Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

September 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Bùi Giáng
Việt Nam Sử Lược Q1
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Trần Tế Xương
Keywords

Share | 
 

 Khuất Nguyên

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 7:26 am

Khuất Nguyên
(340 TCN - 278 TCN)


Khuất Nguyên (chữ Hán: 屈原; bính âm: qū yúan), tên Bình, biệt hiệu Linh Quân là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.

Ngoài tập Ly Tao là tập thơ bất hủ của ông để lại, ông còn có nhiều sáng tác thơ khác như Sở từ, Thiên Vấn (Hỏi trời).v.v.

Đến cuối đời ông bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú "Hoài Sa" rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử.

Ông cũng chính là nhân vật trong sự tích tết Đoan Ngọ (Đoan Dương). Theo truyền thuyết này, để tưởng nhớ về con người và cái chết bi ai của ông, hàng năm người ta tổ chức vào ngày mồng năm tháng năm là ngày tết Đoan Dương ở Trung Quốc và một số nước khác ở Châu Á.


Xem thêm Khuất Nguyên Liệt Truyện trong Sử ký Tư Mã Thiên

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 7:41 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 7:46 am

Khuất Nguyên và thơ ca của ông

Khuất Nguyên là nhà thơ được nhân dân Trung Quốc kính trọng nhất và yêu thích nhất trong hàng nghìn năm nay. Ông sống vào thời ky Chiến Quốc (từ năm 475 đến năm 221 trước công nguyên ). Cái gọi là “Chiến Quốc” là vì đây là một thời đại các nước chư hầu san sát, hỗn chiến không ngừng. Trong đó nước Tần và nước Sở là hai nước có thực lực lớn mạnh nhất lúc đó. Mười mấy nước nhỏ khác đều dựa vào hai nước này.

Khuất Nguyên là quý tộc nước Sở, và đảm nhiệm chức quan cấp cao. Ông có học thức uyên bác, giỏi về ngoại giao, ban đầu, ông được nhà vua nước Sở ưa thích và tin tưởng. Trong thời đại đó, nhà vua và quyền quý các nước đều tranh nhau thu hút nhân tài phục vụ cho mình, cho nên họ tiếp đãi nhân tài một cách lễ phép. Lúc đó, nhiều người có học thức nổi tiếng đều du thuyết ở các nước, nỗ lực hết sức nhằm thực hiện lý tưởng chính trị của mình. Nhưng Khuất Nguyên không như vậy, ông rất quyến luyến tổ quốc, mong phụ tá nhà vua nước Sở bằng tài hoa của mình, khiến nước Sở chính trị dân chủ, thực lực nhà nước mạnh mẽ. Với lý tưởng như trên, Khuất Nguyên cho đến chết cũng không muốn rời khỏi tổ quốc. Điều đáng tiếc là, vì Khuất Nguyên có mâu thuẫn gay gắt với tập đoàn quý tộc hủ bại nước Sở về mặt nội chính và ngoại giao, hơn nữa lại bị người khác vu cáo hãm hại, Khuất Nguyên bị nhà vua nước Sở xa lánh, sau đó, địa vị nước lớn và thực lực nhà nước mạnh mẽ của nước Sở dần dần suy sụp. Năm 278 trước công nguyên, quân đội nước Tần đánh phá Dĩnh Đô, thủ đô nước Sở. Nước tan nhà tan, Khuất Nguyên không chịu nổi nỗi căm phẫn, nhảy xuống sông tự tử.

Khuất Nguyên để lại di sản bất hủ cho đời sau. Là nhà thơ sáng tác độc lập đầu tiên, bài thơ “Ly Tao”—tác phẩm tiêu biểu của ông là một bài thơ trữ tình chính trị mang đậm chủ nghĩa lãng mạn dài nhất trong lịch sử văn học cổ đại Trung Quốc. Trong bài thơ, tác giả dẫn lại nhiều điển tích lịch sử, mong nhà vua nước Sở học các quân chủ thánh hiền sáng suốt trong truyền thuyết như nhà vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, trong nước trọng dụng nhân tài, công bằng vô tư, thực thi đức chính; đối ngoại thì tích cực liên hợp với các nước khác chống lại nước Tần. Bài thơ “Ly Tao” đột phá hình thức biểu hiện của cuốn sách “Kinh Thi”—tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, tăng cường sức biểu hiện của thơ ca, mở ra một không gian mới cho sáng tác thơ ca cổ đại Trung Quốc. Do vậy, người đời sau gọi chung “Sở Từ” và “Kinh Thi” là “Phong, Tao”. “Phong, Tao” là cội nguồn của hai truyền thống chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong lịch sử thơ ca Trung Quốc.

Ngoài tác phẩm tiêu biểu “Ly Tao” ra, bài văn “Thiên Vấn” của Khuất Nguyên là một bài thơ lạ lùng hiếm thấy từ trước đến nay, dùng câu nghi vấn nêu ra 172 vấn đề liền với ông trời, đề cập tới nhiều lĩnh vực như thiên văn, địa lý, văn học, triết học v.v., thể hiện tinh thần khoa học mạnh dạn hoài nghi quan niệm truyền thống và theo đuổi chân lý của nhà thơ. Ngoài ra, “Cửu Ca” là một nhóm bài hát tế thần, được sáng tác trên cơ sở bài hát tế lễ dân gian, trong thơ, nhà thơ sáng tạo nhiều hình tượng thần tiên, đa số là bài hát tình yêu giữa loài người và thần tiên.

Tác phẩm của Khuất Nguyên thể hiện nhiều ý nghĩ lạ lùng, ông nhân cách hóa hoa cỏ cây cối, sáng tạo nhiều hình tượng nàng tiên, để gửi gắm tình cảm cao cả của mình. Cho nên, đọc tác phẩm của Khuất Nguyên, không những có thể thể nghiệm cái đẹp đẽ của ngôn ngữ, cái lạ lùng của ví dụ, mà còn có thể thể nghiệm tình cảm cao cả và tình yêu quê hương yêu đất nước của nhà thơ. Bởi vậy, hàng nghìn năm nay, Khuất Nguyên luôn là nhà thơ cổ điển được người Trung Quốc kính trọng nhất.


Nguồn: http://vietnamese.cri.cn

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 7:55 am

Đông Hoàng Thái Nhất

Nguyên văn chữ Hán:

東皇太一

吉日兮辰良,
穆將愉兮上皇。
撫長劍兮玉珥,
璆鏘鳴兮琳琅。
瑤席兮玉瑱,
盍將把兮瓊芳。
蕙肴蒸兮蘭藉,
奠桂酒兮椒漿。
揚枹兮拊鼓,
疏緩節兮安歌,
陳竽瑟兮浩倡。
靈偃蹇兮姣服,
芳菲菲兮滿堂。
五音紛兮繁會,
君欣欣兮樂康。
Phiên âm Hán Việt:

Đông Hoàng Thái Nhất

Cát nhật hề thìn lương,
Mục tương du hề thượng hoàng.
Phủ trường kiếm hề ngọc nhị,
Cầu thương minh hề lâm lang.
Dao tịch hề ngọc chấn,
Hạp tương bả hề quỳnh phương.
Huệ hào chưng hề lan tạ,
Điện quế tửu hề tiêu tương.
Dương phu hề phụ cổ,
Sơ hoãn tiết hề an ca,
Trần vu sắt hề hạo xướng.
Linh yển kiển hề giảo phục,
Phương phi phi hề mãn đường.
Ngũ âm phân hề phồn hội,
Quân hân hân hề lạc khang.

Dịch thơ:

Thần Đông Hoàng Thái Nhất

Gió lành chừ ngày tốt,
Hớn hở chừ đón ngài.
Vỗ gươm dài chừ cán đeo ngọc,
Ngọc lanh canh chừ ánh sáng ngời.
Chiếu cỏ dao chừ trấn bằng ngọc,
Sao chẳng cầm chừ cành quỳnh tươi.
Bọc huệ chừ đổ nấu,
Lót lan chừ mâm xôi.
Rượu quế chừ dâng cúng,
Rung trống chừ múa dùi.
Khoan nhịp chừ dịu hát,
Khèn đàn chừ hoà vui.
Bóng mặc đẹp chừ múa dẻo,
Hương đầy nhà chừ phơi phơi.
Năm cung bậc chừ hợp điệu,
Ngài hân hoan chừ tươi cười.


