Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Bùi Giáng
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
miền Huynh Liên

Share | 
 

 Hữu Loan - Màu tím hoa sim

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 9:53 am

Hữu Loan - Màu tím hoa sim



Hữu Loan (1916 - 2010)
Đề tài này tập trung một số bài viết về Thi sĩ Hữu Loan. Phần tiếu sử và tác phẩm của thi sĩ xem bên mục Thơ.

Mục Lục


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:06 am

Lời tự thuật của Hữu Loan về bài thơ Màu Tím Hoa Sim và cuộc đời của mình

- Phần 1 -

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và … tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu”. Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi…

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: - Thầy có thích ăn sim không? - Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. - Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: - Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! - Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp.

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn… Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội.
Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh…”
… Tôi về không gặp nàng…


Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu:
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết
.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!


Hữu Loan


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:14 am

Lời tự thuật của Hữu Loan về bài thơ Màu Tím Hoa Sim và cuộc đời của mình

- Phần 2 -

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi " tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.


Hữu Loan


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:20 am

"Thơ tôi, dấu ấn đời tôi"

Hơn một năm sau ngày Hữu Loan chuyển nhượng quyền sử dụng bài thơ Màu tím hoa sim cho Công ty điện tử Vitek, tôi quay lại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) và có cuộc trò chuyện với lão nhà thơ vừa bước sang tuổi 87.

Cuộc đời ông trải qua quá nhiều thăng trầm. Tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, là Ủy viên Thông tin tuyên truyền của Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá, sau đó về công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam... Nhưng rồi sau thời kỳ "nhân văn giai phẩm", ông đã về sống ẩn đến tận bây giờ.

Nhà thơ Hữu Loan cho biết, kể từ sau ngày "bán" bài thơ Màu tím hoa sim (100 triệu đồng) đến nay đã có một số tổ chức, cá nhân khác ở trong và ngoài nước đến đặt vấn đề muốn được khai thác toàn bộ những tác phẩm thi ca do ông sáng tác. Song ông không đồng ý bởi nhiều lý do.

Cái lý do cơ bản nhất là: "Thơ tôi làm ra không phải để bán. Tôi làm thơ chủ yếu là để phục vụ cho phong trào cách mạng đấu tranh chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta. Để ca ngợi tình con người với con người và để chép lại những câu thiên tình sử đẹp nhất mà tôi đã gặp, đã chứng kiến. Những bài thơ đó, giờ nó đã trở thành tài sản chung của mọi người rồi". Ông cũng cho biết, những bài thơ do ông sáng tác đến giờ phút này đã bị thất lạc rất nhiều, do ông không có thói quen ghi chép và lưu trữ.

Tuy nhiên, những tác phẩm thi ca của nhà thơ Hữu Loan khó có thể lẫn đi đâu được vì nó có một bút pháp riêng, tạo nên một phong cách đặc biệt, mà Tình thủ đô của ông do Dương Tường và Mạc Lân nhớ lại vào cuối năm 2004 là một ví dụ rất cụ thể. Hiện Hữu Loan đã giao toàn quyền việc sưu tầm, lưu trữ các tác phẩm thơ do ông sáng tác cho người con trai thứ 8.

Đó là anh Nguyễn Hữu Đán - cán bộ Cty Tu bổ di tích và Thiết bị văn hoá trung ương thuộc Bộ VH-TT. Anh Đán cho hay, đến nay anh đã "tìm thấy" được cả thảy 60 bài thơ của ông sáng tác. Có những bài anh chỉ sưu tầm được 4-5 câu, nhưng cũng có những "trường ca" dài tới 60 trang.

Anh Đán cho biết việc sưu tầm tuy rất khó khăn, nhưng vì trân trọng những giá trị trong thơ, đã có những người tự mang thơ đến đưa lại ông sau nhiều năm thất lạc. Mới đây nhất, bà Nguyễn Thị Thanh ở đường Trần Hưng Đạo (Hà Nội) đã gửi lại cho nhà thơ Hữu Loan một bài thơ vô đề.

Bài thơ ca ngợi những y, bác sĩ đã hết lòng chăm sóc cho các thương binh trở về sau trận chiến chống lại kẻ thù xâm lược bảo vệ tổ quốc. Bài thơ có đoạn. "... Áo quần loang bết mủ/ Vết thương nhày hôi tanh/ Em đem về giặt giũ/ Chong đèn vá thâu canh/ Mai những người vui được áo lành...". Vào một thời điểm nào đó thích hợp anh Nguyễn Hữu Đán sẽ cho ra mắt Toàn tập Hữu Loan.

+ Chắc bác vẫn còn nhớ cảm xúc của mình khi viết nên bài Màu tím hoa sim được nhiều người coi là một "kiệt tác" của thi ca VN thế kỷ 20?

- Làm sao tôi có thể quên được điều đó. Màu tím hoa sim là màu tang thương của một tình yêu định mệnh, tình vợ chồng ngắn ngủi mà giờ đây nó chỉ còn lại trong ký ức của riêng tôi. Đó là một mối tình ly kỳ nhất và tôi là người may mắn nhất được tạo hoá ban tặng. Ngày tôi đặt chân đến gia đình ông Lê Đỗ Kỳ (sau này là nhạc phụ) làm gia sư cho ba người con trai của ông, cũng là ngày vợ ông ấy sinh hạ một bé gái xinh xắn.

Nhưng có một điều khác thường ở chỗ là cô bé không cất tiếng khóc chào đời như mọi đứa trẻ khác. Gia đình họ mang cô bé đặt lên trên nắp một cái thùng phuy để cầu nguyện một điều gì đó, tôi tò mò lại ngắm nhìn thì cô bé nhoẻn miệng cười với tôi. Lớn lên, tôi đi đâu cô bé ấy cũng đòi đi theo.

Và còn một điều kỳ lạ nữa là khi tôi quay trở lại làm gia sư dạy học cho chính cô bé sau này là vợ mình, nhà ông tham Kỳ lúc nào cũng có vài ba mươi người ăn, kẻ ở hầu hạ thế nhưng cô ta luôn giữ vali và không cho bất kỳ ai giặt quần áo của tôi, mà tự tay cô ấy giặt, là lấy rồi gấp xếp vào vali cho tôi.

Cô bé càng lớn càng đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Chúng tôi cưới nhau ngày 16-2-1949 thì đến ngày 29-5 cùng năm đó, vợ tôi tên là Lê Đỗ Ninh mất do chết đuối, khi tôi đang hoạt động cách mạng ở Nưa (huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá). Đau thương này kéo dài lắm. Và cũng chính vì lẽ đó nên sau khi cô ấy mất, tôi có ý định không lấy vợ nữa. Mỗi lần nhớ tới cô ấy là tôi lại "khóc" ra một quãng của bài thơ Màu tím hoa sim hoàn chỉnh bây giờ.

+ Nhưng rồi định mệnh lại dắt bác đến với một người phụ nữ khác, sống cùng bác đến ngày hôm nay và đã sinh cho bác tới 10 người con.

- Người vợ thứ hai là bà Phạm Thị Nhu, sống với tôi hơn 50 năm rồi. Bà ấy cũng là một người phụ nữ sâu sắc. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé vào mỗi buổi chiều lại lén lút đứng bên ngoài song cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Khi gặp nhau, cô bé ấy mới nói vì đi nghe tôi giảng Kiều nên nhiều hôm để trâu ăn lúa, nên bị bắt phạt. Thì ra cô ta cũng là người có tâm hồn. Khiến tôi vẫn phải suy nghĩ rất nhiều mới có quyết định này. Rất may là sự quyết định của tôi đã không nhầm.

+ Với bác, điều tâm đắc nhất trong những tác phẩm của mình là gì, có thể định nghĩa được không?

- Trong thơ tôi có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do, cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ, đó là niềm lớn nhất. Còn nhớ, ngày đó có một viên trung tướng phục vụ cho thực dân Pháp được giao nhiệm vụ theo dõi để ám sát tôi. Vì lý do gì thì tôi không biết, nhưng ông ấy đã tìm gặp và nói với tôi rằng, khi ông ta đọc xong bài thơ Yên Mô thì ông ấy đã từ bỏ ý định ám sát tôi. Ông ấy rất yêu bài thơ Yên Mô của tôi viết về quê hương ông.

Viên trung tướng nói, mỗi một lúc ông nhớ quê là lại đọc bài thơ Yên Mô. Mỗi lúc định giết tôi, viên tướng lại nhớ đến quê mình nên lại thôi. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đặng Thai Mai cũng đã từng nói rằng, ông rất thích câu thơ cuối cùng trong bài Yên Mô: "Canh làng du kích Yên Mô/ Nửa đêm trăng mọc đỏ như cháy đồi".

