Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

September 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Công Trứ
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Lưu Linh
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quách Tấn
Keywords
Trọng nhất những Phong Liên thường miền quang bính huyền nguyễn dũng Huynh

Share | 
 

 Lý Bạch

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Lý Bạch    Sat Dec 03, 2011 10:21 am

Lý Bạch
(701 - 762)


Tiểu truyện:

Lý Bạch (李白) sinh năm đầu niên hiệu Trường An (701), đời Đường Trung Tông, và mất vào năm đầu niên hiệu Bảo Ứng (762), đời Đường Đại Tông, cùng tuổi với Vương Duy, nhiều hơn Đổ Phủ mười hai tuổi, Sầm Than 14 tuổi. Nhân có truyền thuyết nói bà thân mẫu nằm mộng thấy sao Trường Canh rồi sinh ra ông, nên ông lấy tự là Thái Bạch (太白).

Theo lời ông tự thuật, Lý Bạch là hậu duệ của danh tướng Lý Quãng đời Hán, và là cháu chín đời của vua Vũ Chiêu Vương nước Lương. Cuối đời Tùy (khoảng năm 616), thân phụ ông vì một chuyện nào đó phải trốn sang Tây Vực. Lý Bạch sinh tại đây trong lúc Võ tắc Thiên cướp ngôi nhà Đường. Sau khi triều Võ hậu sụp đổ, gia đình ông trở về nội địa, làm nghề buôn bán, ngụ tại làng Thanh Liên (huyện Chương Minh, tỉnh Tứ Xuyên). Thân mẫu ông là người Tây Vực, người ta thường gọi là "Man Bà". Vì thuở nhỏ sống tại Tây Vực, Lý Bạch thông hiểu chữ Tây Vực. Nhờ khả năng này, Lý Bạch sau này có lần giúp vua Đường Minh Hoàng thảo tờ thư trả lời rợ Phiên (Đáp Phiên thư).

Lý Bạch rất thông minh đỉnh ngộ: lên 5 tuổi, biết đọc Lục giáp; lên 10 tuổi, thông hiểu Thi ,Thư, thường xem sách Bách gia. Năm 15 tuổi thích kiếm thuật, thường làm các bài văn mô phỏng cổ nhân, như tờ thư gởi Hàn Kinh châu, bài phú ngạo Tư mã Tương Như. Năm 16 tuổi ông cùng Đông Nham Tử đến ở ẩn tại phía Nam núi Dân Sơn ở huyện Tùng Phan, tỉnh Tứ Xuyên). Năm 20 tuổi ông được tiếng là người hào hiệp, cao nghĩ, thích làm hiệp sĩ. Đến xin làm việc dưới trướng của Thứ sử Ích châu Tô Dĩnh, được họ Tô khen là "có thiên tài anh lệ, nếu học rộng thêm có thể sánh vai với Tư Mã Tương Như".

Năm 723, Lý Bạch cùng người bạn là Ngô chỉ Nam đi chơi đất Sở, đến Thương Ngô, Động Đình. Sau lại qua Kim Lăng, vượt Minh Hải, đến Nhữ Châu, du lịch các thắng địa miền đông nam trong mấy năm.

Năm 726, Lý Bạch đến Vân Mộng ( huyện An Lục tỉnh Hồ Bắc), cưới vợ, là cháu gái của Hứa tướng công. Từ năm 30 tuổi tiếng tăm văn chương bắt đầu vang dậy.

Năm 735 (năm thứ 23 niên hiệu Khai Nguyên), Lý Bạch lên chơi vùng Thái Nguyên (tỉnh Sơn Tây). Khi ấy Quách Tử Nghi đang bị giam trong quân ngũ, nhờ có ông xin cho mà được tha. Tháng 5, ông đến miền Tế, Lỗ, ngụ tại Nhiệm thành (tỉnh Sơn Đông). Cùng Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh ngao du tại núi Tồ Lai (huyện Thái An tỉnh Sơn Đông), say sưa tại Trúc Khê, lấy hiệu là "Trúc Khê lục dật " (sáu nhà ẩn dật tại Trúc Khê).

Như vậy có thể nói đại khái từ năm 40 tuổi trở về trước, Lý Bạch sống những ngày tiêu dao, nhàn tản, ngao du thiên hạ.

Năm đầu niên hiệu Thiên Bẳo (742) Lý Bạch đi chơi Cối Kê, cùng với đạo sĩ Ngô Quân ngụ tại Viễm Trung (tỉnh Chiết Giang). Khi Ngô Quân được triệu về Trường An, bèn đem Lý Bạch đi theo. Tại kinh đô Lý Bạch gặp Hạ Tri Trương, lúc này đang làm chức Thái Tử tân khách. Thoạt trông thấy ông, Hà Tri Trương nói rằng: "Đây là một trích tiên giáng trần". Lý Bạch và Hà Tri Trương trở nên đôi bạn rượu thơ. Nhờ sự tiến cử của Hà Tri Trương, Lý Bạch được Đường Huyền Tông triệu vào bệ kiến tại điện Kim Loan, bàn về thế vụ đương thời, nhân dịp nào ông thảo tờ "Đáp Phiên thư", và dâng thiên "Tuyên Đường hồng do", được vua khen ngợi. Vua cho ngồi trên giường thất bảo, lại thân đưa canh cho ăn. Rồi hạ chiếu nói rằng: "Khanh là kẻ áo vải, được trẩm biết tiếng; nếu không phải là vốn đã chất chứa đạo nghĩa, thì làm sao được như vậy!"; và phong Lý Bạch làm học sĩ cung phụng tại Hàn Lâm, chuyên trách về mệnh lệnh mật. Thời kì này là thời kì vinh hiển nhất trong đời Lý Bạch.

Tại Trường An, Lý Bạch kết bạn với Hạ Tri Trương, Thôi Tông Chi, Vương Tiến, Tô Tấn, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi, hiệu là "Tửu Trung Bát Tiên" (tám vị tiên trong rượu). Bài "Ẩm trung bát tiên ca" của Đổ Phủ, nói về Lý Bạch có câu:

Lý Bạch nhất đẩu thi bách thiên,
Trường An thị thượng tửu gia miên;
Thiên tử hô lai bắt thướng thuyền,
Tự xưng thần thị tửu trung tiên.


Dịch thơ:

Lý Bạch một đấu, thơ trăm thiên
Ngủ trong quán rượu tại Trường An;
Thiên tử kêu tới chẳng lên thuyền,
Tự xưng thần là tiên trong rượu.


Các sách cũ thuật lại nhiều trường hợp Lý Bạch vâng lệnh vua thảo chiếu hay soạn nhạc từ trong lúc còn đang say.

Sách Dậu Dương Tạp Trở của Đoàn Thành Thức chép rằng: Vua Huyền Tông nghe danh Lý Bạch vang lừng hải nội, liền cho triệu vào bệ kiến. Thấy ông thần khí cao lãng, nhẹ nhàng như ráng mây, vua bất giác quên mình là đấng chí tôn vạn thặng . Nhân thấy vua đi giày mới, Lý Bạch liền giơ chân cho Cao Lực Sĩ bảo cởi giày. Cao Lực Sĩ phải làm theo lời.

Về sau chính vì ôm mối hận này, Cao Lực Sĩ đã đem hai câu trong bài "Thanh Bình Điệu" ra gièm với Dương Quí Phi là Lý Bạch có ý muốn ví Quí phi với nàng Triệu Phi Yến, một cung nhân thất sủng đời nhà Hán. Quí phi cả giận. Vì thế Minh Hoàng đôi lần định phong quan chức cho Lý Bạch, nhưng điều bị ngăn trở (theo Tùng song lục của Vi Duệ). Thực ra nguyên nhân khiến Lý Bạch không hiển phát được tại Trường An còn là sự dèm pha của Trương Ký nữa (theo bài tự của Ngụy Hạo).

Nhận thấy không thể đắc ý tại Trường An. Lý Bạch bèn xin về, và được Minh Hoàng ban tặng nhiều vàng bạc.

Từ năm 747( 45 tuổi), Lý Bạch ngao du bốn phương, phía Bắc đến các miền Triệu, Ngụy, Tề, Tần; phía Tây tới các đất Bân, Kỳ, Thương, Ư và Lạc Dương; phía nam đi chơi sông sông Hoài sông Tứ, rồi lại vào Cối Kê (tỉnh Chiết Giang). Nhân gia đình ở đất Lỗ (tỉnh Sơn Đông), nên Lý Bạch thường đi lại miền Tế, Lỗ. Trong thời gian 10 năm (745 - 755), ông đi chơi nhiều nhất tại các miền Lương, Tống (tỉnh Hà Nam). Chính trong thời kì này, ông quen biết Đổ Phủ, Cao Thích và Sầm Tham.

Năm 755 (năm thứ 14 niên hiệu Thiên Bảo), Lý Bạch đi chơi Quãng Lăng (tỉnh Giang Tô), gặp Ngụy Hạo. Hai người cùng nhau đi thuyền vào sông Tần Hoài, lên Kim Lăng. Rồi từ biệt Ngụy Hạo, Lý Bạch đi Tuyên Thành (tỉnh An Huy). Sau đi xuống phía Nam, đến Lật Dương, Viễm Trung (tỉnh Chiết Giang), rồi vào núi Lư Sơn (huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây), ở ẩn tại Bình Phong Điệp. Tháng 11 năm này, An Lộc Sơn làm phản.

Năm 756 (Chí Đức nguyên niên, đời Đường Túc Tông), An Lộc Sơn vây hãm hai kinh. Vĩnh vương Lân, con thứ 16 của Huyền Tông, làm Giang Lăng đô đốc, sung tiết độ sứ các đạo Sơn Nam đông lộ. Lĩnh Nam Kiềm Trung và Giang Nam tây lộ. Trọng tài danh của Lý Bạch, Vĩnh Vương mời ông tới làm liêu tá trong phủ. Khi Lý Lân làm phản, tự đem thuyền đi xuống phía đông, Lý Bạch cũng bị bức bách đi theo.

Năm 757, tháng 2, Vĩnh vương Lân bại trận, Lý Bạch chạy đến Bành Trạch trần thú, rồi bị giam tại ngục Tầm Dương (huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây) Tuyên úy đại sứ Thôi Chi Hoán và ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư cố sức xin tha cho Lý Bạch. Nhược Tư còn tự phóng thích Lý Bạch, cho làm tham mưu quân sự, lại dâng thư tiến cử lên vua, nhưng không được trả lời. Lý Bạch vẫn bị kết tội theo Lân làm phản và khép án tử hình. May được Quách Tử Nghi, nay đã là tướng có công dẹp giặc, nhớ ơn xưa, xin giải quan chuộc tội cho, Lý Bạch mới được giảm xuống tội đi đày.

Năm 758 (Càn nguyên nguyên niên), Lý Bạch bị phát vãng đi Dạ Lang (huyện Đồng Tử, tỉnh Quí Châu). Trên đường đi đày, có qua hồ Động Đình tỉnh Hồ Nam), lên Tam Giáp (khoảng Tứ Xuyên, Hồ Bắc).

Năm 759, vào cuối mùa xuân, khi đến Vu Sơn (tỉnh Tứ Xuyên), Lý Bạch nhận được sắc tha tội.

Khứ niên tả thiên Dạ Lang đạo,
Kim niên sắc phóng Vu Sơn dương.


(Bệnh tửu qui ký Vương minh phủ)

Năm ngoái bị đày xuống đường đi Dạ Lang,
Năm nay được sắc tha ở phía Nam núi Vu sơn,


Từ Vu Sơn Lý Bạch đi đến Hán Dương (tỉnh Hồ Bắc).

Năm 760, Lý Bạch về đến Trường Phong Sa, ở Trì châu, phủ An Khánh (tỉnh An Huy). Vương Duy mất vào năm này.

Năm 761, lại đến Kim Lăng, Tuyên Thanh, Lịch Dương ...., sống phóng đãng, ngông cuồng. Có gặp lại Ngụy Hạo ở Tuyên Thành (tỉnh An Huy).