Người dịch: Đào Duy Anh

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 8:02 am

Thiệp giang

Nguyên văn chữ Hán:

涉江

余幼好此奇服兮,
年既老而不衰。
帶長鋏之陸離兮,
冠切雲之崔巍。
被明月兮,
佩寶璐。
世溷濁而莫余知兮,
吾方高馳而不顧。
駕青虯兮驂白螭,
吾與重華遊兮瑤之圃。
登崑崙兮食玉英,
與天地兮比壽,
與日月兮齊光。
哀南夷之莫吾知兮,
旦余濟兮江湘。
乘鄂渚而反顧兮,
欸秋冬之緒風。
步余馬兮山皋,
邸余車兮方林。
乘舲船余上沅兮,
齊吳榜以擊汰。
船容與而不進兮,
淹回水而疑滯。
朝發枉渚兮,
夕宿辰陽。
苟余心其端直兮,
雖僻遠之何傷!
入漵浦余儃佪兮。
迷不知吾之所如。
深林杳以冥冥兮,
乃猿狖之所居。
山峻高以蔽日兮,
下幽晦以多雨。
霰雪紛其無垠兮,
雲霏霏而承宇。
哀吾生之無樂兮,
幽獨處乎山中。
吾不能變心而從俗兮,
固將愁苦而終窮。
接輿髡首兮,
桑扈臝行。
忠不必用兮,
賢不必以。
伍子逢殃兮,
比干菹醢。
與前世而皆然兮,
吾又何怨乎今之人!
余將董道而不豫兮,
固將重昏而終身。
Phiên âm Hán Việt:

Thiệp giang

Dư ấu hiếu thử kỳ phục hề,
Niên ký lão nhi bất thôi.
Đới trường giáp chi lục ly hề,
Quan thiết vân chi thôi nguy.
Bị minh nguyệt hề,
Bội bảo lộ.
Thế hỗn trọc nhi mạc dư tri hề,
Ngô phương cao trì nhi bất cố.
Giá thanh cầu hề tham bạch ly,
Ngô dữ Trùng Hoa du hề Dao chi phố.
Đăng Côn Lôn hề thực ngọc anh,
Dữ thiên địa hề tỷ thọ,
Dữ nhật nguyệt hề tề quang.
Ai nam di chi mạc ngô tri hề,
Đán dư tế hề giang Tương.
Thừa ngạc chử nhi phản cố hề,
Ai thu đông chi tự phong.
Bộ dư mã hề Sơn Cao,
Để dư xa hề Phương Lâm.
Thừa linh thuyền dư thượng nguyên hề,
Tề ngô bảng dĩ kích thái.
Thuyền dung dữ nhi bất tiến hề,
Yêm hồi thuỷ nhi nghi trệ.
Triêu phát Uổng Chử hề,
Tịch túc Thần Dương.
Cẩu dư tâm kỳ đoan trực hề,
Tuy tích viễn chi hà thương!
Nhập Tự phố dư bồi hồi hề.
Mê bất tri ngô chi sở như.
Thâm lâm yểu dĩ minh minh hề,
Nãi viên dứu chi sở cư.
Sơn tuấn cao dĩ tế nhật hề,
Hạ u hối dĩ đa vũ.
Tản tuyết phân kỳ vô ngân hề,
Vân phi phi nhi thừa vũ.
Ai ngô sinh chi vô lạc hề,
U độc xứ hồ sơn trung.
Ngô bất năng biến tâm nhi tòng tục hề,
Cố tương sầu khổ nhi chung cùng.
Tiếp Dư khôn thủ hề,
Tang Hộ loã hành.
Trung bất tất dụng hề,
Hiền bất tất dĩ.
Ngũ Tử phùng ương hề,
Tỷ Can thư hải.
Dữ tiền thế nhi giai nhiên hề,
Ngô hựu hà oán hồ kim chi nhân!
Dư tương đổng đạo nhi bất dự hề,
Cố tương trùng hôn nhi chung thân.

Dịch thơ:

Qua Sông

Ta thủa nhỏ ưa mặc đồ lạ hề[1]
Tuổi đã già mà chưa thôi.
Đeo gươm dài chi [2] lấp lánh hề,
Đội mũ "thiết-vân" chi cao lồi.
Châu "minh-nguyệt" hề ta đeo,
Ngọc "bảo-lộ" hề ta có.
Đời đục vẩn mà không ai biết ta hề,
Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó.
Cưỡi con "thanh-cầu" hề kèm cho "bạch-ly".
Ta cùng với ông "Trùng-hoa"[3] hề chơi ở "Dao-phố"!
Trèo lên núi Côn-lôn hề,
Ăn cánh hoa tươi,
Sánh tuổi thọ với trời đất hề,
Tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời!
Thương dân mọi chi không biết ta hề.
Sớm mai ta sẽ vượt sông "Tương",
Đứng bên "Ngạc" mà quay đầu trông lại hề.
Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương.
Ruổi ngựa ta hề chốn "Sơn-cao",
Đậu xe ta hề đất "Phương-lâm".
Bơi chiếc thuyền hề lên sông "Nguyên".
Đều tay chèo hề sống vỗ rầm.
Thuyền lửng thửng mà không đi hề,
Nước chẩy quanh nên khó sang.
Sớm đi từ "Uổng-chử" hề,
Chiều nằm ở "Thần-thang".
Nếu bụng ta chi ngay thẳng hề,
Dù xa quạnh có hà phương.
Vào bến "Tự" ta còn dùng dằng hề,
Ta chưa biết ở vào đâu.
Rừng sâu thẵm chi tối mò hề,
Toàn là hang vượn cùng hang hầu,
Núi các vọi chi ngất trời hề,
Dưới ũm thũm mà mưa dầu.
Tuyết tơi bời chi khắp gần xa hề,
Mây đùn đùn mà kéo mau.
Thương cái sống của ta chi buồn bực hề,
Một mình ở trong núi sâu.
Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề,
Đành ta trọn đời mà ôm sầu.
Kìa "Tang-hộ" [4] còn phải đi trấn hề,
"Tiếp-dư"[4] còn phải tội gọt đầu.
Người trung đã chắc gì được dùng hề.
Người hiền đã hẳn gì được ai cầu.
Người xưa mà còn như thế hề,
Ta còn oán gì người sau.
Ta cứ vững một lòng mà giữ đạo hề,
Thôi chẳng quản gì buồn rầu!


Người dịch: Phan Kế Bính

1. Chữ "hề" là một tiếng đệm câu.
2. Chữ "chi" là một tiếng đưa lời.
3. Trùng-hoa và vua Đế-thuấn.
4. a b Tang-hộ, Tiếp dư là hai người hiền đời xưa.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 8:27 am

Ly Tao

Ly tao là một trong những bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc do Khuất Nguyên sáng tác. Đây là một tác phẩm bất hủ của ông. Tác phẩm dài 370 [1] câu tả tâm sự của tác giả.

Ly tao được dịch ra theo nghĩa tiếng Việt là sự "oán thán" (lời than vãn), nhưng cũng được biết đến với nghĩa là "sự buồn phiền quá đỗi" hay một "tâm trạng xáo trộn". Đặc sắc của bài trường thiên này là lời bi thảm triền miên, thường dùng lối tượng trưng, lối nhân cách hóa và dẫn rất nhiều điển cố thần thoại.