Ông Đặng Thai Mai nhận xét rằng, câu thơ đã đốt cháy rực cả bài thơ lên. Nửa đêm trăng mọc, nhưng người ta cứ tưởng là du kích đánh cháy đồn địch. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt.

Bài thơ Tình thủ đô cũng là một minh chứng xác thực cho niềm tâm đắc mà tôi vừa nói ở trên. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn trước kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp. Một bộ phận trí thức chán nản, muốn quay lại nội thành Hà Nội. Nhưng bài thơ Tình thủ đô đã kêu gọi được tầng lớp trí thức là giáo viên, bác sĩ vững tin ở lại với kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến.

+ Cháu xin tò mò một chút! Khoản tiền 100 triệu đồng thu về từ việc "bán" bài thơ Màu tím hoa sim đến nay bác sử dụng thế nào rồi?

- Sự thật tôi không có ý định "bán" Màu tím hoa sim, nhưng thấy họ giải thích thuyết phục nên mới xuôi lòng. Khoản tiền 100 triệu đồng, trừ thuế còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 người con hết 60 triệu đồng. Tôi giữ lại 30 triệu, phòng ốm đau lúc tuổi già.

- Xin cảm ơn bác và chúc bác một năm mới dồi dào sức khoẻ!



Theo Lao Động


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:25 am

“Đã lấy nhau phải cùng chung số phận”

Buổi trưa ở núi Vân Hoàn, nắng đổ. Chúng tôi đến Nga Sơn, Thanh Hoá, lòng hồi hộp tưởng tượng có một cụ già quắc thước cũng như chúng tôi, đang hướng về núi Vân Hoàn để mong thấy lại bao nhiêu máu và nước mắt của cuộc đời ông loang lổ in dấu trên những khoảnh đá núi đang bị đục đẽo. Núi đã từng cứu sống bao người, trong đó có cả một đời trai trẻ của nhà thơ Hữu Loan và người vợ thứ hai – bà Phạm Thị Nhu.



Bà Nhu trước sân nhà
Xe dừng, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên chỉ tay vào cánh cổng nhỏ bị che khuất bởi hàng cây trước ngõ: “Nhà ông Hữu Loan đây!” Trong ngôi nhà ấy, có hai con người từng bị đày đoạ đến tận cùng mà vẫn sống thanh thản. Họ có với nhau mười người con và 50 năm sống cùng nhau, cùng tồn tại, không thẹn với lòng, ngẩng mặt nhìn trời kiêu hãnh là người tử tế.

Người phụ nữ mặc áo lụa màu mỡ gà, trên cổ bà đeo chuỗi hạt trắng, nở nụ cười đôn hậu chỉ vào nhà: “Ông ấy nằm trong đấy!” rồi lại bình thản ra ngồi trên chiếc võng nhìn mọi người líu ríu vào trong chào ông. Thấy có người chụp ảnh, bà bảo: “Để tôi vấn tóc lên cho đàng hoàng đã”. “Thưa bà, bà là bà Nhu phải không?” – “Đúng vậy, tôi vợ của ông Hữu Loan, dân quanh vùng gọi tôi là bà Tú Loan. Chả là ông ấy ngày xưa đỗ tú tài mà” – bà tự hào. “Ông bà đã trải qua một cuộc đời dâu bể rồi mới có ngày an bình như hôm nay. Bây giờ bà đã vui chưa ạ?” – “Vui cũng chả vui mà buồn cũng chả buồn. Vì có lẽ đã khổ chưa từng thấy!” – “Vậy có khi nào bà than lấy ông ấy khổ quá?” – “Không, chả bao giờ có tư tưởng đấy, khổ thì khổ chung rồi, đã lấy nhau thì phải chung số phận. Dù cho có gì xảy ra thì vẫn ở với nhau nuôi con vui vẻ chứ không oán thán gì hết, không tại ông tại ả, tại nọ tại kia, và lúc nào cũng tin tưởng là ở với nhau trăm năm trọn vẹn chứ không bao giờ có xu hướng nghĩ khác”.

Câu chuyện của người đàn bà mấy chục năm cùng lăn lộn sinh tử với chồng con được bà kể lại rất tự nhiên, không chút oán thán:

“Cha mẹ tôi có 13 người con, tôi là thứ sáu. Lúc ông ấy về làng, làm thầy giáo dạy văn, tôi nghe lóm ở ngoài cửa lớp học, mê ông ấy giảng Kiều đến nỗi đêm về nằm mơ toàn thấy ông ấy. Rồi không hiểu sao ông ấy biết được, tìm đến hỏi tôi về làm vợ. Lúc đó cha mẹ tôi cũng không còn sống, gia đình ly tán sau cải cách ruộng đất. Tôi lấy ông ấy không chỉ vì mê mà cũng vì tìm một chỗ nương tựa. Có lẽ cũng vì lý do đó mà tôi đã không bao giờ rời xa ông ấy cho dù đói khổ thế nào.

Ngày ông quay ra Hà Nội làm việc ở hội Nhà văn, tôi ở lại đang chửa thằng cu đầu, ăn hết gạo mà nó vẫn không chịu chui ra. Khi nó ra thì tôi không còn gì để ăn nữa, cũng không dám xin ai, cứ nhịn đói ba ngày như thế, dân làng phát hiện, đưa ra xã để xin cứu đói, một ngày sau thì ông ấy về, bảo rằng: “Có bài thơ in, các anh em cán bộ cũng nghèo, đói dài, lấy tiền nhuận bút một cái là bị kè ra quán suốt, thế là hết tiền”. Rồi ông ấy đưa tôi ra Hà Nội. Sinh hai cháu gái tiếp theo, ăn gạo phiếu thì có mà không có tiền mua thức ăn, cứ rau muống với nước muối chấm là hàng đầu. Đến năm ông ấy bị kỷ luật, cả nhà về lại quê, lúc đó tôi đang có đứa thứ tư. Về làng, ông ấy vào núi đục đá, tôi làm bánh bán. Đủ loại bánh và cả bún mọc. Không có chút vốn liếng gì cả, tất tần tật là mua chịu, không phải người ta thương mà bán chịu, mà nhờ cái thật thà. Bán cả ngày xong là đem tiền về trả ngay. Còn bao nhiêu thì nuôi con, bữa đói bữa no cũng sống được mấy mươi năm.

Thương là thương ông ấy. Ăn toàn cháo khoai mà phải đẩy từng xe đá to khắp làng để bán. Mỗi vài chục bước lại hoa mắt, dừng nghỉ một lúc mới đẩy tiếp được. Thằng con thứ tư Nguyễn Hữu Vũ Thắng làm bài thơ “Bố ta đi xe cút kít” năm nó lên chín, nó tả ông ấy thế này: “Bố ta đi xe cút kít – Ò e út ít – Đủn choè lỗ đít – Út ít ò e…” Bài thơ dài lắm nhưng tôi cứ nhớ mấy câu đó, mỗi lần nhớ đến lại buồn cười mà thương ông ấy hơn. “Đủn choè lỗ đít” là hai chân chạng choè ra rồi lấy sức đẩy… Nhà tôi nói chung không phải lo con ăn học mà con cái cũng làm được thơ, văn đấy chứ!

Lúc nào cũng thương ông ấy. Thấy đời ông ấy vất vả, khổ thì mình cũng thế. Chỉ biết với nhau vậy mà thông cảm cùng nhau chứ chả trách ai. Chỉ trách mình sao quá đông con. May mà cả mười đứa đều trưởng thành tuy chỉ nuôi bằng “gạo chợ nước sông”.

Câu chuyện dừng lại khi mọi người gọi vào nghe ông đọc thơ. Ông nhìn bà, ánh mắt dịu dàng: “Tôi đọc bài thơ đã viết tặng bà nhé, cho mấy nhà báo thu lại” – “Ừ, thì ông đọc đi!”

Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một…

(Hoa lúa – 1955)

Bà nói: “Ông ấy năm nay 94, tôi cũng đã 76 tuổi rồi. Bây giờ không khổ nữa, người dân trong vùng đều thương nhà tôi. Những người có học thì trọng thơ ông, những người dân không biết chữ thì trọng ông vì khí khái, đường nào người ta cũng trọng. Sống như vậy thì đâu có sợ khổ sợ khó. Mỗi ngày lễ, tết, vợ chồng tôi cũng đã được quây quần với 20 đứa con cả dâu, rể và 40 đứa cháu nội, ngoại. Thế là cuộc đời cũng đã bình an!”



bài và ảnh Ngân Hà
Nguồn: Sài gòn tiếp thị


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:32 am

Lão thi sĩ Hữu Loan:
Trái sim tím ruột cả khi chín muồi

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng giờ đây mỗi lần nhắc đến Màu tím hoa sim, tâm hồn lão thi sĩ Hữu Loan vẫn còn rướm máu. Nỗi đau mất mát cùng với những thăng trầm, dâu bể cuộc đời của Hữu Loan đã để lại cho nền thơ ca Việt Nam một tác phẩm bất hủ...