Năm 762 (Bảo Ứng nguyên niên), Lý Bạch đến ở nhà người họ là Lý Dương Băng, đang làm huyện lệnh tại Đang Đồ (tỉnh An Huy). Tháng 4 năm này, vua Đại Tông lên ngôi, có ý triệu Lý Bạch, phong làm chức Thập di. Nhưng đến tháng 11 Lý Bạch mắc bệnh nặng tại Đang Đồ (theo Lý Dương Băng); mất ở núi Thanh Sơn, ngoài thành huyện này (theo Phạm Truyền Chính). Thọ 62 tuổi.

Có những thuyết khác nói rằng Lý Bạch không phải vì mắc bệnh mà mất (Lý Hoa, Ngụy Hạo), Ngụy Hạo còn cho biết rõ ràng ông chết trong đầm nước.

Đến thời Ngũ Đại, Vương Định Bảo soạn sách Chích ngôn, mới viết rằng: "Lý Bạch mặc áo gấm trong cung, chơi trong sông Thái Thạch (Ở huyện Đang Đồ), ngạo nghễ tự đắc, xem như không có ai bên cạnh; nhân say, nhảy vào nước, bắt bóng trăng rồi chết". Về sau Hồng Dong Trai phụ hoạ thuyết đó, nói thêm: " .... Vì thế nơi ấy có Tróc nguyệt đài (đài Bắt Trăng)".

Về gia đình, Lý Bạch có đến 4 đời vợ, sinh được 3 con trai, 1 con gái.

Sau khi Lý Bạch mất, Lý Dương Băng thâu thập thơ ông, thấy rằng trong số hai vạn bài thơ ông làm lúc sinh tiền, chỉ còn lại một phần mười. Những bài thơ ông làm trong khoảng 8 năm sau loạn An Lộc Sơn phần nhiều bị thất lạc. Ông vốn không thích lưu giữ và truyền bá thơ văn. Đến đời Tống (1080), Tống Mãn Cầu gom góp lại được, soạn thành Lý Bạch thi tập, 30 quyển, gồm 1800 bài.



Theo Thơ Đường của Trần Trọng San

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 06, 2011 3:08 pm

Thư Mục

  • Hiệp khách hành
  • Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
  • Hoành giang từ - kỳ 1
  • Hoành giang từ - kỳ 2
  • Hoành giang từ - kỳ 3
  • Hoành giang từ - kỳ 4
  • Hoành giang từ - kỳ 5
  • Hoành giang từ - kỳ 6
  • Kết miệt tử
  • Khách trung tác
  • Khẩu hiệu tặng trưng quân Lư Hồng công thì bị triệu
  • Khốc Triều Khanh Hoành
  • Khốc Tuyên Thành Thiện Nhưỡng Kỷ Tẩu
  • Khuê tình
  • Kim Hương tống Vi Bát chi Tây Kinh
  • Kim Lăng
  • Kim Lăng tửu tứ lưu biệt
  • Kinh Hạ Bi Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng
  • Ký Đông Lỗ nhị trĩ tử
  • Ký Thôi thị ngự
  • Ký viễn
  • Ký viễn - kỳ 1
  • Ký viễn - kỳ 2
  • Ký viễn - kỳ 3
  • Ký viễn - kỳ 4
  • Ký viễn - kỳ 5
  • Ký viễn - kỳ 6
  • Ký viễn - kỳ 7
  • Ký viễn - kỳ 8
  • Ký viễn - kỳ 9
  • Ký viễn - kỳ 10
  • Ký viễn - kỳ 11
  • Ký Vương Hán Dương
  • Lạc Dương mạch
  • Lao Lao đình
  • Lao Lao đình ca
  • Lư Sơn dao ký Lư thị ngự Hư Chu
  • Lục Thuỷ khúc
  • Mạch thượng tặng mỹ nhân
  • Mộc dục tử
  • Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt
  • Nga Mi sơn nguyệt ca
  • Nga Mi sơn nguyệt ca tống Thục tăng Yến nhập trung kinh
  • Nghĩ cổ - kỳ 1
  • Nghĩ cổ - kỳ 2
  • Nghĩ cổ - kỳ 3
  • Nghĩ cổ - kỳ 4
  • Nghĩ cổ - kỳ 5
  • Nghĩ cổ - kỳ 6
  • Nghĩ cổ - kỳ 7
  • Nghĩ cổ - kỳ 8
  • Nghĩ cổ - kỳ 9
  • Nghĩ cổ - kỳ 10
  • Nghĩ cổ - kỳ 11
  • Nghĩ cổ - kỳ 12
  • Ngô vương mỹ nhân bán tuý
  • Ngọc Chân công chúa biệt quán khổ vũ tặng Vệ Uý Trương Khanh - kỳ 1
  • Ngọc Chân công chúa biệt quán khổ vũ tặng Vệ Uý Trương Khanh - kỳ 2
  • Ngọc giai oán
  • Nguyệt dạ giang hành ký Thôi viên ngoại Tông Chi
  • Nguyệt hạ độc chước - kỳ 1
  • Nguyệt hạ độc chước - kỳ 2
  • Nguyệt hạ độc chước - kỳ 3
  • Nguyệt hạ độc chước - kỳ 4
  • Ô dạ đề
  • Ô thê khúc
  • Oán tình
  • Phỏng Đới Thiên Sơn đạo sĩ bất ngộ
  • Phù Phong hào sĩ ca
  • Quá Thôi Bát trượng thuỷ đình
  • Quan Hồ nhân xuy địch
  • Quan liệp
  • Quan san nguyệt
  • Quân hành
  • Sa Khâu thành hạ ký Đỗ Phủ
  • Sơn trung dữ u nhân đối chước
  • Sơn trung vấn đáp
  • Song yến ly
  • Tạ công đình
  • Tái hạ khúc kỳ 1
  • Tái hạ khúc kỳ 2
  • Tái hạ khúc kỳ 3
  • Tái hạ khúc kỳ 4
  • Tái hạ khúc kỳ 5
  • Tái hạ khúc kỳ 6
  • Tái thượng khúc kỳ 1
  • Tái thượng khúc kỳ 2
  • Tầm Ung tôn sư ẩn cư
  • Tặng Lô tư hộ
  • Tặng Mạnh Hạo Nhiên
  • Tặng nội
  • Tặng Tiền chinh quân Thiếu Dương
  • Tặng Uông Luân
  • Thái liên khúc
  • Thanh bình điệu kỳ 1
  • Thanh bình điệu kỳ 2
  • Thanh bình điệu kỳ 3
  • Thị tòng du túc ôn tuyền cung tác
  • Thiếp bạc mệnh
  • Thiếu niên hành kỳ 1
  • Thiếu niên hành kỳ 2
  • Thính Thục tăng Tuấn đàn cầm
  • Thu đăng Tuyên Thành Tạ Diễu bắc lâu
  • Thu há Kinh Môn
  • Thu nhật Lỗ quận Nghiêu từ đình thượng yến biệt Đỗ bổ khuyết, Phạm thị ngự
  • Thu phố ca kỳ 01
  • Thu phố ca kỳ 02
  • Thu phố ca kỳ 03
  • Thu phố ca kỳ 04
  • Thu phố ca kỳ 05
  • Thu phố ca kỳ 06
  • Thu phố ca kỳ 07
  • Thu phố ca kỳ 08
  • Thu phố ca kỳ 09
  • Thu phố ca kỳ 10
  • Thu phố ca kỳ 11
  • Thu phố ca kỳ 12
  • Thu phố ca kỳ 13
  • Thu phố ca kỳ 14
  • Thu phố ca kỳ 15
  • Thu phố ca kỳ 16
  • Thu phố ca kỳ 17
  • Thu Phố ký nội
  • Thu phong từ
  • Thu tịch lữ hoài
  • Thu tứ
  • Thục đạo nan
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 1
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 2
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 3
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 4
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 5
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 6
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 7
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 8
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca kỳ 9
  • Thượng hoàng tây tuần Nam Kinh ca 10
  • Thượng Lưu điền hành
  • Thướng Tam Hiệp
  • Tĩnh dạ tứ
  • Tô đài lãm cổ
  • Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn 1
  • Tống Bùi thập bát đồ nam quy Tung sơn 2
  • Tống Chúc bát chi Giang Đông phú đắc Cán sa thạch
  • Tống Dương Sơn Nhân quy Tung Sơn
  • Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế
  • Tống Hạ tân khách quy Việt
  • Tống hữu nhân
  • Tống hữu nhân nhập Thục
  • Tống khách quy Ngô
  • Tống Khúc Thập thiếu phủ
  • Tống Trừ Ung chi Vũ Xương
  • Tống Trương xá nhân chi Giang Đông
  • Tòng quân hành
  • Trào Lỗ nho
  • Trường Can hành 1
  • Trường Can hành 2
  • Trường Môn oán 1
  • Trường Môn oán 2
  • Trường tương tư 1
  • Trường tương tư 2
  • Tư biên
  • Tử Dạ tứ thời ca - Xuân ca
  • Tử Dạ tứ thời ca - Hạ ca
  • Tử Dạ tứ thời ca - Thu ca
  • Tử Dạ tứ thời ca - Đông ca
  • Tự khiển
  • Tương Dương ca
  • Tương phùng hành
  • Tương tiến tửu
  • Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân
  • Tuyên thành kiến Đỗ quyên hoa
  • U Châu Hồ mã khách ca
  • U giản tuyền
  • Ức Đông Sơn kỳ 1
  • Ức Đông Sơn kỳ 2
  • Ức Tần Nga
  • Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử ký
  • Viễn biệt ly
  • Việt nữ từ - Kỳ 1
  • Việt nữ từ - Kỳ 2
  • Việt nữ từ - Kỳ 3
  • Việt nữ từ - Kỳ 4
  • Việt nữ từ - Kỳ 5
  • Việt trung lãm cổ
  • Vọng Anh Vũ châu hoài Nễ Hành
  • Vọng Chung Nam sơn ký Tử Các ẩn giả
  • Vọng Cửu Hoa tặng Thanh dương Vi Trọng Kham
  • Vọng Hán Dương liễu sắc ký Vương Tể
  • Vọng Lư sơn bộc bố
  • Vọng Thiên Môn sơn
  • Vĩnh Vương Đông tuần ca - Kỳ 1
  • Vĩnh Vương Đông tuần ca - Kỳ 2
  • Vĩnh Vương Đông tuần ca - Kỳ 3
  • Vĩnh Vương Đông tuần ca - Kỳ 4
  • Vương Chiêu Quân kỳ 1
  • Vương Chiêu Quân kỳ 2
  • Xích Bích ca tống biệt
  • Xuân dạ Lạc thành văn địch
  • Xuân dạ yến đào lý viên tự
  • Xuân nhật độc chước
  • Xuân nhật tuý khởi ngôn chí
  • Xuân tứ
  • Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 1
  • Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 2
  • Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 3
  • Xuất kỹ Kim Lăng tử trình Lư lục kỳ 4

  • Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 06, 2011 3:56 pm

    Anh Vũ Châu

    Nguyên tác chữ Hán:

    鸚鵡洲

    鸚鵡來過吳江水。
    江上洲傳鸚鵡名。
    鸚鵡西飛隴山去。
    芳洲之樹何青青。
    煙開蘭葉香風暖。
    岸夾桃花錦浪生。
    遷客此時徒極目。
    長洲孤月向誰明。
    Phiên âm Hán Việt:

    Anh Vũ Châu

    Anh vũ lai quá Ngô giang thuỷ,
    Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh.
    Anh vũ tây phi Lũng sơn khứ,
    Phương châu chi thụ hà thanh thanh.
    Yên khai lan diệp hương phong khởi,
    Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh.
    Thiên khách thử thời đồ cực mục,
    Trường châu cô nguyệt hướng thuỳ minh?

    Dịch nghĩa:

    Bãi Anh vũ

    Chim Anh vũ xưa bay đến sông Ngô
    Bãi trên sông mới truyền lại tên Anh Vũ
    Chim anh vũ đã bay về Tây qua núi Lũng
    Bãi thơm cây xanh biếc làm sao!
    Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy
    Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh
    Lúc ấy người đi đày trông hoài cõi xa
    Trên bãi dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai.


