tuấn: hai ông đã vì việc nước lúc ấy mà bỏ hết hiềm khích cũ, trở thành hai ông quan đầu triều gương mẫu, cũng là hai người anh em rất mực thân tình. Ðại Việt sử ký toàn thư đã có những dòng rất cảm động để kể về điều này: "Một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp đến, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới về. Lại tính Quang Khải lười tắm gội, Quốc Tuấn thì thích xông tắm, từng nói đùa với Quang Khải rằng: "Thân cáu bẩn xin tắm giùm". Rồi Quốc Tuấn cởi áo Quang Khải ra, lấy nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng". Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm cho". Từ đấy hai người vui chơi với nhau, tình thân càng mặn" (Ðại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Tập II. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, tr.72).

Trong vô vàn cái đẹp của đời sống, tưởng không có gì đẹp hơn là những con người biết tự vượt mình. Nhưng trong số những con người biết tự vượt mình, tưởng không có gì cao cả hơn là những người biết gắng sức theo cùng tầm thước lịch sử mà lớn vượt lên. Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải và nhiều nhân vật đời Trần đã chiến thắng oanh liệt kẻ thù phương Bắc và sống mãi cho đến ngày nay, chính là những con người như vậy!

Nhưng tất cả những điểm nổi bật ở thi sĩ Trần Quang Khải mà ta vừa viện dẫn cũng sẽ không hoàn toàn thu hút được sự chú ý rộng rãi của các thế hệ sau, nếu như trong văn nghiệp của ông không có một bài thơ tuyệt tác: bài Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá trở về kinh). Bài thơ làm vào khoảng những ngày cuối thượng tuần tháng Bảy năm 1285, tức là trong những ngày thắng lợi tưng bừng của cuộc kháng chiến lần thứ hai. Ngày 9 tháng Bảy năm này, Trần Quang Khải được lệnh hộ giá hai vua Trần trở lại kinh đô đã sạch bóng quân giặc. Và bài thơ của ông đã ra đời vào dịp ấy, gồm vẻn vẹn 4 câu thơ 5 chữ:

Ðoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.


Bốn câu thơ thật ngắn gọn, ý tứ cũng không có gì hóc hiểm, nhưng đã sống trong mọi trí nhớ, đem lại niềm bồi hồi, xúc cảm cho rất nhiều thế hệ, không khác gì một bài Bình Ngô đại cáo, một bài Hịch tướng sĩ, một bài Nam quốc sơn hà.

Hãy bàn về hai địa danh Chương Dương, Hàm Tử của bài thơ. Ðối với tác giả thì đây là những sự kiện hãy còn quá mới mẻ. Chỉ mới trước khi ông đặt bút viết bài thơ đúng hai tháng thôi, hai trận thắng oanh liệt Chương Dương, Hàm Tử đã diễn ra, làm kinh hoàng quân giặc, và cũng mở ra cơ hội để quân Trần lật lại thế cờ. Nhưng mới có hai tháng mà hai địa danh chưa ai quen biết đã bước hẳn vào địa hạt của thơ, y như những điển cố quen thuộc nói về chiến công vẫn thường gặp trong sách vở. Trước Trần Quang Khải, chiến công anh hùng của dân tộc cũng đã có nhiều, và thơ nói về chiến công cũng không ít, nhưng một địa danh cụ thể của một chiến công nào được văn thơ ghi lại thì chưa hề có. Thế mà ở đây, lần đầu dùng những địa danh Việt Nam để nói về chiến trận, người viết lại không chút bỡ ngỡ, lúng túng, trái lại, vẫn dồi dào cảm xúc. Ðấy quả là điều lạ!

Vậy, cái lý do gì làm cho Trần Quang Khải nói đến Chương Dương, Hàm Tử mà xúc động thành thơ? Phải nói đây là hai cái tên tượng trưng cho cả một chiến dịch lớn của quân dân nhà Trần. Bấy giờ, sau nhiều ngày tháng liên tiếp đuổi theo hai vua Trần không có kết quả, đạo quân Nguyên Mông hùng hổ và kiêu căng, chỉ biết ỷ vào sức mạnh đã dần dần lâm vào thế bị động. Hai vua Trần và Trần Quốc Tuấn liền hạ lệnh cho quân sĩ phản công.