Nguyên bản chữ Hán Phiên âm Hán Việt
離騷


帝高陽之苗裔兮,
朕皇考曰伯庸;
攝提貞于孟陬兮,
惟庚寅吾以降;
皇覽揆余于初度兮,
肇錫餘以嘉名;
名餘曰正則兮,
字餘曰靈均;
紛吾既有此內美兮,
又重之以修能;
扈江離與辟芷兮,
紉秋蘭以為佩;
汩餘若將不及兮,
恐年歲之不吾與;
朝搴阰之木蘭兮,
夕攬洲之宿莽;
日月忽其不淹兮,
春與秋其代序;
惟草木之零落兮,
恐美人之遲暮;
不撫壯而棄穢兮,
何不改乎此度?
乘騏驥以馳騁兮,
來吾導夫先路。
昔三後之純粹兮,
固眾芳之所在;
雜申椒與菌桂兮,
豈維紉夫蕙芷;
彼堯舜之耿介兮,
既遵道而得路;
何桀紂之猖披兮,
夫唯捷徑以窘;
惟夫党人之偷樂兮,
路幽昧以險隘;
豈餘身之憚殃兮,
恐皇輿之敗績;
忽奔走以先後兮,
及前王之踵武;
荃不察餘之中情兮,
反信饞而齌怒;
餘固知謇謇之為患兮,
忍而不能舍也;
指九天以為正兮,
夫唯靈修之故也;
曰黃昏以為期兮,
羌中道而改路;
初既與余成言兮,
後悔遁而有他;
餘既不難夫離別兮,
傷靈修之數化。
余既茲蘭之九畹兮,
又樹蕙之百畝;
畦留夷與揭車兮,
雜度蘅與方芷;
冀枝葉之峻茂兮,
願□時乎吾將刈;
雖萎絕其亦何傷兮,
哀眾芳之蕪穢;
眾皆競進以貪婪兮,
憑不厭乎求索;
羌內恕己以量人兮,
各興心而嫉妒;
忽馳騖以追逐兮,
非餘心之所急;
老冉冉其將至兮,
恐修名之不立;
朝飲木蘭之墜露兮,
夕餐秋菊之落英;
苟餘情其信姱以練要兮,
長顑頷亦何傷;
攬木根以結芷兮,
貫薜荔之落蕊;
矯菌桂以紉蕙兮,
索胡繩之纚纚;
謇吾法夫前修兮,
非世俗之所服;
雖不周於今之人兮,
願依彭鹹之遺則!
長太息以掩涕兮,
哀民生之多艱;
余雖好修姱以鞿羈兮,
謇朝誶而夕替;
既替餘以蕙纕兮,
又申之以攬芷;
亦餘心之所善兮,
雖九死其尤未悔;
眾女疾餘之蛾眉兮,
謠諑謂餘以善淫;
固時俗之工巧兮,
偭規矩而改錯;
背繩墨以追曲兮,
競周容以為度;
忳郁邑餘挓傺兮,
吾獨窮困乎此時也;
寧溘死以流亡兮,
餘不忍為此態;
鷙鳥之不群兮,
自前世而固然;
何方圜之能周兮,
夫孰異道而相安;
屈心而抑志兮,
忍尤而攘詬;
伏清白以死直兮,
固前聖之所厚。
悔相道之不察兮,
延佇乎吾將反;
回朕車以複路兮,
及行迷之未遠;
步余馬于蘭皋兮,
馳椒丘且焉止息;
進不入以離尤兮,
退將複修吾初服;
制芰荷以為衣兮,
集芙蓉以為裳;
不吾知其亦已兮,
苟餘情其信芳;
高餘冠之岌岌兮,
長余佩之陸離;
芳與澤其雜糅兮,
唯昭質其猶未虧;
忽反顧以遊目兮,
將往觀乎四荒;
佩繽紛其繁飾兮,
芳菲菲其彌章;
民生各有所樂兮,
余獨好修以為常;
雖體解吾猶未變兮,
豈餘心之可懲。
女嬃之嬋媛兮,
申申其詈予。
曰:“□嬃直以亡身兮,
終然殀乎羽之野;
汝何博謇而好修兮,
紛獨有此姱節;
薋菉葹以盈室兮,
判獨離而不服;
眾不可戶說兮,
孰雲察餘之中情;
世並舉而好朋兮,
夫何煢獨而不予聽。”
依前聖以節中兮,
喟憑心而曆茲;
濟沅湘以南征兮,
就重華而陳詞:
“啟《九辯》與《九歌》兮,
夏康娛以自縱;
不顧難以圖後兮,
五子用乎家巷;
羿淫遊以佚畋兮,
又好射夫封狐;
固亂流其鮮終兮,
浞又貪夫厥家;
澆身被服強圉兮,
縱欲而不忍;
日康娛而自忘兮,
厥首用夫顛隕;
夏桀之常違兮,
乃遂焉而逢殃;
後辛之菹醢兮,
殷宗用之不長;
湯禹儼而祗敬兮,
周論道而莫差;
舉賢才而授能兮,
循繩墨而不頗;
皇天無私阿兮,
攬民德焉錯輔;
夫維聖哲以茂行兮,
苟得用此下土;
瞻前而顧後兮,
相觀民之計極;
夫孰非義而可用兮,
孰非善而可服;
阽余身而危死兮,
攬余初其猶未悔;
不量鑿而正枘兮,
固前修以菹醢。”
曾歔欷余鬱邑兮,
哀朕時之不當;
攬茹蕙以掩涕兮,
霑餘襟之浪浪。
跪敷衽以陳詞兮,
耿吾既得中正;
駟玉虯以乘鷖兮,
溘埃風餘上征;
朝發軔於蒼梧兮,
夕餘至乎縣圃;
欲少留此靈瑣兮,
日忽忽其將暮;
吾令羲和弭節兮,
望崦嵫而匆迫;
路曼曼其修遠兮,
吾將上下而求索;
飲余馬于咸池兮,
總餘轡乎扶桑;
折若木以拂日兮,
聊逍遙以相羊;
前望舒使先驅兮,
後飛廉使奔屬;
鸞皇為餘先戒兮,
雷師告餘以未具;
吾令鳳鳥飛騰夕,
繼之以日夜;
飄風屯其相離兮,
帥雲霓而來禦;
紛總總其離合兮,
斑陸離其上下;
吾令帝閽開關兮,
倚閶闔而望予;
時曖曖其將罷兮,
結幽蘭而延佇;
世溷濁而不分兮,
好蔽美而嫉妒。
朝吾將濟於白水兮,
登閬風而紲馬;
忽反顧以流涕兮,
哀高丘之無女;
溘吾遊此春宮兮,
折瓊枝以繼佩;
及榮華之未落兮,
相下女之可詒;
吾令豐隆乘雲兮,
求宓妃之所在;
解佩纕以結言兮,
吾令蹇修以為理;
紛總總其離合兮,
忽緯繣其難遷;
夕歸次於窮石兮,
朝濯發乎洧盤;
保厥美以驕傲兮,
日康娛以淫遊;
雖信美而無禮兮,
來違棄而改求;
覽相觀於四極兮,
周流乎天餘乃下;
望瑤台之偃蹇兮,
見有娀之佚女;
吾令鴆為媒兮,
鴆告餘以不好;
雄鳩之鳴逝兮,
餘猶惡其佻巧;
心猶豫而狐疑兮,
欲自適而不可;
鳳皇既受詒兮,
恐高辛之先我;
欲遠集而無所適兮,
聊浮游以逍遙;
及少康之未家兮,
留有虞之二姚;
理弱而媒拙兮,
恐導言之不固;
世溷濁而嫉賢兮,
好蔽美而稱惡;
閨中既已邃遠兮,
哲王又不寤;
懷朕情而不發兮,
餘焉能忍此終古。
索藑茅以筳篿兮,
命靈氛為餘占之;
曰:兩美其必合兮,
孰信修而慕之;
思九州之博大兮,
豈惟是其有女?
曰:勉遠逝而無狐疑兮,
孰求美而釋女?
何所獨無芳草兮,
爾何懷乎故宇;
世幽昧以昡曜兮,
孰雲察餘之善惡;
民好惡其不同兮,
惟此黨人其獨異;
戶服艾以盈要兮,
謂幽蘭其不可佩;
覽察草木其猶未得兮,
豈珵美之能當?
蘇糞壤以充幃兮,
謂申椒其不芳。
欲從靈氛之吉占兮,
心猶豫而狐疑;
巫鹹將夕降兮,
懷椒糈而要之;
百神翳其備降兮,
九疑繽其並迎;
皇剡剡其揚靈兮,
告余以吉故;
曰:勉升降以上下兮,
求□鑊之所同;
湯禹嚴而求合兮,
摯咎繇而能調;
苟中情其好修兮,
又何必用夫行媒;
說操築于傅岩兮,
武丁用而不疑;
呂望之鼓刀兮,
遭周文而得舉;
甯戚之謳歌兮,
齊桓聞以該輔;
及年歲之未晏兮,
時亦猶其未央;
恐鵜□之先鳴兮,
使夫百草為之不芳;
何瓊佩之偃蹇兮,
眾薆然而蔽之;
惟此黨人之不諒兮,
恐嫉妒而折之;
時繽紛其變易兮,
又何可以淹留;
蘭芷變而不芳兮,
荃蕙化而為茅;
何昔日之芳草兮,
今直為此蕭艾也;
豈其有他故兮,
莫好修之害也;
余既以蘭為可侍兮,
羌無實而容長;
委厥美以從俗兮,
苟得列乎眾芳;
椒專佞以慢韜兮,
樧又欲充夫佩幃;
既幹進而務入兮,
又何芳之能祗;
固時俗之流從兮,
又孰能無變化;
覽椒蘭其若茲兮,
又況揭車與江離;
惟茲佩之可貴兮,
委厥美而曆茲;
芳菲菲而難虧兮,
芬至今猶未沫;
和調度以自娛兮,
聊浮游而求女;
及余飾之方壯兮,
周流觀乎上下。
靈芬既告余以吉占兮,
曆吉日乎吾將行;
折瓊枝以為羞兮,
精瓊爢以為粻;
為余駕飛龍兮,
雜瑤象以為車;
何離心之可同兮,
吾將遠逝以自疏;
邅吾道夫昆侖兮,
路修遠以周流;
揚雲霓之晻藹兮,
鳴玉鸞之啾啾;
朝發軔于天津兮,
夕餘至乎西極;
鳳皇翼其承旗兮,
高翱翔之翼翼;
乎吾行此流沙兮,
遵赤水而容與;
麾蛟龍使梁津兮,
詔西皇使涉予;
路修遠以多艱兮,
騰眾車使徑待;
路不周以左轉兮,
指西海以為期;
屯余車其千乘兮,
齊玉軑而並馳;
駕八龍之蜿蜿兮,
載雲旗之委蛇;
抑志而弭節兮,
神高馳之邈邈;
奏《九歌》而舞《韶》兮,
聊假日以媮樂;
陟升皇之赫戲兮,
忽臨睨夫舊鄉;
仆夫悲余馬懷兮,
蜷局顧而不行。
亂曰:已矣哉,
國無人莫我知兮,
又何懷乎故都;
既莫足為美政兮,
吾將從彭咸之所居。
Ly Tao