    Các bản dịch thơ:

    Bãi Anh vũ

    Anh vũ bay qua sông Ngô ấy
    Tên bãi sông truyền Anh vũ Châu.
    Anh vũ về Tây vào núi Lũng
    Bãi thơm cây mọc mướt xanh sao!
    Sương vén nhành lan cơn gió nhát
    Bờ tiếp hoa đào, sóng gấm xao
    Nhọc khách lưu đày nhìn tít tắp,
    Bãi dài trăng lẻ chiếu ai đâu.

    Bản Kiều Văn

    Sông Ngô anh vũ lướt bay qua
    Anh Vũ thành xưa vẫn gọi là
    Núi Lũng trời tây anh vũ khuất
    Bãi thơm cây biếc chập chờn xa
    Lá lan thoang thoảng lừng hương gió
    Sóng gấm bập bềnh lượn sát hoa
    Lữ khách hoài trông trời tít tắp
    Tình ai trăng dọi sáng đêm tà ?

    Bản dịch Hải Đà

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 06, 2011 4:29 pm

    Bả tửu vấn nguyệt


    Nguyên tác chữ Hán:

    把酒問月

    青天有月來幾時,
    我今停杯一問之。
    人攀明月不可得,
    月行卻與人相隨。
    皎如飛鏡臨丹闕,
    綠煙滅盡清輝發。
    但見宵從海上來,
    寧知曉向雲間沒。
    白兔搗藥秋復春,
    嫦娥孤棲與誰鄰。
    今人不見古時月,
    今月曾經照古人。
    古人今人若流水,
    共看明月皆如此。
    唯願當歌對酒時,
    月光常照金樽裡。
    Phiên âm:

    Bả tửu vấn nguyệt

    Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,
    Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!
    Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,
    Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
    Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,
    Lục yên diệt tận thanh huy phát
    Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,
    Ninh tri hiểu hướng vân gian một.
    Bạch thố đảo dược thu phục xuân,
    Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.
    Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
    Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.
    Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,
    Cộng khan minh nguyệt giai như thử.
    Duy nguyện đương ca đối tửu thì,
    Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý.

    Dịch nghĩa:

    Nâng chén rượu hỏi trăng

    Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi?
    Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây!
    Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng,
    Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người.
    Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son,
    Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra.
    Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới,
    Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây.
    Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân,
    Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn?
    Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa.
    Trăng nay thì đã từng soi người xưa.
    Người xưa nay tựa như giòng nước chảy,
    Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó.
    Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu,
    Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.



    Các bản dịch thơ:

    Nâng chén rượu hỏi trăng

    Trời xanh có trăng từ thuở nào ?
    Ngừng chén đêm này hỏi một câu.
    Người với lên trăng, vin chẳng được,
    Khi đi, trăng lại mãi theo nhau.
    Trăng như gương lượn bên đan khuyết,
    Xóa sạch mây xanh, soi vằng vặc.
    Chỉ thấy đêm từ mặt biển lên,
    Hay đâu đến sáng vào mây khuất.
    Thỏ ngọc giã thuốc thu lại xuân,
    Thường Nga quạnh hưu ai người gần ?
    Người nay chẳng thấy trăng thời trước,
    Người trước, trăng nay soi đã từng.
    Người trước, người nay như nước chảy,
    Cùng xem trăng sáng đều thế đấy.
    Chỉ ước vui ca thưởng chén quỳnh,
    Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi.

    Bản dịch Tương Như


    Trăng kia đến tự thuở nào?
    Nay ta ngưng chén rượu đào hỏi trăng!
    Người không vin được trăng vàng,
    Trăng cùng người mãi dặm ngàn có đôi.
    Gương trăng vút tận cõi trời,
    Trăng tan khói biếc, rạng ngời muôn nơi.
    Biển đêm người thấy trăng soi,
    Đâu hay mai sớm trăng côi tạ từ.
    Thỏ còn giã thuốc xuân, thu,
    Hằng Nga đơn bóng thẩn thờ gió mây.
    Vầng trăng cổ tích ai hay?
    Trăng này từng chiếu mấy đời cổ nhân.
    Người xưa nay, tựa nước nguồn
    Đã từng chung ngắm trăng non một thời
    Ta say ca hát rượu mời
    Mong vầng trăng toả sáng soi chén vàng.

    Bản dịch Hoa Sơn

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Tue Dec 06, 2011 4:53 pm

    Bắc phong hành

    Nguyên tác chữ Hán:

    北風行

    燭龍棲寒門,
    光曜猶旦開。
    日月照之何不及此,
    惟有北風號怒天上來。
    燕山雪花大如席,
    片片吹落軒轅臺。
    幽州思婦十二月,
    停歌罷笑雙蛾摧。
    倚門望行人,
    念君長城苦寒良可哀。
    別時提劍救邊去,
    遺此虎紋金鞞革叉。
    中有一雙白羽箭,
    蜘蛛結網生塵埃。
    箭空在,
    人今戰死不復回。
    不忍見此物,
    焚之已成灰。
    黃河捧土尚可塞,
    北風雨雪恨難裁。
    Phiên âm Hán Việt:

    Bắc phong hành

    Chúc long thê hàn môn,
    Quang diệu do đán khai.
    Nhật nguyệt chiếu chi hà bất cập thử,
    Duy hữu bắc phong hào nộ thiên thượng lai.
    Yên sơn tuyết hoa đại như tịch,
    Phiến phiến xuy lạc Hiên Viên đài.
    U Châu tư phụ thập nhị nguyệt,
    Đình ca bãi tiếu song nga tồi.
    Ỷ môn vọng hành nhân,
    Niệm quân Trường Thành khổ hàn lương khả ai.
    Biệt thời đề kiếm cứu biên khứ,
    Di thử hổ văn kim bính cách xoa.
    Trung hữu nhất song bạch vũ tiễn,
    Tri thù kết võng sinh trần ai.
    Tiễn không tại,
    Nhân kim chiến tử bất phục hồi.
    Bất nhẫn kiến thử vật,
    Phần chi dĩ thành khôi.
    Hoàng Hà phủng thổ thượng khả tái,
    Bắc phong vũ tuyết hận nan tài.

    Dịch nghĩa:

    Bài hành gió bấc

    Đuốc rồng mà đến nhà nghèo
    Ánh nắng buổi mai cũng chiếu sáng
    Trời trăng soi rọi sao đến chốn này được
    Chỉ có gió bấc từ trời cao giận dữ gầm thét
    Núi Yên Chi hoa tuyết lớn như những chiếc chiếu (cuốn hết mọi thứ)
    Từng mãng từng mãng thổi sập đài Hiên Viên
    Tháng 12 người thiếu phụ đất U Châu tư lự
    Không còn ca hát cười đùa, đôi mày ngài tiều tụy
    Tựa cửa trông người đi
    Nhớ chàng ở Trường Thành khổ lạnh thật đáng thương
    Hồi đó chia tay chàng mang gươm đi cứu nguy biên ải
    Để lại túi đựng tên (chỉa ba) vằn da hổ
    Trong đó thường có một cặp tên đuôi buộc lông chim trắng
    Bây giờ nhện giăng đầy bụi bặm
    Cặp tên không còn nữa
    Và chinh phu đã chết vì chiến đấu, không trở về
    Nàng không cam lòng nhìn những vật ấy
    Nên muốn đốt cháy thành tro
    Sông Hoàng Hà đất đào đem đi chỗ khác có thể lấp được
    Còn gió bấc tuyết mưa đầy hờn oán kia
    Làm sao dập đứt nỗi.


    Các bản dịch thơ:

    Bài hành gió bấc

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 07, 2011 8:44 am

    Bạch đầu ngâm


    Nguyên tác chữ Hán:

    白頭吟

    錦水東北流,
    波蕩雙鴛鴦。
    雄巢漢宮樹,
    雌弄秦草芳。
    寧同萬死碎綺翼,
    不忍雲間兩分張。
    此時阿嬌正嬌妒,
    獨坐長門愁日暮。
    但愿君恩顧妾深,
    豈惜黃金買詞賦。
    相如作賦得黃金,
    丈夫好新多異心。
    一朝將聘茂陵女,
    文君因贈白頭吟。
    東流不作西歸水,
    落花辭條羞故林。
    兔絲固無情,
    隨風任傾倒。
    誰使女蘿枝,
    而來強縈抱。
    兩草猶一心,
    人心不如草。
    莫卷龍須席,
    從他生網絲。
    且留琥珀枕,
    或有夢來時。
    覆水再收豈滿杯,
    棄妾已去難重回。
    古來得意不相負,
    只今惟見青陵臺。
    Phiên âm:

    Bạch đầu ngâm

    Cẩm thuỷ đông bắc lưu,
    Ba đãng song uyên ương.
    Hùng sào Hán cung thụ,
    Thư lộng Tần thảo phương.
    Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực,
    Bất nhẫn vân gian lưỡng phân trương.
    Thử thì A Kiều chính kiều đố,
    Độc toạ Trường Môn sầu nhật mộ.
    Đãn nguyện quân ân cố thiếp thâm,
    Khởi tích hoàng kim mãi từ phú.
    Tương Như tác phú đắc hoàng kim,
    Trượng phu hiếu tân đa dị tâm.
    Nhất triêu tương sính Mậu Lăng nữ,
    Văn Quân nhân tặng "Bạch đầu ngâm".
    Đông lưu bất tác tây quy thuỷ,
    Lạc hoa từ điều tu cố lâm.
    Thố ty cố vô tình,
    Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo.
    Thuỳ sử nữ la chi,
    Nhi lai cưỡng oanh bão.
    Lưỡng thảo do nhất tâm,
    Nhân tâm bất như thảo.
    Mạc quyển long tu tịch,
    Tòng tha sinh võng ty.
    Thả lưu hổ phách chẩm,
    Hoặc hữu mộng lai thì.
    Phúc thuỷ tái thu khởi mãn bôi,
    Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi.
    Cổ lai đắc ý bất tương phụ,
    Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài.

    Dịch nghĩa:

    Ngâm đầu bạc

    Dòng nước như gấm trôi về đông bắc
    Trên sóng chấp chới đôi uyên ương
    Con trống đậu trên cây ở Hán cung
    Con mái đùa trong cỏ thơm đất Tần
    Thà cùng nhau chết vạn lần, nát lông cánh
    Chứ không chịu chia lìa nhau trong mây
    Khi A Kiều trong cơn ghen thủa ấy
    Ngồi một mình buồn ngày tàn ở Trường Môn
    Chỉ mong ơn vua thương tới nàng hơn
    Há tiếc hoàng kim mua từ phú
    Tương Như làm phú được hoàng kim [1]
    Trượng phu ưa mới sinh lòng khác
    Một sớm muốn cưới cô gái Mậu Lăng
    Văn Quân nhân tặng Bạch đầu ngâm
    Nước đã về đông chẳng quay lại hướng tây
    Hoa lìa cành thẹn với rừng cũ
    Cỏ thố ty vốn vô tình
    Theo gió mà ngả nghiêng
    Ai xui khiến dây cỏ nữ la
    Tìm tới quấn quýt không rời
    Hai loài cỏ, chung một tấm lòng
    Lòng người sao chẳng như cỏ ấy
    Đừng cuốn chiếc chiếu long tu (râu rồng)
    Mặc cho tơ nhện chăng đầy
    Hãy để lại chiếc gối hổ phách
    Biết đâu sẽ có lúc về trong giấc mơ
    Nước đổ đi rồi, há thu lại đầy chén sao
    Chàng khinh bạc bỏ thiếp đi, khó mà quay lại
    Xưa nay khi đắc ý, không ruồng rẫy nhau
    Giờ chỉ còn thấy đài Thanh Lăng mà thôi



    Các bản dịch thơ:

    Ngâm đầu bạc

    Sông Cẩm về đông bắc
    Uyên ương giữa sóng vần
    Trống đậu cây cung Hán
    Mái chơi hương cỏ Tần
    Nát cánh thà cùng muôn vạn chết
    Trên mây chẳng chịu rẽ lìa thân
    A Kiều thủa ấy cơn ghen nổi
    Ngồi lặng Trường Môn sầu bóng tối
    Những ước ơn vua lại đoái thương
    Từ phú nghìn vàng nào tiếc hối !
    Tương Như làm phú thưởng nghìn vàng
    Đàn ông ưa mới dễ thay ngang
    Một sớm Mậu Lăng toan cưới thiếp
    Khúc "Bạch đầu ngâm" Văn Quân tặng
    Về đông, nước hẳn chẳng về tây
    Lìa cành hoa rụng thẹn rừng hoang
    Thố ti vốn vô tình
    Nghiêng ngả theo làn gió
    Ai xui cành nữ la
    Đến vòng quanh gắn bó
    Hai cỏ một lòng chung
    Long người thua cỏ ấy
    Chiếu long tu chớ cuốn!
    Mạng nhện mặc dăng đầy!
    Giữ gìn gối hổ phách
    Có lúc mộng về đây
    Vớt lui nước đổ có đầy chăng?
    Bỏ vợ mà đi, đi dứt phăng
    Đắc ý xưa nay không phụ rẫy
    Bây giờ chỉ thấy gác Thanh Lăng!

    Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu


    Giòng sông Cẩm xuôi về đông bắc
    Sóng nghìn trùng xô nát uyên ương
    Trên cành trống đậu Hán cung
    Cỏ thơm chim mái đậu trong đất Tần
    Thà được chết vạn lần đau khổ
    Chẳng muốn rời nhau giữa trời mây
    A Kiều một thuở ghen cay
    Trường Môn một bóng buồn phai tháng ngày
    Nàng ao ước mong hầu Thánh Thượng
    Từ phú kia ngân lượng tiếc chi!
    Tương Như đất Thục văn tài
    Viết từ phú được nghìn thoi bạc vàng
    Người chuộng mới lòng hay thay đổi
    Sáng ngày toan cưới gái Mậu Lăng
    Văn Quân tặng Bạch đầu ngâm
    Về đông nước chảy chẳng tìm về tây
    Hoa lìa ngọn thẹn cùng rừng cũ
    Thố ti hoa vốn tự vô tình
    Ngã theo ngọn gió mặc nhiên
    Nữ la quấn quýt kết duyên mặn nồng
    Loài hoa ấy tâm đầu ý hiệp
    Lòng con người sánh kịp cỏ ư?
    Đừng thu mảnh chiếu long tu
    Mặc cho tơ nhện giăng mờ khắp nơi
    Hãy giữ lại gối đầu hổ phách
    Lở mai kia gợi giấc mơ đời
    Nước kia đổ hết đi rồi!
    Làm sao có thể vớt đầy được chăng?
    Chàng đã bỏ đi người vợ cũ
    Thật khó lòng về ở cùng nhau
    Xưa nay thệ ước bạc đầu
    Bây giờ chỉ thấy bóng đài Thanh Lăng.

    Bản dịch Hoa Sơn

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 07, 2011 2:42 pm

    Bạch vân ca tống Lưu Thập Lục quy sơn


    Nguyên tác chữ Hán:

    白雲歌送劉十六歸山

    楚山秦山皆白雲,
    白雲處處長隨君。
    長隨君,
    君入楚山裏,
    雲亦隨君渡湘水。
    湘水上,
    女蘿衣,
    白雲堪臥君早歸。
    Phiên âm:

    Bạch vân ca tống Lưu Thập Lục quy sơn

    Sở sơn Tần sơn giai bạch vân,
    Bạch vân xứ xứ trường tuỳ quân,
    Trường tuỳ quân.
    Quân nhập Sở sơn lý,
    Vân diệc tuỳ quân độ Tương thuỷ.
    Tương thuỷ thượng,
    Nữ la y,
    Bạch vân kham ngoạ quân tảo quy.

    Dịch nghĩa:

    Bài ca mây trắng tiễn Lưu Thập Lục về núi

    Núi Sở non Tần mây trắng bay,
    Mây trắng theo ông khắp chốn suốt đường dài,
    Theo ông suốt đường dài.
    Ông vào trong núi Sở,
    Mây cũng theo ông qua sông Tương.
    Trên sông Tương,
    Áo nữ la,[1]
    Mây trắng còn nằm lại, ông thì đi từ sớm.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca mây trắng tiễn Lưu Thập Lục về núi

    Núi Sở non Tần mây trắng bay,
    Theo người mây trắng ruỗi dặm dài.
    Ruỗi dặm dài.
    Người đi vào núi Sở
    Theo chân mây cũng vượt dòng Tương
    Trên dòng Tương
    Áo Nữ la
    Mây trắng nhẩn nha, bóng người xa.


    Bản diệt: Ngao_0p


    1. Nữ la: một loại dây leo giống như dây tơ hồng.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Wed Dec 07, 2011 4:48 pm

    Bi ca hành


    Nguyên tác chữ Hán:

    悲歌行

    悲來乎。
    悲來乎。
    主人有酒且莫斟。
    聽我一曲悲來吟。
    悲來不吟還不笑。
    天下無人知我心。
    君有數斗酒。
    我有三尺琴。
    琴鳴酒樂兩相得。
    一杯不啻千鈞金。
    悲來乎。
    悲來乎。
    天雖長。
    地雖久。
    金玉滿堂應不守。
    富貴百年能几何。
    死生一度人皆有。
    孤猿坐啼墳上月。
    且須一盡杯中酒。
    悲來乎。
    悲來乎。
    鳳凰不至河無圖。
    微子去之箕子奴。
    漢帝不憶李將軍。
    楚王放卻屈大夫。
    悲來乎。
    悲來乎。
    秦家李斯早追悔。
    虛名撥向身之外。
    范子何曾愛五湖。
    功成名遂身自退。
    劍是一夫用。
    書能知姓名。
    惠施不肯干萬乘。
    卜式未必窮一經。
    還須黑頭取方伯。
    莫謾白首為儒生。
    Phiên âm:

    Bi ca hành

    Bi lai hồ
    Bi lai hồ
    Chủ nhân hữu tửu thả mạc châm
    Thính ngã nhất khúc bi lai ngâm
    Bi lai bất ngâm hoàn bất tiếu
    Thiên hạ vô nhân tri ngã tâm
    Quân hữu sổ đấu tửu
    Ngã hữu tam xích cầm
    Cầm minh tửu lạc lưỡng tương đắc
    Nhất bôi bất thí thiên quân kim
    Bi lai hồ
    Bi lai hồ
    Thiên tuy trường
    Địa tuy cửu
    Kim ngọc mãn đường ưng bất thủ
    Phú quý bách niên năng kỹ hà
    Tử niên nhất độ nhân giai hữu
    Cô viên tọa đề phần thượng nguyệt
    Thả tu nhất tận bôi trung tửu
    Bi lai hồ
    Bi lai hồ
    Phượng hoàng bất chí hà vô đồ
    Vi Tử khứ chi Kỳ Tử nô
    Hán Đế bất ức Lý Tướng Quân
    Sở Vương phóng khước Khuất Đại Phu
    Bi lai hồ
    Bi lai hồ
    Tần gia Lý Tư tảo truy hối
    Hư danh bát hướng thân chi ngoại
    Phạm tử hà tằng ái ngũ hồ
    Danh thành công toại thân tự thoái
    Kiếm thị nhất phu dụng
    Thư năng tri tánh danh
    Huệ thi bất khẳng can vạn thừa
    Bốc thức vị tâm cùng nhất kinh
    Hoàn tu hắc đầu thủ phương bá
    Mạc man bạch thủ vi nho sinh.

    Dịch nghĩa:

    Bài ca buồn

    Buồn lại đến rồi,
    Buồn đến rồi
    Sẵn có rượu chủ nhân rót tràn ra
    Hãy nghe tôi hát một khúc buồn
    Khúc buồn không thành lời, cười không được
    Người đời có ai người hiểu cho tôi.
    Ông thì có rượu nhiều đấu
    (còn) Tôi có đàn Tam xích
    Tiếng đàn kêu, rượu uống cả hai đều hợp cùng với nhau
    Một chén cũng đáng ba vạn cân vàng
    Buồn đến rồi
    Buồn lại đến rồi
    Trời dù dài mấy
    Đất dù đã có từ lâu
    Vàng ngọc (dẫu) đầy nhà không thể giữ
    Giàu có trăm năm rồi cũng chẳng làm được gì
    Đời người đến lúc nào đó rồi cũng chết
    Con vượn cô đơn dưới trăng khóc gào
    Thôi thì uống cạn hết rượu trong ly
    Buồn đến rồi
    Buồn lại đến rồi
    Phượng hoàng không đúng lúc thì còn dự định gì
    Vi Tử đi, Kỳ Tử mang thân nô bộc
    Hán Đế nhớ gì Lý tướng quân (Lý Lăng)
    Sở Vương đày ải Khuất Nguyên
    Buồn đến rồi
    Buồn lại đến rồi
    Đời nhà Tần, (nếu) Lý Tư sớm hối hận lại chuyện đã qua.
    (thì) Không để tấm thân ngoài hư danh
    Phạm Lãi sao yêu Ngũ hồ?
    Tự rút thân ra khỏi công danh khi việc đã thành công.
    Thanh gươm lẽ phải người trượng phu cùng sử dụng
    Sách sẽ ghi lại tính danh
    Ra ơn không bằng lòng cầu lắm kẻ nâng đỡ
    Phép bói toán vị tất cùng một sách
    Đợi trở lại lúc đầu đen mà chọn nơi vua sáng
    Chớ lừa dối đầu bạc là do thưở còn là nho sinh.


    Các bản dịch thơ:

    Bài ca buồn

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 8:00 am

    Biệt nội phó trưng - kỳ 1

    Nguyên tác chữ Hán:

    別內赴徵其一

    王命三徵去未還,
    明朝離別出吳關。
    白玉高樓看不見,
    相思須上望夫山。
    Phiên âm:

    Biệt nội phó trưng - kỳ 1

    Vương mệnh tam trưng khứ vị hoàn,
    Minh triêu ly biệt xuất Ngô quan.
    Bạch ngọc cao lâu khan bất kiến,
    Tương tư tu thượng Vọng phu san.
    Dịch nghĩa:

    Từ giã vợ theo lệnh quân

    Lệnh vua truyền đã ba lần vẫn chưa phục mệnh,
    Sáng sớm ngày mai từ giã ải Ngô ra đi
    Ngọc trắng lầu cao không nhìn thấy,
    Nhớ thương nhau lên đợi núi Vọng Phu.


    Các bản dịch thơ:

    Từ giã vợ theo lệnh quân

    Lệnh vua ba bận chưa chầu,
    Sớm mai ly biệt thương sầu ải Ngô.
    Lầu cao, ngọc trắng mơ hồ
    Nhớ nhau lên núi Vọng Phu đợi chờ.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 8:37 am

    Biệt nội phó trưng - kỳ 2

    Nguyên tác chữ Hán:

    別內赴徵其二

    出門妻子強牽衣,
    問我西行几日歸。
    歸時儻佩黃金印,
    莫學蘇秦不下機。
    Phiên âm:

    Biệt nội phó trưng - kỳ 2

    Xuất môn thê tử cưỡng khiên y,
    Vấn ngã tây hành kỷ nhật quy.
    Quy thời thảng bội hoàng kim ấn,
    Mạc học Tô Tần bất hạ ky. [1]
    Dịch nghĩa:

    Từ giã vợ theo lệnh quân - Kỳ 2

    Bước ra cửa vợ con níu áo,
    Gặng hỏi chuyến đi về Tây ngày nào trở về
    Khi về, ấn vàng nếu chẳng mang về được,
    Tuyệt không học Tô Tần (để vợ) ngồi cao.


    Các bản dịch thơ:

    Từ giã vợ theo lệnh quân - Kỳ 2

    Ra đi vợ níu con hời,
    Đường Tây nay bước, đường về khi nao?
    Ấn vàng nếu chẳng được trao
    Tuyệt không học chuyện ngồi cao Tô Tần.