Ngần ngại mãi, cuối cùng tôi mới "đánh liều" về làng Vân Hoàn thăm lão thi sĩ Hữu Loan. Ngại chẳng phải bởi đường xa cách trở, mà ngại bởi đã từng nghe về sự khí khái, khó tính đến cực đoan của thi sĩ. Tóm lại là sợ ông... không tiếp. Nhưng thật bất ngờ, khi được bà Nhu, vợ ông báo có phóng viên Thanh Niên đến thăm, lão thi sĩ đã ra tự tay mở cổng mời tôi vào nhà.

Ông nói: "Báo Thanh Niên à? Nghe nhiều rồi. Chắc anh định viết về lão già này chứ gì?". Tôi mừng thầm trong bụng vì sự cởi mở của thi sĩ. Đột nhiên Hữu Loan hỏi tiếp: "Hay là anh đến để xem tôi còn sống hay đã chết rồi?". Cặp mắt tinh anh của ông lóe lên một chút khinh bạc. Tôi thưa với ông rằng mình đến trước hết là vì mến mộ tác giả Màu tím hoa sim, sau nữa là muốn viết một cái gì đấy về ông... Hữu Loan cười: "Nói đùa anh vậy thôi, bạn đọc, anh em cầm bút còn nhớ, còn đến thăm lão già này là hạnh phúc lắm rồi. À, mà cách đây mấy năm Báo Thanh Niên còn gửi biếu tôi 5 triệu để uống rượu kia đấy...". Nói rồi ông với tay vào gầm bàn lôi ra một chai rượu trắng, rót một chén đưa cho tôi, nói: "Rượu Nga Sơn đấy. Uống đi, rồi tôi sẽ kể về đời tôi, về Màu tím hoa sim cho anh nghe". Ông đưa cả chai rượu lên miệng tợp một ngụm nhỏ rồi đưa tay vuốt mái tóc dài chớm vai trắng muốt. Cái dáng cao gầy, đạo cốt mà phong trần của lão thi sĩ ngồi bất động trước hiên nhà gợi rất nhiều cảm xúc... Sau tợp rượu, Hữu Loan nhìn lên bầu trời trong ráng chiều đỏ rực. Hình như quá khứ đang dồn dập kéo về. Cặp mắt ông đỏ hoe ngấn lệ. Tôi không nỡ giơ máy ảnh lên để chụp khoảnh khắc đầy tâm trạng ấy của lão thi sĩ...

...Bài thơ Màu tím hoa sim ra đời trong một hoàn cảnh đau thương, một biến cố lớn trong đời Hữu Loan. Năm 1949, Hữu Loan kết hôn với bà Lê Đỗ Thị Ninh, cưới xong, ông lại tất tả trở về đơn vị mang theo hình ảnh người vợ trẻ - một tiểu thư con nhà khuê các theo gia đình sơ tán nơi ấp nhỏ Thị Long (Nông Cống). Xa nhau chưa được 2 tháng, Hữu Loan nhận được hung tin người vợ trẻ chết đuối khi giặt quần áo ngoài sông. Bàng hoàng, đau đớn, ông vô hồn cầm cây bút trong tay và những vần thơ như máu và nước mắt cứ trào ra: "Nàng có ba người anh đi bộ đội - Những em nàng có em chưa biết nói - Khi tóc nàng xanh xanh…". Cái hình ảnh hoa sim tím ngắt chạy ngút ngàn trên những triền đồi vốn đã báo hiệu sự chia ly nhạt nhòa nước mắt. Thời chiến, cái chết đối với người lính nào có sá gì. Họ chỉ lo mình "không về" thì thương cho "người vợ chờ - bé bỏng chiều quê". Thật nghiệt ngã, giữa cái thời loạn ly chinh chiến ấy, khách chinh phu không ngã nơi sa trường mà "người gái nhỏ hậu phương" đã ra đi... Và người chiến sĩ - thi sĩ Hữu Loan vẫn tiếp tục hành quân để làm tròn nhiệm vụ của người lính thời chiến. Giữa những cuộc hành quân ấy, hình ảnh người vợ hiền bé bỏng lại hiện lên mỗi khi nhà thơ đi qua những đồi sim tím: "Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím - áo nàng màu tím hoa sim - Ngày xưa - một mình - đèn khuya - bóng nhỏ - Nàng vá cho chồng tấm áo - ngày xưa…".

Chiều dần buông, lão thi sĩ Hữu Loan vẫn say sưa nói chuyện văn chương và kể chuyện cuộc đời cho tôi nghe. Xen kẽ giữa những câu chuyện không đầu không cuối, tôi thấy ông nhắc nhiều đến những cái tên Văn Cao, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Dần... Đặc biệt, ông nói về tướng Nguyễn Sơn - vị "lưỡng quốc tướng quân" văn võ toàn tài - với một niềm trân trọng, tin yêu hết mực. Ông bảo, chính ông là người đã đi hỏi vợ cho tướng Nguyễn Sơn. Cái ngày tướng Nguyễn Sơn mất, ông đã viết "Nguyễn Sơn như một con tàu biển khổng lồ - Đi đến đâu không cho sóng ngủ...". Hữu Loan gật gù: "Ở đời có những người tuy mất rồi nhưng cái tên của họ vẫn tạc vào trời xanh thăm thẳm, mà người đời sau phải cúi đầu bái phục. Nguyễn Sơn là như vậy!".

Sự đột ngột trở về quê, bỏ lại sự nghiệp văn chương dang dở và những buồn vui thế sự nơi Hà thành những năm đầu giải phóng của Hữu Loan đã khiến cho những người yêu mến ông bất ngờ và tiếc nuối. Ở quê nhà, ngày ngày thi sĩ Hữu Loan vẫn nhẫn nại làm anh tiều phu lên rừng đốn củi, chở xuống chợ huyện bán để lấy tiền nuôi một bầy con khôn lớn... (Năm 1953, sau 4 năm người vợ trẻ mất, Hữu Loan đã cưới bà Phạm Thị Nhu ở xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Hai ông bà có với nhau 10 người con và giờ có tới 40 cháu nội, ngoại).

Khi được hỏi ông có "ân hận" gì sau 50 năm ẩn dật nơi thôn dã hay không, Hữu Loan cười, nụ cười độ lượng của ông già ở tuổi 90 đã trải qua bao giông bão, trầm luân của thế sự. Ông bảo: "Nói làm gì những chuyện buồn não đã qua. Đời tôi nó y như cái anh Màu tím hoa sim ấy. Nhưng ơn trời - giờ đây tôi có cả một đàn con, cháu... Người đời vẫn nhắc đến Màu tím hoa sim, đến Đèo Cả là Hữu Loan này mãn nguyện lắm rồi. Vả lại, số tôi là cái số mục đồng nên làm sao có thể xa bờ tre, con trâu cho được...".



Ngọc Minh
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:44 am

Hữu Loan - Người đi bộ ngược chiều

Tác giả: NGUYỄN THỤY KHA

Tin buồn mà một người bạn xứ Thanh nhắn vào máy di động của tôi ngày 18/3: "Nhà thơ Hữu Loan đã ra đi" khiến lòng tôi xao xác. Vậy là thêm một nhà thơ đàn anh đầy hoạn nạn đã chuyển cõi.

Vợ anh mất sớm...

Chỉ ít lâu sau ngày Hải Phòng và miền Bắc hoàn toàn giải phóng (13/5/1955), tôi đã nghe chị em mình ngâm nga: "Nàng có ba người anh đi bộ đội/ Những em nàng - có người chưa biết nói/ Khi tóc nàng xanh xanh/ Tôi người Vệ quốc quân/ Xa gia đình/ Yêu nàng như tình yêu em gái/ Ngày hợp hôn nàng không may áo cưới..."

Chị tôi đã bật khóc khi đọc: "Nhưng không chết người trai khói lửa/ Mà chết người em nhỏ hậu phương/ Tôi về không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên nàng đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ Thành bình hương tàn lạnh vây quanh". Chị nói đấy là thơ khóc vợ của nhà thơ Hữu Loan.