Ðế Cao Dương[2] chi miêu duệ hề,
Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
Nhiếp đề trinh vu mạnh trâu hề,
Duy canh dần ngô dĩ giáng[3].
Hoàng lẫm quỹ dư sơ độ hề,
Triệu tích dư dĩ gia danh.
Danh dư viết Chính Tắc hề,
Tự dư viết Linh Quân[4]
Phân ngô ký hữu thử nội mỹ hề,
Hựu trùng chi dĩ tu năng.
Hỗ giang ly dữ tịch chi hề,
Nhẫn thu lan dĩ vi bội.
Cốt dư nhược tương bất cập hề,
Khủng niên tuế chi bất ngô dữ.
Triệu khiên tì chi Mộc lan[5] hề,
Tịch lãm châu chi túc mụ.
Nhật nguyệt hốt kỳ bất yêm hề,
Xuân dữ thu kỳ đại tự.
Duy thảo mộc chi linh lạc hề,
Khủng mỹ nhân chi trì mộ.
Bất phủ tráng nhi khí uế hề,
Hà bất cải hồ thử độ?
Thừa kỳ ký dĩ trì sính hề,
Lai ngô đạo phù tiên lộ.
Tích tam hậu chi thuần túy hề,
Cố chúng phương chi sở tại.
Tạp thân tiêu dữ khuẩn quế hề,
Khởi duy nhân phù huệ chi.
Bỉ Nghiêu Thuấn chi cảnh giới hề,
Ký tuân đạo nhi đắc lộ.
Hà Kiệt Trụ chi xương phỉ hề,
Phù duy tiệp kính dĩ quẫn bộ.
Duy phù đảng nhân chi du lạc hề,
Lộ u muội dĩ hiểm ải.
Khởi dư thân chi đạn ương hề,
Khủng hoàng dư chi bại tích.
Hốt bôn tẩu dĩ tiên hậu hề,
Cập tiền vương chi chủng vũ.
Thuyên bất sát dư chi trung tình hề,
Phản tín sàm nhi tễ nộ.
Dư cố tri kiển kiển chi vi hoạn hề,
Nhẫn chi bất năng xả dã.
Chi cửu thiên dĩ vi chính hề,
Phù duy linh tu chi cố dã.
Viết hoàng hôn dĩ vi kỳ hề,
Khương trung đạo nhi cải lộ.[6]
Sơ ký dữ dư thành ngôn hề,
Hậu hối độn nhi hữu tha.
Dư bất nan phù ly biệt hề,
Thương linh tu chi sắc hóa.
Dư ký tư lan chi cửu uyển hề,
Hựu thụ huệ chi bách mẫu.
Huề lưu di dữ yết xa hề,
Tạp đỗ hành dữ phương chi.
Ký chi diệp chi tuấn mậu hề,
Nguyện sĩ thì hồ ngô tương ngải.
Tuy ủy tuyệt kỳ diệc hà thương hề,
Ai chúng phương chi vu uế.
Chúng giai cạnh tiến dĩ tham lam hề,
Bằng bất yếm hồ câu sách.
Khương nội thứ ký dĩ lượng nhân hề,
Các hưng tâm nhi tật đố.
Hốt trì vụ dĩ truy trục hề,
Phi dư tâm chi sở cấp.
Lão nhiễm nhiễm kỳ tương chí hề,
Khủng tu danh chi bất lập.
Triêu ẩm mộc lan chi trụy lộ hề,
Tịch xan thu cúc chi lạc anh.
Cẩu dư tình kỳ tín khóa dĩ luyện yếu hề,
Trường kham hạm diệc hà thương!
Lãm mộc căn dĩ kết chỉ hề,
Quán bệ lệ chi lạc nhị.
Kiều khuẩn quế dĩ nhân huệ hề,
Tác hồ thằng chi sỉ sỉ.
Kiển ngô pháp phủ tiền tu hề,
Phi thế tục chi sở phục!
Tuy bất chu ư kim chi nhân hề,
Nguyện y Bành Hàm[7] chi di tắc.
Trường thái tức dĩ yểm thế hề,
Ai dân sinh chi đa gian.
Du tuy hiếu tu khóa dĩ cơ ky hề,
Kiển triêu đốt nhi tịch thế.
Kỳ thế dư dĩ huệ tương hề,
Hựu thân chi dĩ lãm chi.
Diệc dư tâm chi sở thiện hề,
Tuy cửu tử kỳ do vị hối.
Oán linh tu chi hạo đãng hề,
Chung bất sát phù dân tâm.
Chúng nữ tật dư chi nga mi hề,
Dao trác vị dư dĩ thiện dâm.
Cố thì tục chi công xảo hề,
Miến quy củ nhi cải thố.
Bội thằng mặc dĩ trụy khúc hề,
Cạnh chu dung dĩ vi độ.
Ðồn uất ấp dư sá sế hề,
Ngô độc cùng khốn thử thì dã.
Chí điểu chi bất quân hề,
Tự tiền thế nhi cố nhiên.
Hà phương viên chi năng chu hề,
Phù thục dị đạo nhi tương yên!
Khuất tâm nhi ức chí hề,
Nhẫn vưu nhi nhương cấu.
Phục thanh bạch dĩ tử trực hề,
Cố tiền thành chi sở hậu.
Hối tướng đạo chi bất sát hề,
Diên trữ hồ ngô tương phản!
Hồi trẫm xa dĩ phục lộ hề,
Cập hành mê chi vị viễn,
Bộ dư Mã u lan cao hề,
Trì tiêu khâu thả yên chi tức.
Tiến bất nhập dĩ ly vưu hề,
Thoái tương phục tu ngô sơ phục.
Chế kỳ hà dĩ vi y hề,
Tập phù dung dĩ vi thường.
Bất ngô tri kỳ diệc dĩ hề,
Cẩu dư tình kỳ tín phương.
Cao dư quan chi ngập ngập hề,
Trường dư bội chi lục ly.
Phương dữ trạch kỳ tạp nữu hề,
Duy chiêu chất kỳ do vị khuy.
Hốt phản cố dĩ du mục hề,
Tương vãng quan hồ tư hoang.
Bội bân phân kỳ phồn sức hề,
Phương phi phi kỳ di chương.
Dân sinh các hữu sở nhạo hề,
Dư độc hiếu tu dĩ vi thường.
Tuy thế giải ngô do vị biến hề,
Khởi dư tâm chi khả trừng.
Nữ tu[8] chi thiền viên hề,
Thân thân kỳ lệ dư.
Viết: "Cổn[9] hãnh trực dĩ vong thân hề,
Chung nhiên yểu hồ Vũ chi dã.
Nhữ hà bác kiển nhi hiếu tu hề,
Phân độc hữu thử khóa tiết.
Tư lục thi dĩ doanh thân hề,
Phán độc ly nhi bất phục.
Chúng bất khả hộ thuyết hề,
Thục vân sát dư chi trung tình?
Thế tịnh cử nhi hiếu bằng hề,
Phù hà quynh độc nhi bất dư thính".
Y tiền thánh dĩ tiết trung hề,
Khoái bằng tâm nhi lịch tư.
Tế Nguyên Tương dĩ nam chinh hề,
Tựu Trùng Hoa[10] nhi trần từ.
Khải "cửu biện" dữ "cửu ca" hề,
Hạ Khang nhu dĩ tự túng.
Bất cố nạn dĩ đồ hậu hề,
Ngũ tử dụng thất hồ gia hạng.
Nghệ dâm tu dĩ dật điền hề,
Hựu hiếu xạ phù phong hồ.
Cố loạn lưu kỳ tiển chung hề,
Xác hựu tham phù quyết gia.
Ngáo[11] thân bị phục cường ngữ hề,
Túng dục nhi bất nhẫn.
Nhật khang ngu nhi tự vong hề,
Quyết thủ dụng phù điên vẫn.
Hạ Kiệt[12] chi thường vi hề,
Nãi toại yên nhi phùng ương.
Hậu Tân[13] chi trư hải hề,
Ân tông dụng chi bất trường.
Thang, Vũ nghiễm nhi chi kính hề,
Chu luận đạo nhi mạc sai.
Cử hiền tài nhi thụ năng hề,
Tùng thằng mặc nhi bất pha.
Hoàng thiên vô tư a hề,
Lãm dân đức yên thố phụ.
Phù duy thánh triết dĩ mậu hạnh hề,
Cẩu đắc dụng thử hạ thổ.
Chiêm tiền nhi cố hậu hề,
Tướng quan dân chi kế cực.
Phù thục phi nghĩa nhi khả dụng hề?
Thục phi thiên nhi khả phục?
Ðiếm dư thân nhi nguy tử hề,
Lãm dư sơ kỳ do vị hối.
Bất lượng tạc nhi chính nhuế hề,
Cố tiền tu dĩ trư hải.
Tăng hư hi dư uất ấp hề,
Ai trẫm thì chi bất đáng.
Lãm nhự huệ dĩ yểm thế hề,
Chiêm dư khâm chi lãng lãng.
Quy phu nhẫm dĩ trần từ hề,
Cảnh ngô ký đắc thử trung chính.
Tứ ngọc cù dĩ thừa ế hề,
Kháp ai phong dư thượng chinh.
Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô[14] hề,
Tịch dư chi hồ Huyền Phố[15].