    Bản diệt: Ngao_0p

    1. Tô Tần ( 蘇秦; ? – 285 TCN), tên tự là Quý Tử (季子), là một trong những đại diện tiêu biểu của phái Hợp tung thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Lúc chưa lập được công danh, trở về nhà vợ ngồi dệt vải không bước ra tiếp đón, chị dâu không dọn cơm cho ăn. Nhưng sau này khi ông thành công thì mọi việc thay đổi.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 9:25 am

    Biệt nội phó trưng - kỳ 3

    Nguyên tác chữ Hán:

    別內赴徵其三

    翡翠為樓金作梯,
    誰人獨宿倚門啼。
    夜坐寒燈連曉月,
    行行淚盡楚關西。
    Phiên âm:

    Biệt nội phó trưng - kỳ 3

    Phỉ thuý vi lâu kim tác thê,
    Thuỳ nhân độc túc ỷ môn đề.
    Dạ toạ hàn đăng liên hiểu nguyệt,
    Hàng hàng lệ tận Sở quan tê.
    Dịch nghĩa:

    Từ giã vợ theo lệnh quân - Kỳ 3

    Vàng chế ra thang, ngọc thuý tạo nên lầu
    Ai người một mình tựa cửa khóc sầu.
    Đêm ngồi dưới ngọn đèn lạnh cùng với mảnh trăng sớm.
    Hàng hàng dòng lệ rơi ở ải Tây thành Sở.


    Các bản dịch thơ:

    Từ giã vợ theo lệnh quân - Kỳ 3

    Thang vàng lầu ngọc ngời ngời
    Ai người tựa cửa sầu tê một mình.
    Trăng non, đèn lạnh ngồi nhìn
    Dòng châu lã tả Sở thành ải Tây.

    Bản diệt thơ Ngao_0p


    1. Ba bài thơ Biệt nội phó trưng có thể viết vào thời điểm An Lộc Sơn vây hãm hai kinh (756). Vĩnh vương Lân, con thứ 16 của Huyền Tông, làm Giang Lăng đô đốc, sung tiết độ sứ các đạo Sơn Nam đông lộ. Lĩnh Nam Kiềm Trung và Giang Nam tây lộ. Trọng tài danh của Lý Bạch, Vĩnh Vương mời ông tới làm liêu tá trong phủ. Khi Lý Lân làm phản, tự đem thuyền đi xuống phía đông, Lý Bạch cũng bị bức bách đi theo.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 9:47 am

    Bình lỗ tướng quân phụ

    Nguyên tác chữ Hán:

    平虜將軍妻

    平虜將軍婦,
    入門二十年。
    君心自有悅,
    妾寵豈能專。
    出解床前帳,
    行吟道上篇。
    古人不唾井,
    莫忘昔纏綿。
    Phiên âm:

    Bình lỗ tướng quân phụ

    Bình lỗ tướng quân phụ,
    Nhập môn nhị thập niên.
    Quân tâm tự hữu duyệt,
    Thiếp sủng khởi năng chuyên?
    Xuất giải sàng tiền trướng,
    Hành ngâm đạo thượng thiên.
    Cổ nhân bất thoá tỉnh,
    Mạc vong tích triền miên.
    Dịch nghĩa:

    Vợ Bình lỗ tướng quân

    Vợ của Bình lỗ tướng quân,
    Vào nhà làm dâu đã hai mươi năm.
    Nay chàng có niềm vui khác,
    Thiếp há còn được yêu mến mãi?
    Ra đi tháo bức màn trước giường xuống,
    Trên đường ngâm một bài thơ.
    Người xưa không nhổ xuống giếng cũ,
    Xin chớ quên bao ngày tháng bên nhau.


    Các bản dịch thơ:

    Vợ Bình lỗ tướng quân

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 10:11 am

    Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình - kỳ 1

    Nguyên tác chữ Hán:

    平陪族叔開部侍郎曄及中書賈舍人至遊洞庭其一


    洞庭西望楚江分,
    水盡南天不見雲。
    日落長沙秋色遠,
    不知何處弔湘君。
    Phiên âm:

    Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị Lang Diệp
    Cập Trung Thư Giả Xá Nhân Chí Du Động Đình


    Động Đình tây vọng Sở giang phân,
    Thuỷ tận nam thiên bất kiến vân.
    Nhật lạc Trường Sa thu sắc viễn,
    Bất tri hà xứ điếu Tương quân.
    Dịch nghĩa:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 1

    Phía Tây Hồ Động Đình nhìn thấy chỗ phân chia với sông Sở,
    Nước hồ dài tận trời nam, không thấy mây.
    Trường Sa khi mặt trời xuống, màu sắc thu xa thẳm,
    Muốn viếng Tương Quân, nhưng không biết chốn nào đây?.


    Các bản dịch thơ:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 1

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 10:37 am

    Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình - kỳ 2

    Nguyên tác chữ Hán:

    平陪族叔開部侍郎曄及中書賈舍人至遊洞庭其二


    南湖秋水夜無煙,
    耐可乘流直上天。
    且就洞庭賒月色,
    將船買酒白雲邊。
    Phiên âm:

    Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị Lang Diệp
    Cập Trung Thư Giả Xá Nhân Chí Du Động Đình - Kỳ 2


    Nam hồ thu thuỷ dạ vô yên,
    Nại khả thừa lưu trực thượng thiên.
    Thả tựu Động Đình xa nguyệt sắc,
    Tương thuyền mãi tửu bạch vân biên.
    Dịch nghĩa:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 2

    Phía nam hồ đêm thu không khói nước ,
    Chịu để (thuyền) chảy theo dòng thẳng lên trời .
    Nên để Động Đình mua lấy màu trăng
    (còn ta) Dong thuyền mua rượu ở bờ hồ mây trắng bay.


    Các bản dịch thơ:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 2

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 11:10 am

    Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình - kỳ 3

    Nguyên tác chữ Hán:

    平陪族叔開部侍郎曄及中書賈舍人至遊洞庭其三


    洛陽才子謫湘川,
    元禮同舟月下仙。
    記得長安還欲笑,
    不知何處是西天。
    Phiên âm:

    Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị Lang Diệp
    Cập Trung Thư Giả Xá Nhân Chí Du Động Đình - Kỳ 3


    Lạc Dương tài tử trích Tương Xuyên,
    Nguyên lễ đồng chu nguyệt hạ tiên.
    Ký đắc Trường An hoàn dục tiếu,
    Bất tri hà xứ thị tây thiên.
    Dịch nghĩa:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 3

    Tài tử ở Lạc Dương biếm Tương xuyên,
    Lễ đầu năm cùng thuyền với các hạ tiên.
    Nhớ đến việc ấy Trường An cười nắc nẻ,
    Nhưng có biết đâu xứ ấy chính tây thiên.
    (Xem lại)

    Các bản dịch thơ:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 3

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 1:47 pm

    Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình - kỳ 4

    Nguyên tác chữ Hán:

    平陪族叔開部侍郎曄及中書賈舍人至遊洞庭其四


    洞庭湖西秋月輝,
    瀟湘江北早鴻飛。
    醉客滿船歌白苧,
    不知霜露入秋衣。
    Phiên âm:

    Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị Lang Diệp
    Cập Trung Thư Giả Xá Nhân Chí Du Động Đình - Kỳ 4


    Động Đình hồ tây thu nguyệt huy
    Tiêu Tương giang bắc tảo hồng phi
    Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ
    Bất tri sương lộ nhập thu y.
    Dịch nghĩa:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 4

    Trăng thu vằng vặc phía tây hồ Động Đình.
    Chim hồng bay sớm về phía bắc vùng Tiêu Tương.
    Khách trên thuyền say mèm, ca bài “Bạch Trữ”.
    Không màng tới sương móc thu rơi ướt áo.


    Các bản dịch thơ:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 4

    Trăng thu vằng vặc Động Đình tây
    Hồng nhạn Tiêu Tương bắc sớm bay.
    Say, khách thuyền ca vang “Bạch Trữ”
    Sương thu đẫm áo khách nào hay!

    Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 2:09 pm

    Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân Chí du Động Đình - kỳ 5

    Nguyên tác chữ Hán:

    平陪族叔開部侍郎曄及中書賈舍人至遊洞庭其五


    帝子瀟湘去不還
    空余秋草洞庭間
    淡掃明湖開玉鏡
    丹青畫出是君山
    Phiên âm:

    Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị Lang Diệp
    Cập Trung Thư Giả Xá Nhân Chí Du Động Đình - Kỳ 5


    Đế tử[1] Tiêu Tương[2] khứ bất hoàn
    Không dư thu thảo Động Đình gian
    Đạm tảo minh hồ khai ngọc kính
    Đan thanh họa xuất thị Quân san.[3]
    Dịch nghĩa:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 4

    Con gái hoàng đế (Nghiêu) tới Tiêu Tương rồi không về nữa,
    Bỏ lại cỏ thu cho vùng Động Đình bao la này.
    (Gió nhẹ) thổi quang mặt hồ sáng như tấm gương ngọc.
    Núi Quân đẹp như bức tranh màu sắc xanh đỏ.


    Các bản dịch thơ:

    Cùng chú họ là Diệp làm thị lang bộ hình và quan trung thư xá nhân Giả Chí chơi hồ Động Đình - kỳ 5

    Bổ sung sau.


    1. Đế tử: tức Nga Hoàng và Nữ Anh là con gái của vua Nghiêu, được vua Nghiêu gả làm vợ vua Thuấn. Vua Thuấn mất trong lúc đi tuần ở phương nam, hai bà nghe tin đi nhận xác, khi tới vùng Tiêu Tương, hai bà nhảy xuống sông tự vẫn.
    2. Tiêu Tương: tức Tiêu Tương trấn, nơi sông Tiêu nhập vào sông Tương để cùng vào hồ Động Đình.
    3. Quân San: là ngọn núi nổi trên hồ Động Đình.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 2:40 pm

    Bồ Tát man

    Nguyên tác chữ Hán:

    菩薩蠻


    平林漠漠煙如織,
    寒山一帶傷心碧。
    暝色入高樓,
    有人樓上愁。
    玉階空佇立,
    宿鳥歸飛急。
    何處是歸程,
    長亭更短亭
    Phiên âm:

    Bồ Tát man

    Bình lâm mạc mạc yên như chức,
    Hàn san nhất đới thương tâm bích.
    Minh sắc nhập cao lâu,
    Hữu nhân lâu thượng sầu.
    Ngọc giai không trữ lập,
    Túc điểu quy phi cấp.
    Hà xứ thị quy trình,
    Trường đình cánh đoản đình.
    Dịch nghĩa:

    Điệu Bồ tát man

    Bình lâm mây mù mờ mịt khói như mây dệt
    Hàn san một dải thương tâm nhuộm màu biếc
    Bóng đêm chìm lẫn nơi lầu cao
    Có người trên lầu mang nổi sầu
    Nơi thềm ngọc không người đứng đợi
    Chim tối bay về tổ vội
    Chốn nào là con đường đi về
    Trường đình lại thay đoản đình.