Cái tên Hữu Loan đã ám ảnh tôi từ đó. Sang mùa xuân sau, tôi lại nghe bài hát Hoa lúa của Trần Chung phỏng thơ Hữu Loan hay đến xao xuyến. Tôi vừa phục nhạc sĩ vừa phục nhà thơ. Thế rồi thời gian bẵng đi, rồi chiến tranh...

Màu tím hoa sim qua giai điệu của Phạm Duy trở thành Áo anh sứt chỉ đường tà. Không hiểu sao nhiều người lính cứ thầm nghêu ngao câu nhạc "Áo anh sứt chỉ đường tà, Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu..."


Nhà thơ Hữu Loan, Ảnh: blog teolangthang

Hóa ra "màu tím hoa sim" là cảnh ngộ của nhiều người lính trên trái đất này trong chiến tranh. Có một bài dân ca Grudia mà nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng rất thích cũng mang tứ như thế. Sau Màu tím hoa sim, ta còn đọc Núi đôi của Vũ Cao, Quê hương của Giang Nam đều có cái tứ ấy. Vậy là bi kịch này sẽ còn mãi nếu còn chiến tranh.

Ở Việt Nam, Hữu Loan là người phát ngôn bi kịch ấy bằng thơ đầu tiên. Một bài thơ xuất thần được trả giá bằng cái chết đau thương của chính vợ nhà thơ - bà Lê Đỗ Thị Ninh. Và với việc phát ngôn bi kịch này, ngược với cách tuyên truyền tụng ca ngày đó, Hữu Loan đã chính thức là "người đi bộ ngược chiều" trong nhiều năm tháng của lịch sử văn học Việt Nam.

Người đi bộ ngược chiều

Thống nhất đất nước, tôi trở về Hà Nội. Qua tiếp xúc với Đặng Đình Hưng, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần... và nhất là Văn Cao, tôi mới biết được khí phách của "người đi bộ ngược chiều" này. Văn Cao kể rằng sau vụ "Nhân văn Giai phẩm", Hữu Loan có quyết định giống như Nguyên Hồng là về quê.

Nguyên Hồng về ấp Cầu Đen là để viết tiếp những dự định tiểu thuyết của mình. Còn Hữu Loan thì đoạn tuyệt hẳn với nghề viết. Ông sắm xe đạp đi thồ đá ở Nga Sơn (Thanh Hoá quê ông).

Đêm trước khi về quê, Hữu Loan và Văn Cao đã đi bên nhau trắng đêm quanh hồ Thuyền Quang. Bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu tâm sự, họ đã trút sang nhau cạn kiệt đến thanh thản. Đêm ấy đã gợi cho Văn Cao viết bài thơ "Cạn": "Những tiếng gà lên/ Rụng hết, những ngôi sao cuối/ Tiếng kêu ở trong tôi/ Có xót xa có cả vui mừng/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước..."


Nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Phạm Duy, Ảnh: Nhipcauthegioionline

Mùa thu 1987 là mùa thu Hữu Loan ra Hà Nội. Chính mùa thu ấy, tôi mới thực kiến diện "người đi bộ ngược chiều". Hữu Loan vui mừng với thời đổi mới bằng việc mang ra một tập thơ mang tên "Màu tím hoa sim" với những bài thơ lừng danh một thời như "Đèo cả", "Hoa lúa", "Những làng ta đi qua", "Nguyễn Sơn", "Quách Xuân Kỳ"... Những cuộc rượu đầm đìa nước mắt của cố nhân gặp cố nhân.

Những ngày ấy, khi ông ở nhà tôi, khi ông ở nhà anh Chu Thành (tức Tú Sót). Anh em hàn huyên bao chuyện không dứt. Hữu Loan cũng là một "tiên tửu". Càng say, ông càng vuốt những sợi râu cước oai phong và đọc vang Đường thi. Ông có lối dịch thơ Đường cũng khác người. Ông ngông đến mức không biết giữa ông với tiên sinh Tản Đà, ai hơn ai kém. Chất chứa trong lòng bao nhiêu ẩn ức, vậy mà tiếng cười Hữu Loan vẫn trong vang, sảng khoái. Tiếng cười của người thồ đá.

Có một đêm uống rượu khá say ở nhà ông Chu Thành, tôi dìu ông ra vỉa hè đường Bà Triệu và sau đó đi bộ về Hàng Bông. Vừa đi tôi vừa ngẫu hứng từng câu thơ trong cuộc "đi bộ ngược chiều" đó: Khoác vai nhau, đi ngược đường Bà Triệu/ Người ba mươi năm trước, người hôm nay/ Không khoảng cách/ Anh thầm thì sợ lạc, như từng lạc/ Khiến tôi đang say, chợt tỉnh, rồi lại say/ Nếu là ôtô, là môtô, là xe đạp, sẽ bị tuýt còi ngay/ Nhưng ngược chiều là hai người đi bộ/ Những bước chân chẳng nói được gì về tốc độ/ Trong đầu họ những tứ thơ vụt bay/ Hai người, hai thế hệ, cách nhau ba mươi năm, vẫn đang cùng sóng đôi/ Đi ngược chiều đường Bà Triệu/ Trong đêm ai dõi nhìn có hiểu/ Họ sẽ cùng đi tới sáng bằng lối này.

Ngỡ ông say không nghe, vậy mà hết bài thơ, ông nắm chặt tay tôi. Không nói, lại bước tiếp.

Cứ thế, ông đã là "người đi bộ ngược chiều" cho đến hôm nay khi bước vào tuổi 95. Giống như mẹ tôi khi mất, ông đã sống thọ theo cách nói của hôm nay là "đá bù giờ sau phút", đã ngừng hành trình của "người đi bộ ngược chiều", tạc lại đời một khí phách Hữu Loan.



Nguồn: Tuanvietnam


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:51 am

Hữu Loan - cây gỗ vuông màu tím

Tác giả: PHẠM XUÂN NGUYÊN

TT - Nhà thơ Hữu Loan - tác giả của bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim - đã qua đời tại nhà riêng ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh (Nga Sơn, Thanh Hóa) vào lúc 19g ngày 18-3, hưởng thọ 95 tuổi.

Ông là một nhà thơ đích thực của nền thơ hiện đại VN. Ðích thực bởi thơ. Chỉ bằng hai bài Màu tím hoa sim và Ðèo Cả, Hữu Loan đã ghi danh mình cho thơ Việt ở sự riêng tư và mới mẻ.

Màu tím hoa sim là tiếng khóc của người chồng cho người vợ xấu số, là một tiếng kêu cho tình yêu trong thời đạn lửa, là lời phẫn uất trước số mệnh phũ phàng của con người.

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh.


Tiếng thơ ấy đã lập tức đồng vọng và lan xa trong lòng bao người, dẫu ở một thời chiến tranh bắt con người phải nén nỗi đau riêng, vùi chôn tâm trạng cá nhân để ra trận và cầm súng, bởi vì đó là tiếng thổn thức thắt nghẹn của con tim. Ðèo Cả hào hùng, hào sảng tinh thần của một thế hệ dấn thân cho vận nước trong hình ảnh những chiến binh như trượng phu ngang tàng giữa núi rừng, chấp mọi hiểm nguy, đùa cùng gian nan.

Sau mỗi lần thắng
Những người trấn đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?


Hai bài thơ khắc ghi dấu ấn rất riêng của Hữu Loan vào một thời thơ. Thơ, chứ không phải cái gì khác, đã làm nên Hữu Loan, đã vinh danh ông. Những nhát thơ Hữu Loan đục vào thời gian, đục vào tâm khảm, để lại dấu tích không phai.

Ông đã sống một cuộc đời dài, thật dài, mà những khổ nạn, thử thách chỉ càng làm bền thêm trong ông những lựa chọn ban đầu khi làm cách mạng và làm thơ. Bỏ phố thị thủ đô về lại quê hương, tự tay vỡ đất vỡ đá lầm lụi tháng ngày nuôi vợ con, nuôi mình chống chọi với cuộc sống thiếu thốn vất vả và nhiều chướng ngại, nhưng ông không nề hà, nản chí.

Hữu Loan là một con người cương cường. Ai đã một lần gặp ông, nhìn ngắm khuôn mặt ông, nhất là đôi mắt, và nghe giọng ông nói đều có thể cảm nhận đây là một con người không chịu gục ngã trước thử thách. Trời đã cho ông sức khỏe và ý chí để thọ cao đến vậy sau bao khổ nhọc chồng chất. Nhưng tôi tin trời thương ông nên đã ban thơ cho ông để ông sống được là mình như vậy. Ông tự gọi mình là cây gỗ vuông:

Tôi, cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời
Ðã làm thất bại âm mưu
đẽo tròn
để muốn tùy tiện
lăn long lóc
thế nào
thì lăn lóc.
Chân lý đấy
hỡi
rìu
bào
phó mộc.