Tháng Năm năm 1285, Trần Nhật Duật cùng một số tướng sĩ được lệnh đem quân đến đón giặc ở cửa Hàm Tử - nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Giặc Nguyên đại bại. Thừa thắng, Trần Quang Khải cùng một số tướng sĩ khác lại được lệnh đem quân đánh úp Chương Dương - nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây. Cuốn Kinh thế đại điển tự lục đời Nguyên đã thừa nhận: "Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông. Quan quân - nhà Nguyên - sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều kiệt" (Dẫn theo Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, tr. 235). Và thế là bắt đầu một cuộc tháo chạy của đám tàn quân Trung Quốc ra khỏi thủ đô của Ðại Việt, rồi từng bước, từng bước rút lui thục mạng về nước.

Trên đường trở về kinh đô đúng giữa ngày toàn thắng, tất cả những hình ảnh sốt dẻo của cái chiến dịch mà chính mình vừa tham gia, chắc vẫn chưa thôi xôn xao trong tâm trí Trần Quang Khải, chưa hết làm ngạc nhiên, sảng khoái tâm hồn nhà thơ. Cái nhân tố gì đã giúp cho non sông xã tắc ta giành được thắng lợi? Trước một kẻ địch thiện chiến và kiêu hùng đến như vậy, làm sao quân ta lại có thể giáng cho chúng những đòn thất điên bát đảo, và thần tốc đến chính người trong cuộc cũng ít ai có thể ngờ? Lạ lùng quá đi thôi! Nhưng mà sự thực vẫn còn kia: này đây là Chương Dương, này đây là Tây Kết, này đây là Hàm Tử. Lòng nhà thơ bỗng rộn lên một niềm bâng khuâng khôn tả. Ông ngẫm lại những ngày long đong xa giá triều đình đã phải ra đi, ngẫm lại bao nhiêu cái giá đã phải trả cho cuộc chiến thắng... và đột nhiên, một chân lý bỗng lóe hiện trong óc ông: chiến thắng này phải đâu giờ đây mới đến. Nó đã được chuẩn bị từ ngày đất nước còn thanh bình. Vì chính vào những ngày đó, cả nước đã biểu hiện sự chung sức chung lòng; người trên biết "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc"; kẻ dưới biết quyết tâm "Sát Thát" và có tinh thần thắng giặc. Chân lý đến với Trần Quang Khải và cảm hứng thi ca cũng đến cùng một lúc. Nhà thơ thấy không thể không thốt lên, bằng những lời rất tiết kiệm và súc tích, để nhắc nhở con cháu, cũng là để nhắc nhở với lòng mình:

Cướp giáo Chương Dương đó!
Bắt thù Hàm Tử đây!
Thái bình nên gắng sức,
Muôn thuở nước non này!


(Trinh Ðường dịch)

Không có gì gọn ngắn và đơn giản hơn nữa. Quả là buột thốt thành thơ! Song cái ý chứa đựng bên trong, cái ý nhắc nhở của nhà thơ, thì không chút tầm thường và đơn giản. ở đâu và bao giờ cũng cần một lời nhắc như vậy! Những chiến công chói lọi của ông cha thật đáng tự hào cho con cháu. Nhưng càng tự hào, càng không quên quá khứ, thì càng phải làm sao sống những phút giây hiện tại cho thật ý nghĩa. Trên hay dưới, ai cũng như ai, đều phải sử dụng thích đáng từng phút từng giây thanh bình vô giá đó. Có thế mới xứng đáng tiếp nối được cái "nước non" mà cha ông trao vào tay mình, mới làm cho "nước non này" trở thành "nước non muôn thuở".

