Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
Trọng thường quang nguyễn Liên dũng bính nhất Huynh miền Phong

Share | 
 

 Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)

Go down 
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 8:39 am

Phạm Đan Phượng
(1777-1813)
Vài nét về tác giả:

Phạm Đan Phượng còn gọi Phạm Thái (範泰), Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); là một danh sĩ trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Dậu (26 tháng 2 năm 1777)[1] tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội).

Ông là con Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng, đã khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại.

Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với người cùng chí hướng. Ông gặp Phổ tỉnh thiền sư (Trương Quang Ngọc), Nguyễn Đoàn rồi cùng nhau chống Tây Sơn, nhưng không thành công.

Bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư.

Đi tu được mấy năm, thì bạn ông là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, thuộc huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình, đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón ông lên đấy, tính chuyện phù Lê.

Một năm sau, khi ông trở về Kinh Bắc thăm nhà, thì được tin Trương Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết, và đang được đem về chôn cất ở quê nhà. Phạm Thái liền đến làng Thanh Nê điếu tang bạn. Ở đây, ông đã giúp nàng Long Cơ (vợ Thanh Xuyên hầu) soạn Văn triệu linh gọi hồn chồng, làm Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu và viết Lời đề nhà Nghĩa lư để giải bày nỗi niềm thương nhớ bạn sâu sắc của ông.

Vì yêu nết, trọng tài, Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ (cha Thanh Xuyên hầu) đã mời Phạm Thái ở lại để làm gia sư dạy trẻ. Nhờ vậy, Phạm Thái quen được em gái bạn là Trương Quỳnh Như. Họ cùng xướng họa thơ văn, rồi thầm yêu nhau. Cảm phục tài thơ của Phạm Thái, Kiến Xương hầu định gả con cho ông, nhưng người mẹ không bằng lòng, vì muốn gả cho một người khác.

Bị ép gả, Quỳnh Như tự tử, còn Phạm Thái cũng vì quá đau xót, đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt. Quảng đời cuối của ông là những trận rượu say li bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế.

Phạm Thái mắc bệnh rồi mất ở Thanh Hóa năm Quý Dậu (1813), lúc 36 tuổi.

Tác phẩm:
  • Chiến tụng tay hồ phú (Đánh lại bài Phú ca tụng hồ Tây):
    Đây là một bài phú họa lại 85 vận của bài Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng.
  • Sơ kính tân trang (Câu chuyện mới về lược và gương):
    Sáng tác năm Giáp Tý (1804), tức năm Phạm Thái 21 tuổi. Đây là một truyện thơ Nôm gồm 1484 câu [8], chủ yếu là thơ lục bát, có xen một ít bài thơ Đường luật, thơ cổ phong và thơ song thất lục bát. Nội dung truyện kể lại một câu chuyện tình duyên lãng mạn và trắc trở, hư cấu trên cơ sở mối tình cay đắng của chính tác giả.
  • Văn tế Trương Quỳnh Như
  • Thơ họa 12 bài Trương Quỳnh Như.
    Ngoài ra, ông còn có một bài Văn triệu linh theo thể song thất lục bát, Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu theo thể lục bát và một số bài thơ Nôm ngẩu cảm như: Tự trào, Tự thuật, Đề tranh mỹ nữ, Đề chùa Tiêu Sơn, Họa thơ Thanh Xuyên hầu, Đề nhà Nghĩa lư, Đề núi Con Voi, v.v…

Nguồn: Trích http://vi.wikipedia.org

1. Theo Việt Thi của Trần Trọng Kim và Thi Văn Văn Bình Chú của Ngô Tất Tố năm sinh và mất của ông: 1757 - 1793. Nhưng trong Thi Văn Bình Chú lại ghi ông sinh năm Đinh Dậu xét với lịch thì năm Đinh Dậu là Năm 1777.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 8:58 am

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 9:10 am

Chùm thơ thể Yết hậu


Người hay đánh bạc

Ác lặn, xăm xăm tới,
Gà kêu, lẻn lẻn về.
Quan ngắn hết, quan dài hết,
Ghê!