Dục thiểu lưu thử linh tỏa hề,
Nhật hốt hốt kỳ tương mộ.
Ngô linh Hy Hòa[16] nhĩ tiết hề,
Vọng Yêm - tu nhi vật bách.
Lộ man man kỳ tu viễn hề,
Ngô tương thượng hạ nhi cầu sách.
Ẩm dư mã ư Hàm - trì hề,
Tổng dư bí hồ phù tang.
Chước nhược mộc dĩ phất nhật hề,
Liêu tiêu diêu dĩ tương dương.
Tiền Vọng Thư sử tiên khu hề,
Hậu Phi Liêm sứ bôn chúc.
Loan hoàng vị dư tiên giới hề,
Lôi sư cáo dư dĩ vi cụ.
Ngô linh phượng điểu phi đằng hề,
Kế chi dĩ nhật dạ.
Phiêu phong đồn kỳ tương ly hề,
Suất vân nghê nhi lại nhạ.
Phân tổng tổng kỳ ly hợp hề,
Ban dục ly kỳ thượng hạ.
Ngô linh Ðế hôn khai quan hề,
Ỷ xương hạp nhi vọng dư.
Thì ái ái kỳ tương bãi hề,
Kết u lan nhi diên trữ.
Thế hỗn trọc nhi bất phân hề,
Hiếu tế mỹ nhi tật đố.
Triêu ngô tương tế ư Bạch thủy[17] hề,
Ðăng Lãng phong[18] nhi tiết mã.
Hốt phản cố dĩ lưu thế hề,
Ai cao khâu chi vô nữ.
Kháp ngô du thủ xuân cung hề,
Chiết quỳnh chi dĩ kế bội.
Cập vinh hoa chi vị lạc hề,
Tướng hạ nữ chi khả di.
Ngô linh Phong long thừa vân hề,
Cầu Phục phi[19] chi sở tại.
Giải bội tương dĩ kết ngôn hề,
Ngô linh Kiến Tu dĩ vi lý.
Phân tổng tổng kỳ ly hợp hề,
Hốt vĩ hoạch kỳ nan thiên.
Tịch quy thứ ư Cùng thạch hề,
Triêu trạc phát hồ Vĩ bàn.
Bảo quyết mỹ dĩ kiêu ngạo hề,
Nhật khang ngu dĩ dâm du.
Tuy tín mỹ nhi vô lễ hề,
Lai vi khí nhi cải đầu.
Lãm tướng quan ư tứ cực hề,
Chu lưu hồ thiên dữ nãi hạ.
Vọng Dao đài chi yển kiển hề,
Kiến Hữu nhung chi dật nữ.
Ngô linh Trấm vi môi hề,
Trấm cáo dư dĩ bất hảo.
Hùng cưu chi minh thệ hề,
Dư do ố kỳ điêu xảo.
Tâm do dự nhi hồ nghi hề,
Dục tự thích nhi bất khả.
Phượng hoàng ký thụ di hề,
Khủng Cao Tân chi tiên ngã.
Dục viễn tập nhi vô sở chỉ hề,
Liêu phù du dĩ tiêu diêu.
Cập Thiếu Khang chi vị gia hề,
Lưu Hữu Ngu chi nhị diêu.
Lý nhược nhi môi chuyết hề,
Khủng đạo ngôn chi bất cố.
Thế hỗn trọc nhi tật hiền hề,
Hiếu tế mỹ nhi xưng ác.
Khuê trung ký dĩ thúy viễn hề,
Triết vương hựu bất ngộ.
Hoài trấm tình nhi bất phát hề,
Dư yên năng nhẫn dữ thử chung cổ.
Sách quỳnh mao[20] dĩ đình chuyên hề,
Mệnh Linh Phân vị dư chiêm chi.
Viết: lưỡng mỹ kỳ tất hợp hề,
Thục tín tu nhi mộ chi?
Tư cửu châu[21] chi bác đại hề,
Khởi duy thị kỳ hữu nữ?
Viết: miễn viễn thệ nhi vô hồ nghi hề,
Thục cầu mỹ nhi thích nhữ?
Hà sở độc vô phương thảo hề,
Nhĩ hà hoài hồ cố vũ.
Thế u muội, dĩ huyễn diệu hề,
Thục vân sát dư chi thiện ác?
Dân hiếu ố kỳ bất đồng hề,
Duy thử đảng nhân kỳ độc dị.
Hộ phục ngải dĩ doanh yêu hề,
Vị u lan kỳ bất khả bội.
Lâm sát thảo mộc kỳ do vị đắc hề,
Khởi trình mỹ chi năng đương.
Tổ phần nhưỡng dĩ sung vi hề,
Vị thân tiêu kỳ bất phương.
Dục tòng Linh phân chi cát chiêm hề,
Tâm do dự nhi hồ nghi.
Vu Hàm tương tịch giáng hề,
Hoài tiêu sở nhi yêu chi.
Bách thần ế kỳ bị giáng hề,
Cửu nghi bân kỳ tịnh nghênh.
Hoàng diễm diễm kỳ dương linh hề,
Cáo dư dĩ cát cố.
Viết: Miễn thăng giáng nhi thượng hạ hề,
Cầu củ hoạch chi sở đồng.
Thang Vũ[22] nghiêm nhi cầu hợp hề,
Chí Cao Dao[23] nhi năng điều.
Cẩu trung tình kỳ hiếu tu hề,
Hựu hà tất dụng phù hành môi ?
Duyệt thao trúc ư Phó Nham[24] hề,
Vũ Ðinh[25] dụng nhi bất nghi.
Lã Vọng[26] chi cổ đao hề,
Tao Chu Văn nhi đắc cử.
Ninh Thích[27] chi âu ca hề,
Tề Hoàn văn dĩ cai phụ.
Cập niên tuế chi vị án hề,
Thì diệc do kỳ vị ương.
Khủng đề quyết chi tiên minh hề,
Sử phù bách thảo vị chi bất phương.
Hà quỳnh hội chi yển kiển hề,
Chúng ái nhiên nhi tế chi.
Duy thủ đảng nhân chi bất lượng hề,
Khủng tật đố nhi chiết chi.
Thì bân phân kỳ biến dịch hề,
Hựu hà khả dĩ yêm lưu.
Lan chỉ biến nhi bất phương hề,
Thuyên huệ hóa nhi vi mao.
Hà tích nhật chi phương thảo hề,
Kim trực vi thử tiêu ngải dã.
Khởi kỳ hữu tha cố hề,
Mạc hiếu tu chi hại dã.
Dự ký dĩ lan[28] vi khả thị hề,
Khương vô thực nhi dung trường.
Uỷ quyết mỹ dĩ tòng tục hề,
Cẩu đắc liệt hồ chúng phương.
Tiêu[29] chuyên nịnh dĩ mạn thao hề,
Sát hựu dục sung phù bội vi.
Ký can tiến nhi vụ nhập hề,
Hựu hà phương chi năng chi.
Cố thì tục chi lưu tòng hề,
Hựu thục năng vô biến hóa?
Lãm tiêu lan kỳ nhược tư hề,
Hựu huống yết xa dữ giang ly.
Duy tư bội chi khả quý hề,
Uỷ quyết mỹ nhi lịch ti tư.
Phương phi phi nhi nan khuy hề,
Phân chí kim do vị muội.
Hòa điệu độ dĩ tự ngu hề,
Liêu phù du nhi cầu nữ.
Cập dư sức chi phương tráng hề,
Chu lưu quan hồ thượng hạ.
Linh phân kỳ cáo dư dĩ cát chiêm hề,
Lịch cát nhật hồ ngô tương hàng.
Chiết quỳnh chi dĩ vi tu hề,
Tinh quỳnh my dĩ vi tương.
Vị dư giá phi long hề,
Tạp dao tượng dĩ vi xa.
Hà ly tâm chi khả đồng hề,
Ngô tương viễn thệ dĩ tự sơ.
Triển ngô đạo phù Côn Luân hề,
Lộ tu viễn dĩ chu lưu.
Dương vân nghê chi yếm ái hề,
Minh ngọc loan chi thu thu.
Triêu phát nhẫn ư Thiên tân hề,
Tịch dư chí hồ Tây cực.
Phượng hoàng dực kỳ thừa kỳ hề,
Cao cao tường chi dực dực.
Hốt ngô hành thử Lưu sa[30] hề,
Tuân Xích thủy nhi dung dữ.
Huy giao long sử lương tân hề,
Chiếu Tây hoàng sứ thiệp dư.
Lộ tu viễn dĩ đa gian hề,
Ðằng chúng xa sử kim đãi.
Lộ Bất Chu[31] dĩ tả chuyên hề,
Chí Tây hải dĩ vi kỳ.
Ðồn dư xa kỳ thiên thặng hề,
Tề ngọc đại nhi tịnh trì.
Giá bát long chi uyển uyển hề,
Tái vân kỳ chi ủy đà.
Úc chí nhi nhĩ tiết hề,
Thần cao trì nhi mạc mạc.
Tấu Cửu ca[32] nhi Vũ thiều[33] hề,
Liêu hạ nhật dĩ du lạc.
Trắc thăng hoàng chi hách hí hề,
Hốt lâm nghễ phù cựu hương.
Bộc phu bi dư mã hoài hề,
Quyền cục cố nhi bất hàng.
(Loạn viết) Dĩ hĩ tai!
Quốc vô nhân mạc ngã tri hề,
Hựu hà hoài hồ cố đô.
Kỳ mạc túc dĩ vi mỹ chính hề,
Ngô tương tòng Bành Hàm chi sở cư.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    Thu Mar 22, 2012 8:33 am