    Các bản dịch thơ:

    Điệu Bồ tát man

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Thu Dec 08, 2011 4:50 pm

    Chiến thành Nam

    Nguyên tác chữ Hán:

    戰城南


    去年戰,桑乾源﹔  
    今年戰,蔥河道。  
    洗兵條支海上波,  
    放馬天山雪中草。  
    萬裡長征戰,  
    三軍盡衰老。  
    匈奴以殺戮為耕作,  
    古來唯見白骨黃沙田。  
    秦家筑城備胡處,  
    漢家還有烽火然。  
    烽火然不息,  
    征戰無已時。  
    野戰格斗死,    
    敗馬號鳴向天悲。  
    烏鳶啄人腸,  
    銜飛上挂枯樹枝。  
    士卒涂草莽,  
    將軍空爾為。  
    乃知兵者是凶器,  
    聖人不得已而用之。
    Phiên âm:

    Chiến thành Nam

    Khứ niên chiến, Tang Càn nguyên,
    Kim niên chiến, Thông Hà[1] đạo.
    Tẩy binh Điều Chi[2] hải thượng ba,
    Phóng mã Thiên Sơn[3] tuyết trung thảo.
    Vạn lý trường chinh chiến,
    Tam quân tận suy lão.
    Hung nô[4] dĩ sát lục vi canh tác ;
    Cổ lai duy kiến bạch cốt hoàng sa điền.
    Tần gia trúc thành bị Hồ Xứ,
    Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên.
    Phong hỏa[5] nhiên bất tức,
    Chinh chiến vô dĩ thì.
    Dã chiến cách đấu tử,
    Bại mã hào minh hướng thiên bi.
    Ô diên trác nhân trường,
    Hàm phi thướng quải khô thụ chi.
    Sĩ tốt đồ thảo mãng,
    Tướng quân không nhĩ vi.
    Nãi tri binh giả thị hung khí,
    Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi.
    Dịch nghĩa:

    Cuộc chiến thành Nam

    Vừa năm ngoái đánh nhau ở đầu sông Tang Càn
    Đến năm nay lại đánh nhau tại miền sông Thông Hà
    Dùng sóng biển Điều Chi để rửa giáo gươm
    Thả ngựa về núi Thiên Sơn cho ăn cỏ tuyết
    Đán nhau dai dẳng bên ngoài muôn dặm
    Hết thảy ba quân đều ốm và già yếu
    Rợ Hồ thì lấy sự giết chóc thay cho việc cày bừa
    Từ xưa chỉ thấy xương trắng trên cánh đồng cát vàng
    Nhà Tần xây thành phòng ngự giặc Hồ,
    Nhà Hán đốt lửa hiệu còn cháy rực.
    Lửa báo động cháy rực không hề tắt,
    Chiến chinh chẳng bao giờ ngừng
    Kẻ tử trận trong cuộc đánh giáp nơi đồng nội
    Ngựa thua trận nhìn trời hí vang thảm thiết
    Diều quạ mổ ruột người
    Ngậm tha bay treo lơ lững trên cây khô
    Binh lính chết trên đồng cỏ,
    Tướng quân một mình thơ thẩn lơ láo,
    Mới biết rằng binh đao là vật gở,
    Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng tới.


    Các bản dịch thơ:

    Cuộc chiến thành Nam

    Năm ngoái trên sông Tang đánh nhau,
    Năm nay dọc sông Thông chém giết.
    Điều Chi, gươm rửa sóng ngoài khơi,
    Thiên Sơn, ngựa ăn cỏ ngập tuyết.
    Muôn dặm chinh chiến hoài,
    Ba quân già ốm hết.
    Hung Nô giết chóc thay cấy cày,
    Cát vàng xương trắng xưa nay đấy !
    Này dãy thành, Tần đắp ngự Hồ,
    Kia lửa trận, Hán đốt đang cháy !
    Lửa trận cháy chẳng tắt,
    Chiến tranh mãi không thôi !
    Sa trường đâm nhau chết,
    Ngựa ai ngơ ngác nhìn hý trời !
    Diều quạ rỉa ruột người,
    Tha treo cành khô trông tả tơi.
    Binh lính thây bón cỏ,
    Tướng quân bó tay rồi.
    Mới hay : Gươm đao là vật gở,
    Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng thôi !

    Bản dịch của Hoàng Tạo, Tương Như


    1. Thông Hà: sông Thông Lĩnh, hiện ở tại khu tự trị Duy Ngô Nhĩ vùng Tân Cương.
    2. Điều Chi: một nước nhỏ phía tây thành Hán triều, hiện thuộc vùng biên giới Iran.
    3. Thiên Sơn: thuộc vùng tự trị Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương
    4. Hung Nô: sắc tộc sống theo bộ lạc phía Bắc thời cổ đại luôn có chiến tranh với Trung Quốc.
    5. Phong hỏa: hay thường gọi là phong hỏa đài là nơi phát tính hiệu cảnh báo khi có giặc đến.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 7:32 am

    Cổ lãng nguyệt hành

    Nguyên tác chữ Hán:

    古朗月行


    小時不識月,
    呼作白玉盤。
    又疑瑤臺鏡,
    飛在白雲端。
    仙人垂兩足,
    桂樹作團團。
    白兔搗藥成,
    問言與誰餐。
    蟾蜍蝕圓影,
    大明夜已殘。
    羿昔落九烏,
    天人清且安。
    陰精此淪惑,
    去去不足觀。
    憂來其如何,
    淒愴摧心肝。
    Phiên âm:

    Cổ lãng nguyệt hành

    Tiểu thì bất thức nguyệt,
    Hô tác bạch ngọc bàn.
    Hựu nghi Dao Đài kính,
    Phi tại bạch vân đoan.
    Tiên nhân thuỳ lưỡng túc,
    Quế thụ tác đoàn đoàn.
    Bạch thố đảo dược thành,
    Vấn ngôn dữ thuỳ xan.
    Thiềm[1] thừ thực viên ảnh,
    Đại minh dạ dĩ tàn.
    Nghệ[2] tích lạc cửu ô,
    Thiên nhân thanh thả an.
    Âm tinh thử luân hoặc,
    Khứ khứ bất túc quan.
    Ưu lai kỳ như hà,
    Thê sảng tồi tâm can.
    Dịch nghĩa:

    Bài hành về vầng trăng sáng ngày xưa

    Thuở nhỏ không biết trăng,
    Gọi là mâm ngọc sáng.
    Lại ngờ là gương ở Dao Đài,
    Bay tít tầng mây trắng.
    Người tiên buông đôi chân,
    Cây quế tròn xum xuê.
    Thỏ trắng giã thuốc đã xong,
    Hỏi biết cùng ai mà nếm.
    Con cóc gặm ảnh tròn,
    Ánh sáng về đêm đã tàn lụi.
    Hậu Nghệ xưa bắn rơi chín mặt trời,
    Người trời trong sạch và yên ổn.
    Vầng trăng của đêm chìm trong thương cảm,
    Trôi trôi không nhìn thấy nữa.
    Buồn lo đến thế sao,
    Xót xa bời bời gan ruột.


    Các bản dịch thơ:

    Bài hành về vầng trăng sáng ngày xưa

    Thuở bé chưa biết trăng,
    Gọi là mâm ngọc trắng.
    Dao Đài ngỡ là gương,
    Bay giữa tầng mây thẳm.
    Người tiên thõng đôi chân,
    Cây quế tròn xoe tán.
    Thỏ trắng giã thuốc xong,
    Biết cùng ai mà nếm!
    Thiềm Thừ gặm trăng tròn,
    Ánh sáng dần tối hẳn.
    Chín mặt trời, Nghệ bắn,
    Người trời hiền, thích yên.
    Trăng vốn thường đa cảm,
    Lặn dần vào trong đêm.
    Lo phiền đến như thế,
    Xót xa nẫu ruột gan.

    Bản dịch của Ngô Văn Phú


    1. Thiềm thừ: Con cóc gặm mặt trăng.
    2. Nghệ: tức Hậu Nghệ chồng của Hằng Nga.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 11:03 am

    Cổ Ý

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風

    君為女蘿草,
    妾作菟絲花。
    輕條不自行,
    為逐春風斜。
    百丈託遠松,
    纏綿成一家。
    誰言會面易,
    各在青山崖。
    女蘿發馨香,
    菟絲斷人腸。
    枝枝相糾結,
    葉葉競飄揚。
    生子不知根,
    因誰共芬芳。
    中巢雙翡翠,
    上宿紫鴛鴦。
    若識二草心,
    海潮易可量。
    Phiên âm:

    Cổ ý

    Quân vị nữ la thảo
    Thiếp tác thố ti hoa
    Khinh điều bất tự hành
    Vị trục xuân phong tà
    Bách trượng thác viễn tùng
    Triền miên thành nhất gia
    Thuỳ ngôn hội diệc dị
    Các tại thanh sơn nha
    Nữ la phát hinh hương
    Thố ti đoạn nhân trường
    Chi chi tương củ kết
    Diệp diệp cánh phiêu dương
    Sinh tử bất tri căn
    Nhân thuỳ cộng phân phương
    Trung sào song phỉ thuý
    Thượng túc tử uyên ương
    Nhược thức nhị thảo tâm
    Hải triều diệc khả lường
    Dịch nghĩa:

    Ý xưa

    Chàng là loài cỏ nữ la
    Thiếp là loài hoa thố ti
    Cành nhỏ nhắn không thể tự đi
    Nghiêng ngả theo gió xuân
    Gởi thân nơi cây tùng trăm trượng xa xôi
    Lâu ngày thành chung một nhà
    Ai bảo gặp nhau đã dễ
    Mỗi bên ở một bên sườn núi xanh
    Cỏ nữ la toả mùi thơm ngát
    Hoa thố ti làm người ta đứt ruột
    Cành cành kết lại với nhau chằng chịt
    Lá lá phất phơ theo gió
    Sinh con chẳng biết đến rễ
    Nhờ ai mà cùng thơm
    Bên trong là tổ phỉ thuý
    Bên trên đôi uyên ương đậu
    Ví như biết được tấm lòng của hai loài cỏ ấy
    Thì có thể đo được nước triều ở biển.


    Các bản dịch thơ:

    Ý xưa

    Chàng, loài cỏ nữ la
    Thố ti hoa, phận thiếp.
    Nhánh nhẹ mềm không bước
    Gió xuân ngả là đà.
    Gởi tùng xa trăm thước
    Lâu thành ở chung nhà.
    Ai rằng gặp dễ được
    Người mỗi một non xa.
    Cỏ nữ la hương đượm
    Thố ti đứt ruột rà.
    Cành kết nhau lượm thượm
    Theo gió lá vương vương
    Sinh con không biết rễ
    Nhờ ai để ngát hương.
    Đôi chim thúy trong tổ
    Trên đậu cặp uyên ương.
    Nếu biết lòng hai cỏ
    Có thể rỏ triều cường.


    Người dịch: Nguyễn Phước Hậu




    Được sửa bởi Vân Nhi ngày Mon Dec 12, 2011 2:19 pm; sửa lần 1.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 3:10 pm

    Cổ Phong - Theo tranh *


    Phiên âm:

    Cổ phong - Theo tranh

    Đào hoa khai đông viên
    Hàm tiếu khoa bạch nhật
    Ngẫu mông đông phong vinh
    Sinh thử diễm dương nhất.
    Khởi vô giai nhân sắc
    Đãn khủng hoa bất thật
    Uyển chuyển long hỏa phi
    Linh lạc tảo tương thất
    Cự tri nam san tùng
    Độc lập tự tiên sắc.

    Dịch nghĩa:

    Cổ phong - Theo tranh


    Bổ sung sau!


    Các bản dịch thơ:

    Hoa đào nở vườn đông
    Mỉm cười khoe ngày sáng
    Chợt che khuất gió đông
    Sanh bản chất cái đẹp
    Khởi chẳng sắc giai nhân
    Chỉ ngại hoa không thật
    Uyển chuyển múa như rồng
    Mưa sớm cùng hoa rụng
    Há chẳng biết cội thông
    Đứng độc lập buồn bã.

    Phí Minh Tâm dịch


    *. Thấy trên internet có bộ tranh có bài Cổ phong này ghi là Kỳ 1. Nhưng tìm mấy trang khác không thấy chỉ loài ra thêm một bài Cổ phong - kỳ 1 khác. Kiểm tra lại rồi, bài Cổ phong này là bài thứ 47!
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 3:31 pm

    Cổ Phong

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其一

    大雅久不作。
    吾衰竟誰陳。
    王風委蔓草。
    戰國多荊榛。
    龍虎相啖食。
    兵戈逮狂秦。
    正聲何微茫。
    哀怨起騷人。
    揚馬激頹波。
    開流蕩無垠。
    廢興雖萬變。
    憲章亦已淪。
    自從建安來。
    綺麗不足珍。
    聖代複元古。
    垂衣貴清真。
    群才屬休明。
    乘運共躍鱗。
    文質相炳煥。
    眾星羅秋旻。
    我志在刪述。
    垂輝映千春。
    希聖如有立。
    絕筆于獲麟。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 1

    Đại nhã cửu bất tác
    Ngô suy cánh thùy trần.
    Vương phong ủy mạn thảo
    Chiến quốc đa kinh trăn.
    Long hổ tương đạm thực
    Binh qua đãi cuồng tần.
    Chánh thanh hà vi mang
    Ai oán khởi tao nhân
    Dương mã kích đồi ba
    Khai lưu đãng vô ngân
    Phế hưng tuy vạn biến
    Hiến chương diệc dĩ luân.
    Tự tòng kiến an lai
    Khỉ lệ bất túc trân
    Thánh đại phức nguyên cổ
    Thùy y quý thanh chân.
    Quần tài chúc hưu minh
    Thừa vận cộng dược lân
    Văn chất tương bỉnh hoán
    Chúng tinh la thu mân
    Ngã chí tại san thuật
    Thùy huy ánh thiên xuân
    Hi thánh như hữu lập
    Tuyệt bút vu hoạch lân.
    Dịch nghĩa:

    Phong cách xưa


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Bổ sung sau.