Người say rượu

Một năm mười hai tháng
Một tháng ba mươi ngày
Hũ lớn cạn, hũ bé cạn
Say!


Cha con phá nhà, Mẹ can

Trông lên nhà đổ đoạn,
Trông xuống vách tan rồi.
Cha thế ấy, con thế ấy
Thôi!


Lươn ngắn chê Chạch dài

Cứ nghĩ mình rằng ngắn,
Ai ngờ cũng dài khươn.
Thế lại còn chê chạch,
Lươn!


Anh nghiện rượu

Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Thác về âm phủ cắp kè kè.
Diêm vương phán hỏi mang gì đó,
Be!


Phạm Đan Phượng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Vịnh 12 Canh   Fri Mar 23, 2012 9:20 am

Giờ Tuất[1]


Giờ Tuất canh sang được mấy phần,

Càng thêm ngao ngán bận lòng xuân.

Nguyệt mờ, trướng ngọc, khôn êm giấc,

Gió lạnh, rẻm hoa, ngại lẻ chân.

Nghĩ nỗi tình nay, khôn kẻ biết,

Tưởng điều tâm sự, mấy người thân?

Bóng dần dầu tỏ dầu không tỏ,

Tài tử giai nhân vẫn nợ nần.


Phạm Đan Phượng

1. Để đáp lại những bài thơ của Phạm tặng, Quỳnh Như cũng trao cho Phạm tập thơ nàng đã viết trong những giờ một mình suy nghĩ, đặt tên là: Thơ Vịnh 12 giờ, nhưng được 10 bài thì ngưng. Phạm làm tiếp.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 10:53 am

Giờ Hợi[1]


Hợi sang, xanh biếc ngọn đèn tàn

Gượng đốt, lò vàng ngại với hương.

Làn khói chập chờn vương nỗi nhớ:

Cõi lòng thảng thốt nẫu đêm trường.

Canh gà eo óc, khua bên trướng,

Hồi cuốc băn khoăn, giục dưới tường

Mấy kẻ chung tình, ai đã nhấp

Hay còn trằn trọc nỗi người thương!


Phạm Đan Phượng

1. Để đáp lại những bài thơ của Phạm tặng, Quỳnh Như cũng trao cho Phạm tập thơ nàng đã viết trong những giờ một mình suy nghĩ, đặt tên là: Thơ Vịnh 12 giờ, nhưng được 10 bài thì ngưng. Phạm làm tiếp.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 10:58 am

Gửi cô Trương Quỳnh Như, bài 1


Từ chốn thềm cung trộm dấu hương,

Dễ xui tao khách mối sầu vương.

Gió thông réo rắt rong đèn oán,

Trăng hạnh chênh vênh dạng bóng dương.

Nếu đã tình duyên dun dủi phận,

Thì xin ân ái vẹn nên đường.

Phong lưu đôi lứa đà ai dễ ?

Bụi tục chi cho bợn lóa gương.


Phạm Đan Phượng


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 11:00 am

Gửi cô Trương Quỳnh Như, bài 2


Dẩy hoa, đun lá, bởi tay trời,

Nghĩ lại tình duyên luống ngậm ngùi.

Bắc yến nam hồng, thư mấy bức,

Đông đào, tây liễu, khách đôi nơi.

Lửa ân, dập mãi sao không tắt,

Biển ái, khơi hoài vẫn chẳng vơi.

Đèn nguyệt trong xanh, mây chẳng bợn,

Xin soi xét đến tấm lòng ai...


Phạm Đan Phượng


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 11:06 am

Núi con Voi


Tạo hoá khen thay khéo vẽ vời,

Dạm nên[1] một rặng núi Con Voi.

Tới chầu điện ngắm quỳ khom gối,

Nằm ngắm doành thanh[2] vắt vẻo vòi.

Cây biếc dưới trên che tán rợp,

Mây vàng cao thấp thắng bành[3] ngồi.

Cưa mưa búa tuyết dầu dầu vậy,

Xương đá lòng rêu vẫn hẳn hoi.