Ly Tao (tt)


Bản dịch thơ:

Nỗi sầu ly biệt

Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ,
Vốn dòng vua về họ Cao Dương.
Tháng giêng đầu tiết xuân sang,
Cõi đời ta xuống giữa đương ngày Dần.

Buổi trứng nước ân cần chăm sóc,
Biết bao nhiêu khó nhọc công cha.
Chữ hay kén đặt cho ta:
Tên là Chính Tắc, tự là Linh Quân.

Trong ta đã mười phần lộng lẫy,
Chải chuốt càng thêm nẩy xinh tươi.
Sói ngàn nhài bãi khoác ngoài,
Tết lan thu lại làm đai đeo thường.

Sợ chẳng kịp ta càng mê mải,
Tuổi xanh nào có đợi gì ai.
Mộc lan sớm cắt trên đồi,
Ðông thanh chiều hái bên ngoài bến sông.

Ngày tháng vút đi không trở lại,
Vừa xuân qua đã lại thu sang.
Ðoái trông cỏ áy cây vàng,
Sợ con người đẹp muộn màng lỡ duyên!

Tuổi đang trẻ nết quen càn rỡ,
Thế mà không đổi sửa cho đành.
Ngựa hay cưỡi lấy, đi nhanh,
Lại đây ta chỉ cho mình đường quang.

Ðời ba vua thuở đang rực rỡ,
Các giống thơm hớn hở đua tươi.
Hoa tiêu, hoa quế lộn mùi,
Cứ gì hoa huệ được người yêu đương.

Theo đạo chính nhằm đường ngay thẳng,
Nghiêu Thuấn xưa thiệt đấng minh quân.
Cớ sao Kiệt Trụ ngu đần,
Ðâm đầu lối tắt sa chân đường cùng.

Hám vui bọn chúng không biết sợ,
Ðường tối tăm hiểm trở xiết bao.
Xe loan e lúc đổ nhào,
Phải rằng ta sợ thiệt vào đến thân!

Cố theo kịp gót chân vua trước,
Quản chi công xuôi ngược long đong.
Tình ta mình chẳng xét cùng,
Nghe lời ton hót đem lòng giận ta!

Nói thẳng vẫn biết là có hại,
Biết vậy mà nín mãi không đành!
Chín lần trời hãy chứng minh,
Chỉ vì ta quá yêu mình đấy thôi!

Trước cùng ta nặng lời hẹn ước,
Sau vì đâu đổi khác đơn sai?
Biệt ly ta chẳng quản nài,
Xót mình lòng dạ đổi dời bao phen.

Chín vườn lan lại nghìn sào huệ,
Một mình ta chăm chỉ hôm mai.
Tử tiêu bạch chỉ xen vai,
Kẹ trong đỗ nhược, bao ngoài tân di.

Mong cành lá có khi đua nẩy,
Chờ đến mùa hái lấy hoa tươi.
Bỏ rơi ta thiết chi đời,
Thấy trăm hoa chịu lạc loài mà thương!

Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,
Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài!
Ðem dạ mình đọ bụng người,
Sinh lòng ghen ghét, đặt lời gièm pha.

Mồi phú quý cố mà đeo đuổi,
Phải lòng ta có vội thế đâu.
Cái già sồng sộc theo nhau,
E không để được về sau tiếng lành.

Ăn hoa rụng bên nhành thu cúc,
Uống sương sa dưới gốc mộc lan.
Tình yêu khôn đẹp muôn vàn,
Khát hoài! đói mãi! phàn nàn mà chi!

Rút rễ cây ta xe sợi chỉ,
Xâu cánh hoa thiên lý xinh xinh.
Cánh lan cánh huệ trắng tinh,
Giây ngần bền dẻo tết manh áo ngoài.

Áo như thế thói đời chẳng mặc,
Ta cứ theo phép tắc người xưa.
Dẫu rằng đời có chẳng ưa,
Thì xin theo lối cũng như Bành, Hàm.

Ðời người khổ kể làm sao xiết!
Ðành than dài gạt vết lệ hoen.
Làm xinh ta khéo vô duyên,
Sớm vừa can gián chiều liền sa cơ.

Sa cơ mặc nhởn nhơ vẫn thế,
Vẫn đeo lan dắt huệ như xưa.
Lòng ta đã thích đã ưa,
Dẫu rằng chín chết có chừa được đâu.

Trách mình chẳng suy sau xét trước,
Mãi mãi không rõ được thói đời.
Chúng ghen ta có mày ngài,
Phao cho ta tiếng con người lẳng lơ.

Người đời thật đã thừa khôn khéo,
Ðua nhau theo mức vẹo thước cong.
Khuôn vuông mẫu thẳng chẳng dùng,
Cúi luồn cầu cạnh một dòng như nhau!

Một mình chịu nuốt sầu ngậm tủi,
Nói ai hay nông nỗi lúc này?
Thà cho sống đọa thác đày,
Lòng ta không nỡ để lây thói thường!

Loài chim cắt ngang tàng bay bổng,
Vốn xưa nay là giống không đàn.
Vuông tròn vốn chẳng cùng làn,
Khúc đường ai để yên hàn cho ai?

Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!
Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.
Thánh hiền xưa cũng như ta,
Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong!

Tiếc nhận lối mà không biết lối,
Liệu về thôi, ở lại chi lâu?
Lạc đường cũng chửa xa đâu,
Quay xe trở lại cho mau còn vừa.

Giục vó ngựa lên bờ lan dã,
Sang gò tiêu thong thả nghỉ ngơi.
Tiến ra chẳng hợp với đời,
Lui về sửa lại mặc ngoài cho xinh.

Hái sen súng, cắt manh áo đẹp,
Cắt phù dung may nếp xiêm dài.
Ðời không biết đến mặc đời,
Tình ta vẫn hẳn vẹn mười thơm tho.

Mũ ta đội xốc cho cao ngất,
Ðai ta đeo buông thật dịu dàng.
Khắp mình thơm nức sáng choang,
Ðẹp còn giữ được chất thường chưa phai.

Chợt quay lại liếc chơi, ta muốn
Ði xem cho khắp bốn cõi hoang.
Rung rinh bao thú điểm trang
Ngọt ngào càng thấy rõ ràng mùi thơm.

Ðời ai cũng riêng ham từng món,
Như ta đây chỉ muốn làm xinh.
Phân thây xé xác cũng đành,
Lòng này hồ dễ dỗ dành được sao?

Tiếng cô chị bước vào léo xéo,
Mắng ta rằng rõ khéo ngẩn ngơ,
"Bướng như chàng Cổn ngày xưa,
Bỏ mình núi Vũ bây giờ ai thương?

Sao em thích khoe khoang chải chuốt,
Riêng một mình giữ một vẻ xinh?
Ðầy nhà dây dợ, cỏ tranh,
Người ta mặc cả sao mình lại không?

Nói với chúng dễ hòng nói xiết!
Ai là người xét biết lòng ta?
Ðời đều bè đảng gian tà,
Một mình ta nói, nói mà ai nghe?"

Trong đạo thành liệu bề theo dõi,
Ðến chi đây xiết nỗi tân toan.
Sang Nam qua ngọn Tương Ngoan,
Tới đền vua Thuấn, ta than vài lời:

"Mê hát xướng kìa đời nhà Hạ,
Vua Thái Khang thỏa dạ vui chơi,
Chẳng lo chẳng nghĩ lâu dài,
Năm con mới phải lạc loài bốn phương.

Vua Nghệ chỉ ham đường săn bắn,
Say chim muông quên hẳn việc thường.
Tham vui vua Xác hoang toàng,
Cả hai đều phải thịt xương tan tành!

Ðến vua Ngáo cậy mình sức khỏe,
Chẳng giữ gìn chỉ phí ăn chơi.
Quên mình ngày tháng giông dài,
Quá ra khi đã để rơi cả đầu.

Hạ Kiệt có biết đâu đạo cả,
Lần lữa trông tai vạ đến nơi.
Vua Tân ướp món thịt người,
Cũng vì thế mới hết đời nhà Thương!

Lại xét đến Vũ, Thang, Văn, Võ
Kính mà nghiêm chẳng bỏ đạo hằng.
Cất dùng toàn bọn tài năng,
Theo khuôn giữ mực thẳng băng một chiều.

Ông trời chẳng riêng yêu ai hết,
Xem thấy ai đức nết thì nên.
Xưa nay chỉ bậc thánh hiền,
Thương dân mới được cầm quyền trị dân.

Trông sau trước xét lần sự thế,
Hãy để tâm suy nghĩ cho cùng.
Làm đâu được việc bất công!
Những phường bất nghĩa có dùng được đâu.