Hơn một trăm năm sau bài thơ của Trần Quang Khải, chúng ta lại được đọc bài Quá Hàm Tử quan của Trần Lâu, một nhà thơ đồng thời là nhà giáo đời Hồ. Không ai biết nhiều về cuộc đời và văn nghiệp của nhà thơ họ Trần này, chỉ biết ông đỗ đến Tiến sĩ (Thái học sinh) và để lại cho hậu thế chỉ có bài thơ duy nhất, cảm tác về cửa Hàm Tử ấy. Nhưng có lẽ cũng chính nhờ bài thơ duy nhất đó mà tên tuổi ông còn được lưu truyền. Bài thơ như sau:

Thuyết trước sa trường cảm khái đa,
Nhi kim Hàm Tử mạn kinh qua.
Cổ chinh húng dũng triều thanh cấp,
Kỳ bái sâm si trúc ảnh tà.
Vương đạo hồi xuân nồng cổ thụ,
Hồ quân bão hận thấu hàn ba.
Toa Ðô thụ thủ tri hà xứ?
Thủy lục sơn thanh nhập vọng xa.


(Cảm khái bao nhiêu cuộc chiến này!
Mà nay Hàm Tử mới qua đây.
Trống chiêng rộn rịp: triều lên gấp,
Cờ xí tưng bừng: tre lả lay.
Vương đạo hồi xuân, cây thắm lại,
Quân Hồ ôm hận, sóng vùi thây.
Toa Ðô nộp mạng nơi nào nhỉ?
Nước biếc non xanh mắt chứa đầy!)

Rõ ràng là trên cùng một sự kiện lịch sử mà cảm hứng thơ đã khác xưa. ở đây, nhịp điệu thơ trầm tĩnh hơn, hình tượng thơ tỏa rộng xen lẫn chất trầm tư, tứ thơ trở nên man mác. Quả là lời thơ của người đời sau, tức cảnh mà cảm khái về lịch sử, chứ không còn là người trong cuộc hào hứng xúc động về sự kiện nóng bỏng của thời đại mình.

Và nói chung, những điều nhận xét về Trần Lâu cũng hoàn toàn đúng đối với tất cả những thơ văn cảm tác về Chương Dương, Hàm Tử làm ra sau bài Phò giá trở về kinh: chúng đều là những đóng góp có tính chất bổ sung hay tô đậm thêm vào cái phần sáng tạo căn bản của Trần Quang Khải; song chúng không thể làm lu mờ, càng không thể thay thế bốn câu thơ tinh túy của nhà thơ đời Trần.

Lại cũng có thể ngờ rằng mấy câu:

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Ðô
Sông Bạch Ðằng giết tươi Ô Mã


Trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là bắt mạch xa gần từ trong hình tượng thơ của bài Phò giá trở về kinh. Mấy chi tiết lẫn lộn về lịch sử ở đây - Toa Ðô không phải bị bắt ở Hàm Tử mà bị giết chết ở trận Tây Kết lần thứ hai; trái lại Ô Mã Nhi không phải bị giết mà bị bắt sống ở Bạch Ðằng chẳng làm người đọc bận lòng cho lắm, nhưng cái hình ảnh bắt giặc ở cửa Hàm Tử thì cứ y như thoát thai từ nguồn cảm hứng tươi rói của câu thơ: Hàm Tử bắt quân thù.

Còn như mấy câu lục bát của tác giả Ðại Nam quốc sử diễn ca.

Chương Dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo ra vào có công.
Hàm Quan một trận ruổi rong,
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền.


Thì không nghi ngờ gì nữa, đó là dư âm trực tiếp của hai câu thơ đầu trong bài Tụng giá... nổi tiếng của Trần Quang Khải


Nguyễn Huệ Chi

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Trần Quang Khải   

Về Đầu Trang Go down
 
Trần Quang Khải
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Quỹ Cựu Học sinh Tư Nghĩa: Tri ân Thầy Cô, Nhớ về Trường xưa, Vì Đàn em thân yêu...
» Quảng Ngãi quê ta- thú chơi : Chim -Cây - Cá - Cảnh
» Thiết bị làm hàng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Thời Lý - Trần - Hồ (1009-1427)-
Chuyển đến