Phạm Đan Phượng


1. Dạm nên: dựng nên, làm nên.
2. Doành thanh: dòng nước trong.
3. Thắng bành: Ngồi trên mình voi.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 1:45 pm

Tự trào


Có ai muốn biết tuổi tên gì,

Vừa chẳn ba mươi, gọi chú Lỳ.

Năm bảy bài thơ gầy gối hạc,

Một vài đứa trẻ béo răng nghê[1]

Trăng vờn sơn thủy màu nhem nhuốc,

Bầu giốc kiền khôn rượu bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết chôn đi.


Phạm Đan Phượng


1. Răng nghê: Nghê là con thú người ta hay đắp đầu cột vôi hoặc đúc trên nắp đỉnh đồng. Răng nghê tức là răng của con vật ấy.
Câu thứ 3 & 4 ý nói ngồi rung đùi ngâm thơ hai đùi gầy như gối hạc, mấy đứa trẻ hầu hạ gãy nhe hàm răng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 1:50 pm

Tự thuật [1]


Năm bẩy năm nay những loạn ly,

Cảm thương thân phận nhỡ qua thì.

Ba mươi tuổi lẻ là bao tá,

Năm sáu đời vua thật chóng ghê!

Một tập thơ sầu ngâm đã chán,

Vài be rượu nhạt uống ra gì.

Thôi về tiên phật cho xong nợ,

Cái kiếp trần gian sống mãi chi.



Phạm Đan Phượng
Nguồn: Việt Thi -
Trần Trọng Kim-


1. Bài này nhiều trang chép khác nhau quá. Ở đây chép lại từ sách Việt Thi của Trần Trọng Kim.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:00 pm

Sơn Âm cổ tự [1]
--- Bài họa ---


Đã khắp sơn lâm, khắp hải hà,

Khen đây cảnh trí khéo thay là

Gió từ hây hẩy đưa buồng gấm

Trăng tuệ làu làu rạng tán hoa.

Tiêu điểm tiếng kinh xen trống giục,

Mõ giong giọng kệ lẫn chuông hoà.

Nào ai là Phật, nào ai tục?

Có biết tiên chăng?chẳng, gọi ra!



Phạm Đan Phượng

1. Bài này Phạm họa lại bài Sơn Âm cổ tự của Trương Quỳnh Như
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:17 pm

Chiến "Tụng Tây Hồ phú"


Bài phú này được làm vào năm 1800. Phạm Thái đến chơi nhà bạn ở kinh đô, nghe đọc bài "Tụng Tây hồ phú", hỏi ra là do Chương Lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng sáng tác. Lượng vốn là tôi nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, viết bài "Tụng Tây hồ phú" để ca ngợi vua Quang Trung. Phạm nhân đó hoạ lại bằng bài này để bày tỏ lòng trung của mình với nhà Lê.