Lòng này nghĩ trước sau như một,
Dẫu chết ngay chẳng chút nôn nao.
Người xưa oan thác biết bao,
Theo vuông lựa có vào sao lỗ tròn.

Nức nở khóc cho buồn đầy dạ,
Tủi cho thân sinh đã lỗi thời!
Gạt sầu bứt cánh huệ tươi,
Áo khăn lã chã lệ rơi ướt đầm!

Quỳ khép áo lầm rầm khấn vái:
"Xin dốc theo lẽ phải đường ngay!"
Quay ra đạp gió rẽ mây,
Cưỡi rồng gióng phượng định ngày chơi xa.

Sớm Thương-Ngô, chiều qua Huyền Phố,
Ðến thần linh xa ngó cõi ngoài.
Chốn này muốn tạm nghỉ ngơi,
Chiều hôm bảng lảng mặt trời xuống nhanh.

"Hy Hòa hỡi nể tình ta với!
Lối non đoài chớ vội xông pha.
Quản bao nước thẳm non xa,
Ðể ta tìm kiếm cho ra bạn lòng!"

Cho ngựa uống bên đồng Dục Nhật,
Buông dây cương ở đất Phù Tang.
Nhởn nhơ chốc lát dọc đường,
Bẻ cành nhược mộc chăng ngang mặt trời.

Chị trăng phải nhanh chân tiến trước,
Dì gió cho lần bước theo sau.
Chim loan mở lối đi đầu,
Nhưng thầm sấm sét dốc hầu chưa xong!

Ta giục phượng gia công bay mãi,
Suốt ngày đêm rong ruổi cho mau.
Cơn giông bão táp theo hầu,
Cầu vồng mống cụt đem nhau đến chào.

Khắp các ngã trước sau tới tấp,
Ðủ mọi mầu trên dưới tơi bời...
Ta truyền mở cửa nhà trời!
Lính canh lại tựa cửa ngoài nhìn ta.

Người mỏi mệt trời đà sẩm tối,
Ðứng bơ phờ tay với bông lan.
Cõi đời nhơ đục muôn vàn,
Ghét tài, ghét đẹp, thói càn đã quen.

Sớm dóng ngựa qua miền Bạch Thủy,
Lên Lãng Phong ta sẽ dừng cương.
Không ai là gái đảm đang,
Trông về nước Sở gạt hàng lệ rơi.

Chơi cung Xuân này nơi thanh nhã,
Ðeo dắt thêm hai đóa hoa quỳnh.
Hoa tươi còn chửa lìa cành,
Xem ai là gái hữu tình ta đưa.

Sai thần mây đi mưa về gió,
Cung Phục Phi tìm rõ tới nơi.
Mối may ta lại cậy người,
Cởi dây đeo để ngỏ lời giao đoan.

Trải mấy độ qua ngàn vượt núi,
Bỗng dọc ngang đường lối khó thông.
Chiều hôm về nghỉ non Cùng,
Sớm ra gội tóc trên sông Vị Bàn.

Nàng cậy đẹp khinh nhờn quen thói,
Quên tháng ngày, mê mải dong chơi.
Ðẹp nhưng mất nết xin thôi,
Bỏ tìm chốn khác lấy người đoan trang.

Vùng trời rộng bốn phương man mác,
Xem khắp rồi lại bước xuống đời.
Hữu nhung trông với cõi ngoài,
Long lanh đền ngọc thấy người gái xinh.

Mượn chim trấm mối manh nói hộ,
Trấm trả lời: "Việc đó không xuôi!"
Kìa chim tu hú dại đời,
Ta còn ghét nó là loài tinh ranh.

Mình khuây khỏa lấy mình chẳng nối,
Lòng hồ nghi trăm mối vấn vương.
Chịu lời ta đã phượng hoàng,
Chỉ e ta đến sau chàng Cao Tân.

Xa tìm chốn yên thân chẳng có,
Ðành lênh đênh đây đó biết sao!
Thiếu Khang đang lúc ba đào,
Họ Kiều hai gái sánh vào vừa xinh.

Lý đã kém mối manh lại vụng,
Chỗ hẹn lời e cũng không bền.
Người đời bẩn tưởi nhỏ nhen,
Chuộng bên gian ác, ghét bên hiền tài.

Buồng the đã là nơi cách trở,
Nhà vua còn đang cữ mê say.
Ôm lòng biết ngỏ ai hay,
Bước đời nhịn mãi nước này được sao.

Chẻ nắm quẻ Quỳnh-mao làm thẻ
Mượn Linh-phân gieo quẻ nhân duyên.
Quẻ rằng: "Ao ước thì nên,
Bên tài bên sắc đôi bên cùng lòng.

Nghĩ chín cõi mênh mông rộng rãi,
Phải riêng đây có gái kén chồng?
Ðường xa xin chớ ngại ngùng,
Người xinh ai chẳng đem lòng khát khao?

Cỏ thơm kể nơi nào chẳng có,
Thương tiếc chi quê cũ nữa anh!
Quáng lòa bao kẻ chung quanh,
Dở hay ai xét cho mình nữa đâu!

Lòng yêu ghét khác nhau biết mấy!
Bọn chúng coi thật thấy lạ đời.
Cỏ hôi đeo dắt đầy người,
Hoa lan thơm ngát chê bai chẳng dùng.

Loài cây cỏ còn không phân biệt,
Giống ngọc lành xét biết đâu mà!
Phân tro xếp đống đầy nhà,
Cánh hồi cánh quế chê là không thơm"

Quẻ dạy thế, ở làm chi nữa!
Nhưng lòng còn lưỡng lự chưa đi.
Chiều nay sắp đặt lễ nghi,
Mời Vu Hàm lại ta thì hỏi han.

Chín dãy núi chập chờn đón rước,
Trăm vị thần chững chạc tới nơi.
Hào quang rực rỡ đầy trời,
Vì ta dạy hết mọi lời thủy chung.

Rằng: "Lên xuống cố công tìm hỏi,
Ai cùng mình khuôn lối như in.
Vũ, Thang kén lựa tôi hiền,
Chí Cao Dao được chúng tin yêu vì.

Quả là đẹp cứ gì tốt mối!
Giá ngọc lành há phải bán rong!
Duyệt xưa đắp đất ngoài đồng,
Vũ Ðinh tìm gặp tin dùng chẳng nghi.

Lã Vọng trước làm nghề bán thịt,
Gặp Văn Vương mới biết tướng tài.
Chăn trâu Ninh Thích hát chơi,
Tề Hoàn nghe đã cho vời làm quan.

Tuổi chưa muộn lo toan còn kịp,
Thời đang vừa thu xếp đi cho!
Véo von đề quyết gọi thu,
Trăng hoa e lúc thơm tho chẳng còn!

Vòng hoa quỳnh đẹp giòn biết mấy,
Che lấp đi ai biết vẻ xinh!
Ghét ghen chúng chẳng thương tình,
E khi giập gãy tan tành biết đâu."

Trách thời tiết thật mau thay đổi,
Nào lữa lần được mãi cho cam.
Hoa lan giờ đã hết thơm,
Hoa lài hoa huệ hóa làm cỏ tranh...

Bao nhiêu giống hương thanh sắc đẹp,
Ðều dốc đời đổi kiếp hôi tanh.
Không năng chải chuốt làm xinh,
Tại ai đâu, chỉ tại mình đấy thôi.
Lan ta tưởng đáng nơi tin cậy,

Có ngờ đâu bóng bẩy mà hư.
Theo đời bỏ vẻ đẹp xưa,
Ðua đòi cẩu thả cũng như mọi loài.
Tiêu bợ đỡ nịnh đời ra mặt,

Túi thuốc trừ nhét chặt thù du.
Ðem thân cầu cạnh bôn xu,
Còn đâu giữ được thơm tho tính trời.
Thói thường vốn theo thời thay đổi,

Ai giữ mình cho khỏi suy di!
Tiêu Lan còn chả ra gì,
Trách chi đến sói, kể chi đến nhài!
Riêng hoa quỳnh thật loài đáng quý,

Tới nay còn giữ vẻ năm xưa.
Hương còn thoang thoảng xa đưa,
Ðẹp còn nguyên vẹn vẫn như ngày nào.
Tự an ủi, theo vào mực thước,

Ngắm hoa đeo ngày trước còn xinh.
Khắp vùng trời đất mông mênh,
Tìm cho thấy bạn hữu tình mới thôi.
Linh phân dạy: "Quẻ coi tốt lắm!"