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 3:45 pm

    Cổ Phong - Kỳ 2

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其二

    蟾蜍薄太清。
    蝕此瑤臺月。
    圓光虧中天。
    金魄遂淪沒。
    螮蝀入紫微。
    大明夷朝暉。
    浮雲隔兩曜。
    萬象昏陰霏。
    蕭蕭長門宮。
    昔是今已非。
    桂蠹花不實。
    天霜下嚴威。
    沈嘆終永夕。
    感我涕霑衣。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 2

    Thiềm thừ bạc Thái Thanh,
    Thực thử Dao Đài nguyệt.
    Viên quang khuy trung thiên,
    Kim phách toại luân một.
    Đế đông nhập Tử Vi,
    Đại minh di triêu huy.
    Phù vân cách lưỡng diệu,
    Vạn tượng hôn âm phi.
    Tiêu tiêu Trường Môn cung,
    Tích thị kim dĩ phi.
    Quế đố hoa bất thực,
    Thiên sương hạ nghiêm uy.
    Trầm thán chung vĩnh tịch,
    Cảm ngã di triêm y.
    Dịch nghĩa:

    Cổ phong - bài 2


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thiềm thừ[1] mờ Thái Thanh,[2]
    Dao Đài[3] khuyết gương trăng.
    Giữa trời vơi vầng sáng,
    Chim lặn bao ánh vàng.
    Cung Tử Vi[4] mây chắn,
    Mặt trời đà quay ngang.
    Mây nổi trời, trăng cách,
    Trong tối, muôn vật chìm.
    Cung Trường Môn[5] vắng vẻ,
    So trước, nay đâu bằng.
    Quế sâu, hoa chẳng đậu,
    Uy vũ, giáng trời sương.
    Tiếng than dài đêm vắng,
    Áo ta, nước mắt đằm.


    Bản dịch Ngô Văn Phú


    1. Thiềm thừ: Con cóc trên mặt trăng (thần thoại).
    2 & 3 & 4Thái Thanh: tên những cung điện trên trời (thần thoại).
    5. Nơi Hán Vũ đế giam nàng A Kiều.

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 3:51 pm

    Cổ Phong - Kỳ 3

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其三

    秦皇掃六合,
    虎視何雄哉。
    揮劍決浮雲,
    諸侯盡西來。
    明斷自天啟,
    大略駕群才。
    收兵鑄金人,
    函谷正東開。
    銘功會稽嶺,
    騁望琅琊臺。
    刑徒七十萬,
    起土驪山隈。
    尚采不死葯,
    茫然使心哀。
    連弩射海魚,
    長鯨正崔嵬。
    額鼻象五岳,
    揚波噴雲雷。
    鬈鬣蔽青天,
    何由睹蓬萊。
    徐市載秦女,
    樓船幾時迴。
    但見三泉下,
    金棺葬寒灰。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 3

    Tần hoàng tảo lục hiệp,
    Hổ thị hà hùng tai.
    Huy kiếm quyết phù vân,
    Chư hầu tận tây lai.
    Minh đoạn tự thiên khởi,
    Đại lược giá quần tài.
    Thu binh chú kim nhân,
    Hàm Cốc chính đông khai.
    Minh công hội Kê Lĩnh,
    Sính vọng Lang Nha đài.
    Hình đồ thất thập vạn,
    Khởi thổ ly sơn ôi.
    Thượng thái bất tử dược,
    Mang nhiên sử tâm ai.
    Liên nỗ xạ hải ngư,
    Trường kình chính thôi ngôi.
    Ngạch tỵ tượng Ngũ Nhạc,
    Dương ba phún vân lôi.
    Quyền liệp tế thanh thiên,
    Hà do đổ Bồng Lai.
    Từ thị tải Tần nữ,
    Lâu thuyền kỷ thì hồi.
    Đán kiến Cam Tuyền hạ,
    Kim quan táng hàn hôi.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 3


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 3

    Vua Tần dẹp sáu nước,
    Hổ mạnh đã nhe nanh.
    Vung kiếm lên trời xanh,
    Chư hầu từ tây tới.
    Tự khoe nhận mệnh trời,
    Mưu lớn ngăn người tài.
    Thu quân, người vàng đúc,
    Hàm Cốc tiến sang đông.
    Ghi công ở Kê Lĩnh,
    Đài Lang Nha ngửa trông.
    Đầy người bảy mươi vạn,
    Dấy nghiệp vùng Lệ Sơn.
    Thuốc trường sinh lăm hái,
    Tự chuốc thêm phiền lòng.
    Nỏ quý bắn cá biển,
    Cá kình thân to đùng.
    Trán mũi cao Ngũ Nhạc,
    Mây sấm tung sóng phun.
    Vây, râu trùm trời biếc,
    Bồng Lai còn tìm lùng.
    Thành Từ chở gái đẹp,
    Thuyền lâu quay lại không?
    Luống thấy dưới Cam Tuyền,
    Xăng vàng vùi tro lạnh.


    Bản dịch Ngô Văn Phú


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:00 pm

    Cổ Phong - Kỳ 4

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其四

    鳳飛九千仞。
    五章備彩珍。
    銜書且虛歸。
    空入周與秦。
    橫絕歷四海。
    所居未得鄰。
    吾營紫河車。
    千載落風塵。
    藥物秘海岳。
    採鉛青溪濱。
    時登大樓山。
    舉首望仙真。
    羽駕滅去影。
    飆車絕回輪。
    尚恐丹液遲。
    志願不及申。
    徒霜鏡中發。
    羞彼鶴上人。
    桃李何處開。
    此花非我春。
    唯應清都境。
    長與韓眾親。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 4

    Phượng phi cửu thiên nhận,
    Ngũ chương bị thải trân.
    Hàm thư thả hư quy,
    Không nhập chu dữ Tần.
    Hoành tuyệt lịch tứ hải
    Sở cư vị đắc lân
    Ngô doanh tử hà xa
    Thiên tái lạc phong trần.
    Dược vật bí hải nhạc,
    Thải duyên thanh khê tân
    Thì đăng đại lâu san
    Cử thủ vọng tiên chân
    Vũ giá diệt khứ ảnh
    Tiêu xa tuyệt hồi luân
    Thượng khủng đan dịch trì
    Chí nguyện bất cập thân.
    Đồ sương kính trung phát,
    Tu bỉ hạc thượng nhân
    Đào lí hà xử khai
    Thử hoa phi ngã xuân
    Duy ứng thanh đô cảnh,
    Trường dữ hàn chúng thân.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 4


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 4

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:08 pm

    Cổ Phong - Kỳ 5

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其五

    太白何蒼蒼。
    星辰上森列。
    去天三百里。
    邈爾與世絕。
    中有綠發翁。
    披雲臥松雪。
    不笑亦不語。
    冥棲在巖穴。
    我來逢真人。
    長跪問寶訣。
    粲然啟玉齒。
    授以煉藥說。
    銘骨傳其語。
    竦身已電滅。
    仰望不可及。
    蒼然五情熱。
    吾將營丹砂。
    永與世人別
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 5

    Thái bạch hà thương thương
    Tinh thần thượng sâm liệt
    Khứ thiên tam bách lí
    Mạc nhĩ dữ thế tuyệt
    Trung hữu lục phát ông
    Phi vân ngọa tùng tuyết
    Bất tiếu diệc bất ngữ
    Minh tê tại nham huyệt
    Ngã lai phùng chân nhân
    Trường quỵ vấn bảo quyết
    Xán nhiên khải ngọc xỉ
    Thụ dĩ luyện dược thuyết
    Minh cốt truyện kì ngữ
    Tủng thân dĩ điện diệt
    Ngưỡng vọng bất khả cập
    Thương nhiên ngũ tình nhiệt
    Ngô tương doanh đan sa
    Vĩnh dữ thế nhân biệt.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 5


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 5

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:17 pm

    Cổ Phong - Kỳ 6

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其六

    代馬不思越。
    越禽不戀燕。
    情性有所習。
    土風固其然。
    昔別雁門關。
    今戍龍庭前。
    驚沙亂海日。
    飛雪迷胡天。
    蟣虱生虎鶡。
    心魂逐旌旃。
    苦戰功不賞。
    忠誠難可宣。
    誰憐李飛將。
    白首沒三邊。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 6

    Đại mã bất tư việt
    Việt cầm bất luyến yến
    Tình tính hữu sở tập
    Thổ phong cố kì nhiên.
    Tích biệt nhạn môn quan
    Kim thú long đình tiền
    Kinh sa loạn hải nhật
    Phi tuyết mê hồ thiên.
    Kỉ sắt sanh hổ hạt
    Tâm hồn trục tinh chiên
    Khổ chiến công bất thưởng
    Trung thành nan khả tuyên.
    Thùy liên lí phi tương
    Bạch thủ một tam biên.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 6


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 6

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:26 pm

    Cổ Phong - Kỳ 7

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其七

    五鶴西北來。
    飛飛凌太清。
    仙人綠雲上。
    自道安期名。
    兩兩白玉童。
    雙吹紫鸞笙。
    去影忽不見。
    迴風送天聲。
    我欲一問之。
    飄然若流星。
    願餐金光草。
    壽與天齊傾
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 7

    Ngũ hạc tây bắc lai
    Phi phi lăng Thái thanh
    Tiên nhân lục vân thượng
    Tự đạo an kì danh
    Lưỡng lưỡng bạch ngọc đồng
    Song xuy tử loan sanh
    Khứ ảnh hốt bất kiến
    Hồi phong tống thiên thanh
    Ngã dục nhất vấn chi
    Phiêu nhiên nhược lưu tinh
    Nguyện xan kim quang thảo
    Thọ dữ thiên tề khuynh.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 7


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 7

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:31 pm

    Cổ Phong - Kỳ 8

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其八

    咸陽二三月。
    宮柳黃金枝。
    綠幘誰家子。
    賣珠輕薄兒。
    日暮醉酒歸。
    白馬驕且馳。
    意氣人所仰。
    冶游方及時。
    子雲不曉事。
    晚獻長楊辭。
    賦達身已老。
    草玄鬢若絲。
    投閣良可嘆。
    但為此輩嗤。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 8

    Hàm Dương nhị tam nguyệt,
    Cung liễu hoàng kim chi.
    Lục trách thùy gia tử,
    Mại châu khinh bạc nhi.
    Nhật mộ túy tửu quy
    Bạch mã kiêu thả trì
    Ý khí nhân sở ngưỡng
    Dã du phương cập thì.
    Tử vân bất hiểu sự
    Vãn hiến trường dương từ
    Phú đạt thân dĩ lão,
    Thảo huyền tấn nhược ti
    Đầu các lương khả thán,
    Đãn vi thử bối xuy.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 8


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 8

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:39 pm

    Cổ Phong - Kỳ 9

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其九

    莊周夢胡蝶。
    胡蝶為莊周。
    一體更變易。
    萬事良悠悠。
    乃知蓬萊水。
    復作清淺流。
    青門種瓜人。
    舊日東陵侯。
    富貴故如此
    營營何所求。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 9