Nhà ông, trên bàn thờ chỉ để một chữ "tâm".

Tôi đã thấy chữ "tâm" đó mỗi lần bước vào nhà ông ở một vùng quê xứ Thanh. Lần gần đây nhất là trước Tết dương lịch 2010 mấy ngày. Khi ấy ông đã yếu nhiều, giọng thều thào, nhưng cũng như bao lần có khách đến thăm yêu cầu, ông vẫn cất giọng đọc thơ. Ðọc hai bài Màu tím hoa sim và Hoa lúa. Một bài cho người vợ đầu xấu số mất sớm khiến ông đau xót khôn nguôi hơn 60 năm qua. Một bài cho người vợ sau gắn bó hơn nửa đời người cùng ông trải bao hoạn nạn đắng cay, sinh cho ông mười người con, giữ cho ông tinh thần phải sống.

Giọng ông lúc khỏe nghe rõ ràng, khúc chiết, sai một chữ một từ là ông sửa lại ngay. Lúc yếu, giọng nghe không rõ, nhưng vẫn thấy tỏa ra trong giọng đọc đó tình cảm sâu nặng sắt son của ông dành cho hai người phụ nữ đã làm nên đời ông - đời một con người và đời một nhà thơ.

Thơ ông đã nằm lòng bao nhiêu độc giả hàng chục năm qua. Không chỉ là một, hai bài đã nổi tiếng, mà còn những bài khác được truyền tụng. Như bài Tình thủ đô, mới được nhà thơ Dương Tường và nhà văn Mạc Lân khôi phục mấy năm trước. Như bài Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn năm 1956:

Một đám tang đã diễu hành
Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài
Nấc lên mầu huyết
Một đám tang đi
Không
bao
giờ
tới
huyệt.


Từ thơ, có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ vuông màu tím - đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.


(Sài Gòn 19-3-2010)
Nguồn: tuoitre.vn


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 10:59 am

Người thơ bận việc làm người

Tác giả: NGUYỄN DUY

Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng "địa linh, nhân kiệt". Ông cũng thuộc loại "nhân kiệt", không chỉ là "hào kiệt" mà còn là "cùng kiệt", một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.

Hồi còn ở quê, Ðò Lèn, huyện Hà Trung, giáp với huyện Nga Sơn quê ông, tôi chỉ biết ông qua lời đồn và giai thoại. Cha tôi từng đẩy xe thồ suốt những năm 1960, từng quen biết với ông Tú Loan - tức nhà thơ Hữu Loan một thời. Có lần cha tôi hỏi: "Mày đi học có biết thơ của ông xe thồ này không?". Tôi nói không (nhà trường hồi đó không dạy thơ Hữu Loan).



Nhà thơ Hữu Loan, tranh của Lê Quang

Cha tôi nói ông Tú Loan hay chữ lắm, đỗ tú tài Tây, làm quan cách mạng thời khởi nghĩa bốn lăm, thời kháng chiến chống Pháp, làm thơ nổi tiếng, nhưng rồi chỉ vì cái tính ngang tàng, ngang bướng mà bỏ về làm dân đen, đi thồ đá, thồ dưa, thồ chiếu, đủ thứ... Cho đến đầu thập niên 1970, sau mấy năm làm lính, khi theo học khoa văn Ðại học Tổng hợp Hà Nội, tôi mới được đọc thơ Hữu Loan.

Rồi gần 20 năm sau tôi mới được gặp ông...

TP.HCM, một ngày thu năm 1988. Tôi đang điều hành cuộc họp cơ quan thường trú của báo Văn Nghệ, tại trụ sở 43 Ðồng Khởi, chợt có người đến tìm gặp, xưng là nhà thơ Hữu Loan, từ quê vào. Lật đật chạy xuống phòng khách, tôi thấy một ông già hom hem, râu tóc lam nham, áo quần xốc xếch, hao hao giống thi sĩ Bùi Giáng, ngồi co một cẳng lên ghế. Cái cách đó đích thị Hữu Loan rồi, theo hình dung của tôi.

Tôi ôm chầm lấy ông như người quen thân lâu ngày chưa gặp. Ông nói tuy chưa gặp tôi nhưng có đọc thơ tôi và rất vui mừng vì xứ Thanh bây giờ có "đứa" làm thơ được như vậy. Ông có người con đang làm thợ ở Ðồng Nai, vào thăm con, rồi đạp xe đi lang thang thăm những ai mà ông muốn gặp...

Tôi xin ông ngồi uống trà, chờ cho tôi kết thúc cuộc họp trong chốc lát nữa. Chừng 15 phút sau, tôi trở lại phòng khách cơ quan, thấy lão thi sĩ đang nằm thẳng cẳng trên ghế xalông, đầu gối lên cái cặp giả da to đùng, ngáy ngon lành. Chiếc xe đạp lấm láp của ông dựng giữa phòng khách và cạnh đó có đôi dép nhựa sứt quai.

Tôi gọi cho mấy người bạn văn nghệ, những người sùng bái thơ Hữu Loan. Chúng tôi quyết định đãi ông một bữa trưa sao cho ông thích thú. Một bữa tiệc "hùng vĩ" - như cách gọi của ông. Tiếp đến tiệc trà. Chúng tôi ngẩn ngơ nghe ông đọc thơ vanh vách, giọng sang sảng. Một bữa tiệc thơ "dữ dội", những Ðèo Cả, Màu tím hoa sim, Hoa lúa, Trung đoàn đi qua...

Hữu Loan kể vắn tắt về những năm tháng ông sống, cả trong kháng chiến, sau hòa bình và nhất là thời gian cực kỳ gian nan, lận đận ở chính quê nhà, sau khi ông bỏ Hà Nội về làng. Một cuộc đời thật ngang tàng, ngang trái mà cũng thật hiên ngang. Một cuộc đời tất tả, bận rộn. Chúng tôi hỏi, ông bận việc gì nhất? Ông thản nhiên trả lời: "Bận việc làm người"...

Sau này, tôi đã mấy lần về thăm ông tại làng quê ông. Chuyện đời, chuyện thơ dài lắm, nhưng lần gặp đầu tiên năm 1988 ấy vẫn để lại trong tôi những ấn tượng mạnh nhất về ông. Cũng sau lần gặp đó, tôi có làm bài thơ bốn câu tặng ông mà đến nay mới có dịp chép lại:

Thơ tặng cụ Tú Loan

Ngang tàng... ngang trái... nghênh ngang
Hồn sim tím một chiều hoang bên đời
Người thơ bận việc làm người
Một mai thánh hóa lên trời làm sao.



(TP.HCM, 19-3-2010)
Nguồn: tuoitre.vn


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 11:15 am

"Người anh đi bộ đội" nhớ tác giả "Màu tím hoa sim"



Trung tướng Hồng Cư
Trung Tướng Hồng Cư chính là một trong ba người anh, là anh trai của nhân vật "nàng" được nhắc đến trong bài thơ ’Màu tím hoa sim". Và trong buổi chiều tiễn đưa nhà thơ Hữu Loan về nơi an nghỉ cuối cùng, ông đã ôn lại những kỷ niệm về tác giả, về một thời đã đi vào quá khứ với TS. Hơn ai hết, Trung tướng Hồng Cư thuộc nằm lòng bài thơ "Hoa tím ngày xưa" dù giờ ông đã 85 tuổi.

"Tôi là người anh thứ hai của nhân vật nữ trong bài thơ ’Màu tím hoa sim’. Bài thơ bắt đầu bằng câu: "Nàng có ba người anh đi bộ đội". Ba người anh ấy là những ai? Người anh thứ nhất là Lê Đỗ Khôi, anh cả của chúng tôi, nguyên là chính trị viên Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 165, Đại đoàn 312, hy sinh tại Điện Biên Phủ trước giờ chiến thắng đúng 5 tiếng đồng hồ.
Lúc đó quân ta đang tiến vào hầm Đờ-cát-tơ-ri. Anh tôi trong đội hình của 312 chiến đấu tại các cứ điểm dọc theo sông Nậm Rốm và bị thương. Sau đó anh trở ra phía sau thì gặp Chính uỷ Trung đoàn 165, cũng là người cuối cùng trông thấy anh tôi. Người ấy hiện vẫn đang còn sống, đó là Trung tướng Trần Quang Khánh. Ông có kể lại với tôi rằng anh tôi bị thương trong trận chiến đấu của ngọn đồi 506.