Chọn ngày lành ta sắm sửa đi.
Hoa quỳnh bẻ lấy phòng khi,
Cành thì làm bánh, cánh thì làm cơm.
Lộn ngà ngọc đóng làm xe cưỡi,

Kéo xe ta phất phới rồng bay.
Ði cho vắng mặt khuất mày,
Lòng lìa, thế bắt thân này phải xa!
Ðường thăm thẳm trông ra quanh quất

Hãy vòng xe qua đất Côn Luân.
Vang vang nhạc ngọc thét dồn,
Mây màu lấp lánh vây tròn trước sau.
Sớm bên trời bắt đầu rong ruổi,

Chiều hôm ta tới cõi cực tây.
Trước xe đón ngựa cờ bay,
Phượng hoàng vỗ cánh tung mây tuyệt vời.
Chốc ta lại qua chơi bể Cát,

Theo dòng sông bát ngát đỏ ngầu.
Thuồng thuồng sửa bến cho mau!
Bảo Tây hoàng phải bắc cầu ta sang.
Xa thăm thẳm cõi đường hiểm trở,

Dồn các xe giúp đỡ ta cùng.
Bất Chu lối tả đi vòng,
Hẹn ngày tháng chỉ qua vùng biển tây.
Ðều tay sắp giật dây cương ngọc,

Nghìn xe cùng một lúc ra đi.
Tám rồng bay lộn trước xe,
Cờ bay phất phới bóng che rợp trời.
Hãy ngừng bước, tạm nguôi dạ tủi,

Buông thần hồn lên cõi cao xa.
Múa Thiều hát khúc Cửu ca,
Tháng ngày thong thả liệu mà làm khuây.
Cất mình khoảng trời mây rộng rãi,

Chợt ngoảnh đầu trông lại quê hương.
Ngựa buồn, đầy tớ thảm thương,
Co ro nhớn nhác, ngại đường chẳng đi.

Vãn rằng:

Thôi than tiếc làm chi cho cực!
Biết ta đâu một nước không người.
Chính lành làm sức với ai,
Bành Hàm đâu đó ta thời đi theo.


Người dịch: Nhượng Tống

1. Nguyên văn tác phẩm gồm 372 câu, tuy nhiên hai câu: "Viết hoàng hôn dĩ vi kỳ hề, Khương trung đạo nhi cải lộ" bị nghi là do người đời sau thêm vào
2. Tức vua Chuyên Húc, một trong Ngũ Đế của Trung Quốc cổ đại
3. Hai câu này có nghĩa rằng Khuất Nguyên sinh vào ngày Dần, tháng Dần, năm Dần - ứng với thời đạo con người được sinh ra trong trời đất (Người Trung Quốc cổ quan niệm: trời mở ở Tý, đất thành ở Sửu, người sinh ở Dần)
4. Chính Tắc:Nêu rõ nghĩa chữ "Bình"; Linh Quân: nêu rõ nghĩa chữ "Nguyên" - tên và tự của nhà thơ
5. Tên một thứ cây có hương thơm (trong "Ly Tao", Khuất Nguyên thường dùng tên của nhiều loài cỏ cây theo lối tỉ dụ và ẩn dụ, tùy theo văn cảnh có thể hiểu dụng ý của nhà thơ)
6. Hai câu này nghi là do người đời sau thêm vào
7. Bành Hàm: Hiền thần của nhà Ân, can vua Trụ nhưng Trụ không nghe, Bành Hàm nhảy xuống sông tự tử. Trong bài thơ này, Khuất Nguyên nhiều lần nhắc đến Bành Hàm, chứng tỏ ông rất đau khổ bế tắc và có ý cư xử theo lối của Bành Hàm
8. Về nhân vật này có nhiều cách giải thích. Quách Mạt Nhược cho rằng đây là người đàn bà đỡ đần công việc (Cụ Đào Duy Anh dịch là "bạn gái"). Có lẽ đây là người phụ tế - vì Khuất Nguyên vốn có chức trách tế tự ở tông miếu
9. Thân phụ của vua Vũ nhà Hạ. Cổn trị thủy không thành công, bị vua Thuấn giết ở núi Vũ. Khi rạch bụng Cổn, một đứa trẻ nhảy ra; vì ra đời ở núi Vũ nên được đặt tên là Vũ. Thuấn sai Vũ trị thủy, Vũ thành công, Thuấn truyền ngôi cho Vũ
10. Chỉ Ngu Thuấn, một trong Ngũ Đế của Trung Quốc cổ. Theo truyền thuyết, Thuấn là một vị thánh quân
11. Các tên: Khải, Thái Khang, Nghệ, Xác, Ngáo - đều là những nhân vật trong huyền sử Trung Quốc, có chính tích bất hảo
12. Hạ Kiệt: Vua cuối cùng của nhà Hạ, rất tàn bạo, bị nhân dân căm ghét. Thành Thang đã khởi nghĩa, diệt Kiệt, sáng lập nhà Thương
13. Tức Trụ, vua cuối cùng của nhà Thương (Ân). Trụ rất tàn ác, dâm bạo. Vương tử Tỷ Can là chú ruột của Trụ can gián, Trụ chẳng những không nghe còn mổ bụng moi tim lấy thịt Tỷ Can làm mắm. Trụ bị Vũ Vương nhà Chu tiêu diệt
14. Núi Thương Ngô tức núi Cửu Nghi, thuộc tỉnh Hồ Nam, là nơi chôn vua Thuấn
15. Ngọn núi thần trong dãy núi Côn Luân (theo truyền thuyết, núi Côn Luân là nơi cư trú đầu tiên của người Trung Quốc)
16. Theo thần thoại, Hy Hòa là người đánh xe của thần mặt trời
17. Trong thần thoại, Bạch thủy là con sông phát nguyên từ núi Côn Luân, uống nước sông ấy thì bất tử
18. Một ngọn núi trong dãy Côn Luân
19. Theo truyền thuyết, là con gái vua Phục Hy, chết đuối ở sông Lạc Thủy, thành nữ thần sông Lạc
20. Đào Duy Anh dịch là cỏ thi, là thứ cỏ quý được dùng làm thẻ để bói
21. Cửu châu: Gọi chung cả thiên hạ, vì Trung Quốc xưa chia làm chín châu: Ký, Duyên, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Ung, Lương
22. Tức Thành Thang và Hạ Vũ
23. Hiền thần của Hạ Vũ
24. Tức Phó Duyệt. Vua Cao Tông nhà Ân cầu hiền, tìm được Duyệt đang đào đắp đất ở Phó Nham, liền rước về phong làm tướng
25. Tức vua Cao Tông nhà Ân
26. Tức Khương Tử Nha (cũng gọi là Lã Thượng, Khương Thượng), khai quốc công thần của nhà Chu, được phong ở đất Lã nên cũng lấy Lã làm họ. Lã Vọng từng làm nghề mổ thịt ở Triều Ca - kinh đô nhà Ân, đến già làm nghề câu cá ở sông Vị Thủy; gặp Chu Văn Vương được trọng dụng, sau giúp Vũ Vương diệt Trụ
27. Người nước Vệ thời Xuân Thu, nhà nghèo phải đi đánh xe thuê cho người ở nước Tề. Một hôm, Tề Hoàn Công đi chơi đêm, ra cửa Ðông thấy Ninh Thích vừa cho trâu ăn vừa gõ sừng trâu mà hát. Hoàn Công nghe câu hát cho là "kỳ nhân", bảo Quản Trọng rước về cho làm thượng khanh
28. Lan: Là thứ cây Khuất Nguyên yêu quý. Vương Dật cho rằng Lan ở đây ám chỉ Tử Lan, em ruột vua Sở Hoài Vương. Tử Lan làm Lệnh doãn (nước Sở gọi tướng quốc là Lệnh doãn), khuyên Hoài Vương đến hội kiến với Tần. Kết quả Hoài Vương bị Tần bắt làm con tin
29. Tiêu: Cũng là một thứ cây quý. Vương Dật cho "Tiêu" đây là ám chỉ Tử Tiêu, làm Lệnh doãn nước Sở đời Khoảnh Tương Vương. (Quách Mạt Nhược cho rằng cả Tử Lan và Tử Tiêu đều là học trò của Khuất Nguyên, từng được ông yêu quý nhưng về sau đã phản lại đường lối chống Tần của thầy)
30. Chỉ sa mạc ở phía tây Trung Quốc
31. Tên núi trong thần thoại, nguyên là cột chống trời ở góc Tây Bắc. Cung Công giành ngôi đế của Chuyên Húc, bị Chuyên Húc đánh bại, Cung Công bèn đập đầu vào cột chống trời để tự tử, cột bị đổ, thành núi Bất Chu. (Vì cột chống trời đổ, trời bị rách nên Nữ Oa phải luyện đá vá trời)
32. Theo truyền thuyết, Cửu Biện và Cửu Ca đều là nhạc của trời, Hạ Khải trộm được đem xuống nhân gian
33. Vũ thiều: Là điệu nhạc múa Cửu Thiều, tương truyền do vua Thuấn làm ra (Vì nhạc Thiều được coi là âm nhạc tiêu biểu của quốc gia, nên quốc ca cũng được gọi là quốc thiều)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Khuất Nguyên    

Về Đầu Trang Go down
 
Khuất Nguyên
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Xuất phát đi Tây Nguyên
» Các tiêu chuẩn đánh giá ổn định nguyên vẹn tàu
» Nguyên tắc đặt gương theo thuyết phong thủy
» [Fic nối]Học viện Tây Nguyên 3000 | Đăng kí |
» Phần mềm tính toán ổn định nguyên vẹn và sức bền dọc thân tàu

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Nước Ngoài :: Tổng hợp thơ Trung Quốc-
Chuyển đến