    Trang Chu mộng hồ điệp,
    Hồ điệp vi Trang Chu.
    Nhất thể canh biến dịch,
    Vạn sự lương du du.
    Nãi tri bồng lai thủy,
    Phục tác thanh thiển lưu.
    Thanh môn chủng qua nhân
    Cựu nhật đông lăng hầu
    Phú quý cố như thử,
    Doanh doanh hà sở cầu.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 9


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 9

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:47 pm

    Cổ Phong - Kỳ 10

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十

    齊有倜儻生。
    魯連特高妙。
    明月出海底。
    一朝開光曜。
    卻秦振英聲。
    後世仰末照。
    意輕千金贈。
    顧向平原笑。
    吾亦澹蕩人。
    拂衣可同調。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 10

    Tề hữu thích thảng sanh
    Lỗ liên đặc cao diệu
    Minh nguyệt xuất hải để
    Nhất triêu khai quang diệu
    Khước Tần chấn anh thanh
    Hậu thế ngưỡng mạt chiếu
    Ý khinh thiên kim tặng
    Cố hướng bình nguyên tiếu
    Ngô diệc đạm đãng nhân
    Phất y khả đồng điều.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 10


    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 10

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Fri Dec 09, 2011 4:55 pm

    Cổ Phong - Kỳ 11

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十一

    黃河走東溟。
    白日落西海。
    逝川與流光。
    飄忽不相待。
    春容舍我去。
    秋發已衰改。
    人生非寒松。
    年貌豈長在。
    吾當乘雲螭。
    吸景駐光彩。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 11

    Hoàng Hà tẩu Đông minh,
    Bạch nhật lạc Tây hải.
    Thệ xuyên dữ lưu quang
    Phiêu hốt bất tương đãi
    Xuân dung xả ngã khứ
    Thu phát dĩ suy cải
    Nhân sinh phi hàn tùng
    Niên mạo khởi trường tại
    Ngô đương thừa vân ly
    Hấp ảnh trụ quang thái.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 11

    Dòng nước sông Hoàng Hà chạy xuống biển Đông,
    Vầng mặt trời trắng rụng xuống biển Tây,
    Dòng nước và ánh sáng
    Vùn vụt đi không chờ ai cả.
    Cái vẻ xuân tươi đã bỏ ta đi mất.
    Tóc về thu đã biến đổi màu xưa.
    Đời người ta nào phải đâu cây thông
    Chịu lạnh sao có thể còn mãi được ?
    Ta nên cưỡi rống lên trời,
    Hút lấy ánh sáng của Mặt trời, Mặt trăng để giữ lấy cái tươi trẻ lâu dài.


    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 11

    Sông Hoàng cuồn cuộn về Đông
    Mặt trời trắng nọ sa vùng biển Tây
    Nước trôi, bóng chạy như bay
    Vụt đi không một phút giây đợi người
    Vẻ xuân lìa bỏ ta rồi
    Tóc thu này đã phôi pha biến màu
    Thân người phải cội tùng đâu
    Dung nhan sao được bền lâu chẳng già
    Xuân tươi giữ được chăng là
    Cưỡi rồng hút ánh quang hoa đôi vầng.


    Bản dịch Trúc Khê


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 9:35 am

    Cổ Phong - Kỳ 12

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十二

    松柏本孤直。
    難為桃李顏。
    昭昭嚴子陵。
    垂釣滄波間。
    身將客星隱。
    心與浮雲閑。
    長揖萬乘君。
    還歸富春山。
    清風洒六合。
    邈然不可攀。
    使我長嘆息。
    冥棲岩石間。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 12

    Tùng bách bổn cô trực, 
    Nan vi đào lí nhan. 
    Chiêu chiêu Nghiêm tử lăng 
    Thùy điếu thương ba gian 
    Thân tương khách tinh ẩn 
    Tâm dữ phù vân nhàn 
    Trường ấp vạn thừa quân 
    Hoàn quy phú xuân san 
    Thanh phong sái lục hợp, 
    Mạc nhiên bất khả phàn 
    Sử ngã trường thán tức 
    Minh tê nham thạch gian.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 12

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 12

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 9:43 am

    Cổ Phong - Kỳ 13

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十三

    君平既棄世。
    世亦棄君平。
    觀變窮太易。
    探元化群生。
    寂寞綴道論。
    空帘閉幽情。
    騶虞不虛來。
    鸑鷟有時鳴。
    安知天漢上。
    白日懸高名。
    海客去已久。
    誰人測沈冥。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 13

    Quân bình kí khí thế, 
    Thế diệc khí quân bình 
    Quan biến cùng thái dịch, 
    Tham nguyên hóa quần sanh
    Tịch mịch chuế đạo luận 
    Không liêm bế u tình
    Sô ngu bất hư lai
    Nhạc trạc hữu thì minh. 
    An tri thiên Hán thượng 
    Bạch nhật huyền cao danh 
    Hải khách khứ dĩ cửu, 
    Thùy nhân trắc trầm minh.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 13

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 13

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 9:52 am

    Cổ Phong - Kỳ 14

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十四

    胡關饒風沙。
    蕭索竟終古。
    木落秋草黃。
    登高望戎虜。
    荒城空大漠。
    邊邑無遺堵。
    白骨橫千霜。
    嵯峨蔽榛莽。
    借問誰凌虐。
    天驕毒威武。
    赫怒我聖皇。
    勞師事鼙鼓。
    陽和變殺氣。
    發卒騷中土。
    三十六萬人。
    哀哀淚如雨。
    且悲就行役。
    安得營農圃。
    不見征戍兒。
    豈知關山苦。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 14

    Hồ quan nhiêu phong sa 
    Tiêu tác cánh chung cổ 
    Mộc lạc thu thảo hoàng
    Đăng cao vọng Nhung lỗ 
    Hoang thành không đại mạc 
    Biên ấp vô di đổ 
    Bạch cốt hoành thiên sương 
    Tha nga tế trăn mãng
    Tá vấn thùy lăng ngược
    Thiên kiêu độc uy vũ
    Hách nộ ngã thánh hoàng。 
    Lao sư sự bề cổ
    Dương hòa biến sát khí 
    Phát tốt tao trung thổ
    Tam thập lục vạn nhân
    Ai ai lệ như vũ
    Thả bi tựu hành dịch
    An đắc doanh nông phố
    Bất kiến chinh thú nhi
    Khởi tri quan san khổ.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 14

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 14

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 10:02 am

    Cổ Phong - Kỳ 15

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十五

    燕昭延郭隗,
    遂筑黃金臺。
    劇辛方趙至,
    鄒衍復齊來。
    奈何青雲士,
    棄我如塵埃。
    珠玉買歌笑,
    糟糠養賢才。
    方知黃鶴舉,
    千里獨徘徊。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 15

    Yên Chiêu diên Quách Ngỗi,
    Toại trúc hoàng kim đài.
    Kịch Tân phương Triệu chí,
    Trâu Diễn phục Tề lai.
    Nại hà thanh vân sĩ,
    Khí ngã như trần ai.
    Châu ngọc mãi ca tiếu,
    Tao khang dưỡng hiền tài.
    Phương tri hoàng hạc cử,
    Thiên lý độc bồi hồi.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 15

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 15

    Yên Chiêu vời Quách Ngỗi
    Sai người đắp đền vàng
    Kịch Tân từ Triệu đến
    Trâu Diễn ở Tề sang
    Cớ sao kẻ cao sĩ
    Vứt bỏ như rác đường
    Châu ngọc mua cười hát
    Tấm cám nuôi hiền lương
    Hạc vàng khi cất cánh
    Bay bổng khắp muôn phương


    Người dịch: Nguyễn Khắc Phi

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 10:10 am

    Cổ Phong - Kỳ 16

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十六

    寶劍雙蛟龍。
    雪花照芙蓉。
    精光射天地。
    雷騰不可沖。
    一去別金匣。
    飛沉失相從。
    風胡滅已久。
    所以潛其鋒。
    吳水深萬丈。
    楚山邈千重。
    雌雄終不隔。
    神物會當逢
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 16

    Bảo kiếm song giao long 
    Tuyết hoa chiếu phù dung。 
    Tinh quang xạ thiên địa 
    Lôi đằng bất khả trùng
    Nhất khứ biệt kim hạp 
    Phi trầm thất tương tòng (tùng)
    Phong hồ diệt dĩ cửu
    Sở dĩ tiềm kì phong
    Ngô thủy thâm vạn trượng
    Sở san mạc thiên trọng
    Thư hùng chung bất cách
    Thần vật hội đương phùng.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 16

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 16

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Sat Dec 10, 2011 10:22 am

    Cổ Phong - Kỳ 17

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十七

    金華牧羊兒。
    乃是紫煙客。
    我願從之游。
    未去發已白。
    不知繁華子。
    擾擾何所迫。
    崑山採瓊蕊。
    可以煉精魄。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 17

    Kim hoa mục dương nhi 
    Nãi thị tử Yên khách 
    Ngã nguyện tòng chi du 
    Vị khứ phát dĩ bạch
    Bất tri phồn hoa tử 
    Nhiễu nhiễu hà sở bách 
    Côn san thải quỳnh nhuy 
    Khả dĩ luyện tinh phách.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 17

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 17

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Vân Nhi
    Đại Ca
    Đại Ca
    avatar

    Tổng số bài gửi : 5652
    Points : 5970
    Thanks : 34
    Join date : 04/11/2011
    Đến từ : phan thiết

    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    Mon Dec 12, 2011 8:58 am

    Cổ Phong - Kỳ 18

    Nguyên tác chữ Hán:

    古風 其十八

    天津三月時。
    千門桃與李。
    朝為斷腸花。
    暮逐東流水。
    前水復後水。
    古今相續流。
    新人非舊人。
    年年橋上游。
    雞鳴海色動。
    謁帝羅公侯。
    月落西上陽。
    余輝半城樓。
    衣冠照雲日。
    朝下散皇州。
    鞍馬如飛龍。
    黃金絡馬頭。
    行人皆辟易。
    志氣橫嵩丘。
    入門上高堂。
    列鼎錯珍羞。
    香風引趙舞。
    清管隨齊謳。
    七十紫鴛鴦。
    雙雙戲庭幽。
    行樂爭晝夜。
    自言度千秋。
    功成身不退。
    自古多愆尤。
    黃犬空嘆息。
    綠珠成舋讎。
    何如鴟夷子。
    散髮棹扁舟。
    Phiên âm:

    Cổ phong - Kỳ 18

    Thiên tân tam nguyệt thì
    Thiên môn đào dữ lí
    Triêu vi đoạn tràng hoa
    Mộ trục đông lưu thủy
    Tiền thủy phục hậu thủy
    Cổ kim tương tục lưu
    Tân nhân phi cựu nhân
    Niên niên kiều thượng du
    Kê minh hải sắc động
    Yết đế la công hầu
    Nguyệt lạc tây thượng dương
    Dư huy bán thành lâu
    Y quan chiếu vân nhật
    Triêu hạ tán hoàng châu
    An mã như phi long
    Hoàng kim lạc mã đầu
    Hành nhân giai tích dịch
    Chí khí hoành tung khâu
    Nhập môn thượng cao đường
    Liệt đỉnh thác trân tu
    Hương phong dẫn Triệu vũ
    Thanh quản tùy Tề âu
    Thất thập tử uyên ương
    Song song hí đình u
    Hành nhạc tranh trú dạ
    Tự ngôn độ thiên thu
    Công thành thân bất thối
    Tự cổ đa khiên vưu
    Hoàng khuyển không thán tức
    Lục châu thành (?) thù
    Hà như si di tử
    Tán phát trạo biển Chu.
    Dịch nghĩa:

    Thơ Cổ phong - Bài 18

    Ai có thời gian xin chuyển nghĩa hoặc dịch thơ giùm. Đa tạ!

    Các bản dịch thơ:

    Thơ Cổ phong - Bài 18

    Bổ sung sau!


    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên
    Sponsored content




    Bài gửiTiêu đề: Re: Lý Bạch    

    Về Đầu Trang Go down
     
    Lý Bạch
    Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 9 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
     :: Thơ Nước Ngoài :: Thơ Đường Trung Quốc-
    Chuyển đến