Nhưng đáng tiếc là khi trở ra, khi gần đến đồi Him Lam thì gặp đội oanh tạc của quân Pháp ném bom vào đội hình của những người chở thương binh. Vì thế về sau việc đi tìm thi thể của anh tôi rất khó. Nhưng cuối cùng Trung Đoàn 165 vẫn tìm được thi thể anh tôi và sau đó đưa về nghĩa trang A1. Lúc đó tôi cũng chiến đấu ở Điện Biên Phủ và hai anh em hẹn nhau giờ chiến thắng sẽ gặp ở hầm Đờ-cát-tơ-ri.

Tôi đã chờ suốt cả đêm hôm đó nhưng không thấy anh tôi đến. Sáng hôm sau khi đi tìm Chính uỷ của Trung đoàn 165 thì mới được biết tin anh tôi đã mất. Kể từ khi thi thể của anh tôi được quy tập về Đồi A1, đúng 50 năm sau tôi mới có dịp về để thắp hương cho anh, vào dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ.

Tôi là người anh thứ hai trong bài thơ. Tên khai sinh là Lê Đỗ Nguyên. Nhưng khi đi bộ đội, tôi ở tiểu đội Phạm Hồng Thái nên tất cả anh em trong tiểu đội đều đổi họ Phạm Hồng. Do vậy, tôi có cái tên thứ hai là Phạm Hồng Cư, cũng là cái tên thường dùng trong quân đội. Người anh thứ ba là Lê Đỗ An, sau này là Bí thư thường trực của TW Đoàn Thanh niên nên đổi tên là Nguyễn Tiên Phong, khi mất ông là Phó ban Dân vận TW.

Còn nhân vật "Nàng" ở đây chính là em gái tôi: Lê Đỗ Thị Ninh. Em tôi là người thứ tư trong gia đình và đã mất trong khi ở khu sơ tán ở huyện Tĩnh Gia, thời Kháng chiến chống Pháp.

Còn câu chuyện quan hệ với anh Hữu Loan thì trước hết, anh Hữu Loan là gia sư dạy chúng tôi khi ba anh em còn học ở Thanh Hoá. Anh Hữu Loan sinh năm 1916 đến nay mất là đã 95 tuổi. Anh Hữu Loan hơn anh tôi 8 tuổi, hơn tôi 10 tuổi và hơn em tôi 12 tuổi. Khi đó chúng tôi đang học Tiểu học mà anh Loan thì đã tốt nghiệp trung học và đi làm gia sư rồi. Ấn tượng trong tôi về anh, đó là một con người cương trực và yêu văn thơ. Chính anh ấy đã truyền cho tôi tình yêu văn học.

Cả ba anh em cùng ra trường Bưởi Hà Nội học trung học rồi tham gia CMT8 và Kháng chiến chống Pháp chứ không về nhà. Vì thế mới có đoạn thơ: "Một chiều rừng mưa/ Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc/ Được tin em gái mất/ trước tin em lấy chồng".

Trong Kháng chiến chống Pháp, liên hệ giữa chúng tôi ở Việt Bắc, Đông Bắc và Khu 4 Thanh Hoá rất khó khăn. Suốt thời gian chống Pháp tôi cũng chỉ về nhà có một lần thôi. Đó cũng là lý do tôi không hề biết em tôi lấy chồng và cũng không hề biết em tôi đã mất cho tới tận năm 1949. Khi đó có một hội nghị của Bộ Quốc phòng triệu tập các Chính uỷ, Chính trị viên. Trong cuộc họp ấy tôi đã gặp anh Võ Trí Sơn, bạn của anh Hữu Loan và cũng là bạn của gia đình tôi.

Khi gặp tôi, anh Võ Trí Sơn mừng lắm vì hai người ngoài việc quen biết đã lâu còn có chung kỷ niệm về hoạt động tiền khởi nghĩa. Lúc đó anh nói với tôi rằng: "Cô Ninh đã mất rồi"! Tôi bàng hoàng hỏi: "Mất thế nào?" Anh Sơn bảo: "Cô Ninh đã lấy Hữu Loan và giống như câu chuyện trong "Màu tím hoa sim". Vì thế tôi biết em gái tôi mất trước khi biết tin em lấy chồng.

Có thể nói bài thơ ấy hoàn toàn chân thực. Nó là lời thốt lên từ trái tim của một người đau khổ. Hoàn toàn đúng sự thật.

Những kỷ niệm của tôi cũng quy tụ quanh bài thơ "Màu tím hoa sim" và đặc biệt là hai đoạn thơ tôi vừa kể.

Đến hôm nay, nghe tin Hữu Loan đã mất, tuy rằng lấy em gái tôi nhưng tôi vẫn gọi Hữu Loan bằng Anh. Không chỉ bởi Hữu Loan hơn tôi 10 tuổi mà còn làm cho tôi có những kỷ niệm sâu sắc về một con người cương trực, có bản lĩnh và rất yêu văn học. Đó là người từng giúp tôi có những cảm hứng, có những cảm nhận và biết cái hay, cái đẹp của những vần thơ.

Bây giờ Hữu Loan đã mất, tôi không về đưa tang được... Nhưng tôi nghĩ rằng Hữu Loan sẽ sống mãi với bài thơ.


Hạnh Phương (ghi)
Nguồn:Vietbao


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Sun May 06, 2012 11:23 am

Màu tím Hữu Loan

Năm ngoái có dịp về Thanh Hóa, tôi đã lên xe tính chạy thẳng về Nga Sơn thăm bác Hữu Loan nhưng rốt cuộc một lần về Nga Sơn bất thành. Trước Tết, đọc báo thấy Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu đến Nga Sơn thăm bác. Lúc đó bác đã yếu lắm rồi nhưng vẫn còn nghe đọc thơ được. Giờ thì bác đã đi rồi, ở tuổi 95, cũng là viên mãn lắm, danh cũng có, dù đó là một cuộc đời cay đắng nhưng ông là kẻ sĩ có nhân cách đáng trọng.


Năm 1987, chiều Đà Lạt lạnh ngọt, nắng vàng hoe, có một ông lão mang bị cói xuất hiện ở cơ quan Hội Văn nghệ Lâm Đồng. Khuôn mặt khắc khổ như một lão nông nhưng toát lên khí phách của một con người ngang tàng, ngạo nghễ. Hữu Loan xuất hiện như một thi nhân tái thế.

Ông là khách “VIP” của anh em văn nghệ Đà Lạt lúc đó. Thi thoảng ông ghé vợ chồng tôi ăn cơm, tâm sự chuyện đời, chuyện văn thơ, chuyện “màu tím hoa sim”. Lúc ấy cơn gió đổi mới thổi tràn sang lĩnh vực văn nghệ làm thức giấc những con “sói già” của làng văn nghệ.

Những Phùng Quán, Trần Dần, Hữu Loan, Hoàng Cầm... đồng loạt tỉnh giấc giữa mùa đông. Máu giang hồ gặp làn gió đổi mới, Hữu Loan mang bị cói Nga Sơn lên đường.

Trong nắng chiều sông Hậu

Đó là những ngày hạnh phúc nhất của Hữu Loan. Ông lên Hà Nội ghé thăm anh em văn nghệ, ở nhà Tú Sót – Chu Thành, một nhà thơ trào phúng nổi tiếng ở Hà Nội. Vinh quang, cay đắng bao phủ ông. Rồi ông “hành phương Nam”.

Tôi được vinh dự theo “hầu” ông trong chuyến về miền Tây sông nước theo lời mời của bạn bè văn nghệ. 14 giờ, trên phà Cần Thơ, nắng rừng rực, những mảng lục bình trôi lững lờ dưới sông.

Ông mang bị cói, rời chiếc xe Lada, bước lên phà. Một người đàn ông dắt đứa trẻ chừng 10 tuổi, với cây đàn guitar, ca ngọt lự bài Những đồi hoa sim - do nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc từ bài thơ của ông. Những đồng tiền lẻ bỏ vào chiếc mũ đen đúa của đứa trẻ mỗi lúc mỗi nhiều.

Ông cũng móc trong bị cói bỏ vào đó mấy đồng, quay sang nói với tôi: “Thơ mình cũng làm ra tiền đấy nhỉ!”. Tôi nói: “Nghệ thuật vị nhân sinh mà bác!”.

Ông cười hiền lành, chân chất như một lão nông, ông bảo không thích cái điệu bolero buồn hiu hắt ấy, ông thích cái hùng khí trong Áo anh sứt chỉ đường tà của Phạm Duy hơn.

Tôi cũng đồng ý như vậy nhưng khi đến Kiên Giang, một vị giám đốc ái mộ ông, khi đã làm vài ve rồi, “anh dũng” đổi áo cho ông để làm kỷ niệm - cái áo mà ông mặc nhiều ngày không giặt, rồi qua máy cassette cho ông nghe bài Những đồi hoa sim do nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc, qua tiếng hát của Phương Dung, Hoàng Oanh.

Nghe xong ông gật gù: “Mấy cô này hát đã thiệt!”. Không “đã” sao được khi nghe Phương Dung mở đầu bằng hai câu thơ: Áo anh sứt chỉ đường tà/Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...”. Những ngày giang hồ ở miền Tây là những ngày hạnh phúc nhất đời ông.

Đó là lúc quyền lực thơ của ông lên tiếng. Đi theo ông mới thấy tầm vóc riêng biệt của bài thơ Màu tím hoa sim, mới thấy chiều cao nhân cách của ông.

Những mối tình xứ Thanh

Màu tím hoa sim đi vào lòng người hết sức tự nhiên và hình như ai cũng thuộc. Đó là bài thơ viết về bi kịch của cuộc đời ông, cho bà vợ Lê Đỗ Thị Ninh của ông chết khi còn quá trẻ, mới 17 tuổi. Đó có thể là một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20 của chúng ta, bài thơ về chiến tranh hết sức nhân bản của nhân loại.

Ở đó có lịch sử, có chiến tranh, có sự sống, hạnh phúc và bi thương. Một chiều rừng mưa/Ba người anh nàng/Từ chiến trường Đông Bắc/ Được tin em gái mất/ Trước tin em lấy chồng...”.

Lịch sử cách mạng ghi nhận “ba người anh nàng” ấy không ai khác đó là Lê Đỗ Khôi, chính trị viên Tiểu đoàn 115, Đại đoàn 312, hy sinh năm 1954 trong chiến dịch Điện Biên Phủ; là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân VN; là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn.

Cả ba người này và bà Ninh đều là học trò của Hữu Loan khi ông đậu xong tú tài, lên thị xã Thanh Hóa dạy học ở nhà ông Lê Đỗ Kỳ, một quan chức cấp cao thời bấy giờ, một trí thức yêu nước. Ông Lê Đỗ Kỳ cũng là đại biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Mối tình ấy, gia đình ấy gắn bó với ông thật tình cờ và cũng thật lãng mạn, để chúng ta có một Màu tím hoa sim bây giờ. Tôi nhớ trong suốt thời gian ở miền Tây sông nước, đi đến đâu ông cũng được yêu cầu đọc bài thơ này và mỗi lần đọc ông đều khóc.

Tiếng khóc ông hết sức chân thật, xé lòng người nghe. Ai yêu bài thơ này đều thắc mắc vì sao có thêm một đoạn cuối mà các văn bản lưu hành trước đó không có: Màu tím hoa sim/Tím tình tang lệ rớm/Tím tình ơi lệ ứa/Ráng vàng ma/Và sừng rúc điệu quân hành/Vang vọng chập chờn/Theo bóng những binh đoàn/Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím/Tôi ví vọng về đâu/Tôi với vọng về đâu/Áo anh nát chỉ dù lâu...”.

Hỏi ông, ông chỉ gật đầu, nói “như vậy đấy!”. Lúc đầu người yêu thơ thấy khó chịu nhưng sau này đọc lại thấy Hữu Loan có lý của ông, nó làm cho toàn bài thơ thấm đẫm một màu tím thương nhớ, day dứt, buồn thăm thẳm nhưng kiêu hùng. Đó là màu tím của Hữu Loan.

Mối tình thứ hai của ông cũng là người con gái xứ Thanh, bà Phạm Thị Nhu. Đây là người vợ sống với ông cho đến nay, sinh cho ông 10 người con. Một mối tình nói lên bản chất ngang tàng, ngay thẳng của ông. Bà Nhu là con một địa chủ, lâm vào cảnh hết sức khó khăn lúc ấy. Đó là lý do ông đến với bà, để cùng bà đi hết cả cuộc đời cực nhọc, đắng cay lẫn hạnh phúc.

Ông còn một mối tình xứ Thanh khác, cũng khi ông dạy học ở Thanh Hóa. Người con gái ấy rất đẹp, sang trọng, sau này ông có gặp ở Việt Bắc và trở thành dĩ vãng yêu...

Trên đỉnh Đèo Cả

Không có cách mạng, không có kháng chiến, không có thơ Hữu Loan. Ông là người thơ của cách mạng. Hữu Loan chỉ có chừng vài chục bài thơ, có bài thất lạc đến nay mới tìm thấy. Những Hoa Lúa, Yên Mô, Tình thủ đô, Màu tím hoa sim... làm nên tên tuổi của Hữu Loan nhưng Đèo Cả (1946) mới chính là đỉnh cao của ông.

Trong chiến dịch Nam tiến, đơn vị của Hữu Loan đóng ở đèo Cả (Khánh Hòa). Những trận đánh ác liệt, những cuộc hành binh bất tận, gian khổ dặm trường của bộ đội đã thúc giục ông viết những câu thơ bất hủ, khắc lên bia đá non sông hình tượng anh bộ đội cách mạng cao vòi vọi: Đèo Cả/Đèo Cả/ Núi cao ngút/Mây trời Ai Lao/Sầu đại dương/Dặm về hun hút/Bia đá mù sương.

Chất lãng mạn cách mạng ấy ẩn sâu trong từng con chữ sắc như dao nhưng mềm như mây, êm êm như con sóng vỗ dưới chân đèo Cả. Cả những hình ảnh hết sức hiện thực của anh Bộ đội Cụ Hồ chân chất, mạnh mẽ: Sau mỗi lần thắng/Những người trấn đèo Cả/Về bên suối đánh cờ/Người hái cam rừng/Ăn nheo mắt/Người vá áo/Thiếu kim mài sắt/Người đập mảnh chai/Vểnh cằm cạo râu/Suối mang bóng người/Soi những về đâu?

Viết xong Đèo Cả, Hữu Loan đứng ngang tầm ngọn đèo này trong thi ca VN hiện đại. Chỉ có thi sĩ - liệt sĩ Trần Mai Ninh với Nhớ máu, cũng viết năm 1946, mới có thể so sánh với Đèo Cả, và bài thơ này cũng viết dưới chân đèo Cả, Tuy Hòa, cùng một phong cách lãng mạn - hiện thực và viết bằng máu.

Cuộc chiến tranh chống Pháp 9 năm đã sản sinh một thế hệ nhà thơ chiến sĩ hết sức đặc biệt với những Hữu Loan, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Hồng Nguyên... Đó là những nhà thơ góp phần rất lớn trong việc đổi mới phong cách thi ca hiện đại, cả về ngôn ngữ lẫn tư tưởng.

Với Hữu Loan, ông không chỉ viết bằng máu mà còn có cả nước mắt qua bài thơ bất hủ Màu tím hoa sim. Cái màu tím ấy không hề bi lụy mà nó còn giục giã bước chân bộ đội lên đường, vì hạnh phúc của chính chúng ta, của dân tộc ta. Tôi muốn gọi màu tím ấy là “màu tím Hữu Loan”.

Giờ ông đã yên nghỉ trên ngọn đồi sim ở làng Vân Hoàn quê ông, để ngắm Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết/Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt...


Lưu Nhi Dũ
Nguồn:nld.com.vn


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Mon May 07, 2012 8:49 am

Hầu chuyện cụ Hữu Loan

L.T.S: Nhà thơ Hữu Loan (sinh ngày 12/4/1916) đã tạ thế ngày 18/3/2010 tại xã Nga Lĩnh (Nga Sơn, Thanh Hóa), thọ 95 tuổi, Hồn Việt xin chia buồn cùng gia quyến nhà thơ và đăng bài viết sau đây của nhà văn Hà Đình Cẩn như là một nén hương tưởng niệm người đã đi xa…


Khó có thể hình dung ký giả chiến tranh - nhà thơ Hữu Loan từng đeo gươm cưỡi ngựa như tráng sĩ đi dọc Đèo Cả viết những câu thơ vạm vỡ về vệ quốc quân đầu tiên của cuộc kháng chiến: Đèo Cả / Đèo Cả / Núi cao ngất / Mây trời Ai Lao / Sầu đại dương / Dặm về heo hút / Đá bia mù sương / Bên quán Hồng Quân / Người / Ngựa / Mỏi… lại là một ông già chỉ còn râu tóc, với một nhúm da thịt ngồi dựa tường, đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống, mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay như thế kia. Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chuối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch…



Nhà thơ Hữu Loan.

Cụ đang sáng tác, nghĩ về thơ, hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Thi bá cho rằng thơ thuộc về Âm, nghĩa là thuộc về đêm, thuộc về trăng, con nước, thuộc về đàn bà. Người có sao Thái Âm đóng cung mệnh, người đó mới làm được thơ, mới trở thành nhà thơ. Thơ thuộc hành Thuỷ, mềm đấy mà cứng đấy, thấy trước mặt mà không nắm được trong tay, ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bởi vậy trong thơ thường có trăng, có sông, lại khăng khít với nhau, tạo những suối nước. Ngày trăng viên mãn thì nước ngập tràn. Ngày trăng hao mòn thì con nước ngẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn, là cô đơn, là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ. Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để “vịn” mà đi. Thơ trường tồn là vậy.

Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn, bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để cụ cảm về thơ, nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến thế?

Nhà thơ ngồi đó, trước mặt tôi, như ngồi để chờ một phép lạ giúp cụ được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác. Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng cụ sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá, nhưng trời lại chưa cho, nên xem cái dáng cụ ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái, mãn nguyện, buông xuôi sự đời của trưởng lão, mà vẫn như để tự giam mình cho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn.

- Thưa cụ, vừa rồi hỏi thăm ngõ vào nhà ta, có bà hàng xóm lại kêu cụ là cụ giáo Loan, nghe là lạ. Phải chăng cụ đã từng làm nghề dạy học?

Tay vẫn cầm chén rượu trắng, cụ Hữu Loan im lặng một lúc lâu, mới nói:

- Hai mươi tuổi tôi đậu tú tài, nên tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ gọi cụ Tú Loan là vậy. Học trường Tây, nhưng tôi không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép, mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Bình dân rồi tham gia Việt Minh. Ngày cách mạng Tháng Tám tôi mới 29 tuổi, được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn…

- Không ít bạn đọc thế hệ con cháu lại biết rằng tác giả Màu tím hoa sim lại là cán bộ tiền cách mạng?

- Có sao đâu. Tôi chỉ nhắc lại cho vui thôi. Ngày đầu cách mạng tôi thành viên Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách bốn Ty: Giáo dục, Thương chính và Công chính… Trong buổi sáng diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng có cô học trò 16 tuổi đã cởi vòng xuyến vàng góp cho kháng chiến.

Kháng chiến bùng nổ, tôi làm công tác tuyên truyền, phụ trách tờ báo Chiến Sĩ ở Mặt trận miền Trung. Tôi thường sống với các đơn vị, nhiều khi thay vì viết những phóng sự, tôi làm thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính đầy nhiệt huyết buổi đầu cách mạng.

Chân đèo nam / máu giặc / bao lần / nắng khô / Sau mỗi lần thắng / Những người lính Đèo Cả / Về bên suối / đánh cờ / Người hái cam rừng / ăn nheo mắt / Người vá áo / thiếu kim / mài sắt / Người đập mảnh chai / vểnh cằm / cạo râu / Suối mang bóng người / soi / những / về / đâu?!

- Thưa cụ, Đèo Cả gập ghềnh, vạm vỡ, chữ quánh đặc, nhấp nhô như dốc đá, tư thế kiêu sang, tươi rói về hiện thực ngày đầu kháng chiến, thật giàu phong vị sử thi. Sau này nhìn lại lịch sử văn học cách mạng, Đèo Cả cùng với Nhớ máu của Trần Mai Ninh được xếp lên vị trí mở đầu thời đại thơ ca mới. Vì thế, cụ thì có thể khuất bóng ở làng chân núi Nga Sơn này, nhưng thơ cụ thì sáng chói… Cụ có thấy vì thế mà khỏe ra không?

- Tôi chỉ coi Đèo Cả như lời tâm sự yêu thương về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc. Tôi viết để gửi cho một người đọc, cô Đỗ Thị Ninh, học trò cũ đã hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến. Chúng tôi nên vợ nên chồng vào đầu năm 1948. Bấy giờ tôi là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới, đang ở chiến trường, tôi nhận tin vợ mất. Tôi khóc vợ bằng Màu tím hoa sim…

Tôi người Vệ quốc quân / xa gia đình / Yêu nàng / như tình yêu em gái / Ngày hợp hôn / nàng không đòi / may áo mới / Tôi mặc đồ quân nhân / đôi giày đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên anh chồng độc đáo / Tôi ở đơn vị về/ cưới nhau xong / là đi / Từ chiến khu xa… / nhớ về ái ngại / Lấy chồng đời chiến chinh / mấy người đi trở lại…

- Thưa cụ, bạn đọc nói chung và các nhà phê bình văn học nói riêng cho rằng, từ sau Màu tím hoa sim, nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa, phong trần, cưỡi ngựa, đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm, sâu nặng tình nghĩa con người. Hoa lúa, Yên Mô, Những làng đi qua… những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê, tình người kháng chiến. Và sau đó, cụ không sáng tác nữa, khép một đời thi sĩ chỉ với 10 bài thơ. Cụ có nhớ thơ không?

- Tôi đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Hoà bình, sóng gió của những đổi thay đã đẩy tôi rẽ sang hướng khác. Bước thăng trầm của tôi bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Hội nhiều sương muối, buốt giá, tôi và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thiền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn tôi ra bến xe để tôi trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.

Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hoá quê tôi nghèo lắm. Tôi lại tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về làng Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng tôi cắp be rượu lên núi đá đầu thôn. Ở Nga Sơn này, tôi chỉ còn biết đổ rượu lên đá mà thề càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt. Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm. Tôi nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng. Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa muối cho đàn con. Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không ai hỏi mua. Một năm, hai năm, ba năm,… tôi trở thành người thợ đá thực thụ. Cặm cụi vật lộn với núi đá tôi nuôi cả mười đứa con khôn lớn. Đến giờ cả mười đứa con đã có chín nên vợ nên chồng, sinh cho tôi đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đình.

- Cụ thôi làm nghề đục đá kiếm cơm từ khi nào?

- Tôi mới gác búa hơn mười năm nay, lui về nhà, trải chiếu trên thềm, ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng xóm, của gia đình mình, của phận mình. Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa. Tòa soạn báo Văn Nghệ, cơ quan tôi công tác gần bốn mươi năm trước đưa đến tận nhà cho cái sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng. Rồi chờ thêm vài năm nữa tôi được Nhà xuất bản Thanh Hóa in cho tập thơ đầu tiên trong đời, tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ viết từ thời kháng chiến. Đợi mãi, tôi được trời ban phúc, thằng con trai út, ra đời trên lèn đá đã tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Nó đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên, Nghệ An. Giá còn sức như ngày nào, tôi sẽ chở một xe cút kít đá ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài viên đá lát đường…



Không biết có còn vận may nào đến với Hữu Loan nữa không? Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.

- Cụ có làm thơ nữa không?

Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:

- Có. Nhưng toàn thơ đểu.

Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.

- Cụ thử đọc vài câu thơ “đểu” cho con nghe với nào.

Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói:

- Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.

Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.


HÀ ĐÌNH CẨN

Nguồn: http://honvietquochoc.com.vn

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Tue May 08, 2012 7:21 am

Phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan

- Clip 01 -





Nguồn: http://www.youtube.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Tue May 08, 2012 7:23 am

Phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan

- Clip 02 -





Nguồn: http://www.youtube.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Tue May 08, 2012 7:24 am

Phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan

- Clip 03 -





Nguồn: http://www.youtube.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Tue May 08, 2012 7:26 am

Phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan

- Clip 04 -





Nguồn: http://www.youtube.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ngao_0p
Chế rượu
Chế rượu
avatar

Tổng số bài gửi : 1056
Points : 1144
Thanks : 17
Join date : 05/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   Tue May 08, 2012 7:28 am

Phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan

- Clip 05 -





Nguồn: http://www.youtube.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Hữu Loan - Màu tím hoa sim   

Về Đầu Trang Go down
 
Hữu Loan - Màu tím hoa sim
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» [Review] Nữ vương hắc đạo: Ông xã chớ làm loạn - Dực Yêu
» [Share] Mức độ chung thủy của BIG BANG (talkshow ở Đài Loan)
» [Review] Hồng Nhan Loạn - Đóa Đóa Vũ
» [26/12/13][News] "The Commitment" có doanh thu phòng vé cao nhất trong số các phim Hàn chiếu rạp ở Đài Loan
» [6/10/15][News] Cô gái dính líu scandal với Seungri lên tiếng bác bỏ lời đồn

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Tư liệu :: Văn học-
Chuyển đến