Ngán nhẽ tụng Tây hồ;
Ngán nhẽ tụng Tây hồ!
Vốn trước đã lở hầm toang hoác vũng;
Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò?
Người rằng nơi Long tử khoét làm vũng, bởi được bùa quái chú Huyền trao, vậy cáo trắng hách hơi vào đại trạch,
Kẻ bảo ấy Cao vương đào chặn mạch, vì mảng tiếng chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến trung đô.
Bốn mặt chứa châu cung, kim điện;
Một doành thâu băng chử, ngọc hồ.
Bãi Dâm Đàm[1] gió thét trận Trưng Vương, khi chướng vụ khua ran đầu lính ngất;
Gò Lãng Bạc[2] tuyết tan đồn Bắc tướng, đàn lộ âu tắm lẩn bóng trăng nhò.
Có thu nguyệt mới nước trời in sắc;
Chửa xuân thiên sao hoa cỏ theo mùa?
Cát xô lên mỏ phượng lù sù, hình thu nữ thẹn lên lầu nguyệt kính;
Nước chảy xuống hàm rồng róc rách, dáng xâu lang rót lại chén đồ tô.
Toà thạch tháp đã tan bình xá lị;
Đống thổ đôi đà nát dấu linh phù.
Lưới Mục lang âu nát mất cả giềng, gian chẳng bắt, nữa hoài công bắt hổ;
Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà cố sức giam rùa.
Thiên niên nếu được lâu, sao quán nát;
Vạn bảo nào có báu, để ghềnh nhô.
Ngắm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh xe vóc, chị mũ vàng, đảnh đảnh thế, ở làm trò Phạm Vũ;
Xem đồng quan dở dang chiều lý thú, đứa dải đào, thằng khăn thắm, láo lức thay, chạy đến quấy Nghi Vu.
Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu;
Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.
Nhà tranh đua đều khấn bụt cầu ma, đường Quan thánh khéo lăng nhăng lít nhít;
Chợ xao xác những buôn hùm bán quỷ, mái Trương Lương nghe lếu láo y o.
Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt;
Sóng cánh hàn xô sườn đá ồ ồ.
Bãi Đuôi nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hồn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái chạy ra cho chóng;
Hồ cổ ngựa thối hoăng mùi đại tiểu, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân tranh nát đã như vò.
Yên công tử ắt đà long cổ nối;
Mộc vũ thần âu hẳn gẫy ta co.
Thoi oanh dầu dệt liễu nên tơ, cửa nam khó xỏ kim thêu túi;
Đèn đóm dẫu soi sen thấy lửa, quân Tây khôn hút điếu hun lò.
Quyên oán hạ thiên đà khắc khoải;
Ve hờn nam địa mới rì rù.
Chùa Châu long hương cúng khét mù, nghe mõ cá đã rúc vang cầu Trúc;
Hồ Bạch mã sen bay mất cả, làm giấy hoa đem bán dải sông Tô.
Ngắm cảnh trí cũng mảng vui mấy thú;
Xem phong quang nào có vẻ một khu.
Cái cô đình cho gió lọt hoa kề, lơ thơ cảnh đượm màu sương, đường tạo hoá đã in chân thuý bích;
Con tiểu đĩnh đã mây che nước chở, lóng lánh sóng in sắc nguyệt, ngỡ khuôn trời còn đúc bạc đào châu.
Góp cảnh vật đủ tháng ngày cũng hó;
Lấy cỏ hoa làm bầu bạn mà no.
Cành dưới trên sương hãy nhuộm màu xanh, ca ngư tử đã xua tan vầng ngọc thỏ;
Cây ngang dọch tuyết vừa đông bãi bạc, địch mụch nhi đã thổi sáng bóng kim ô.
Truyện Tần Hán kẻ kia cười lả lướt;
Giấc Hi Hoàng người nọ ngáy phi pho.
Cuộc doanh thâu bàn bạc bắc nam chơi, khúc lưu thủy gảy vài cung réo rắt;
thơ thanh nhã đề ngâm phong nguyệt mới, rượu càn khôn rót mấy chén thơm tho.
Vuông đất tròn trời, thu về chặt túi;
Ngang sông dọc núi, chở lại đầy kho.
Hóng thanh phong nằm khểnh tót Tam sơn, phơi bụng trí để đãi đoàn ong kiến;
Chở minh nguyệt tếch về ngay Nhị thủy, gương mắt thần mà ngắm thế trai cò.
Bấy nhiêu đã lấy chi làm thắng khải;
Còn những đâu mà dám nói nhàn ngu?
Cao minh chi mà biết phép quan ngư, nào có phải Ba La cổ sắt;[3]
Tài cán ấy khó làm mưu dụ tượng, dễ mà như Hư Tĩnh thư phù.[4]
Đường ngoạn thưởng lờ mờ móng ngựa;
Cung du quan mù mịt bòng dù.
Đồ ăn thức mặc, ngán nỗi phố phường, xem phong vị khó như đời đại hữu[5];
Kẻ ám người gian, gớm thay quân tướng, ngẫm minh lương[6] nào phải đạo trung phu.
Chữ lối cua bò, lằng nhằng thư thảo;
Thơ ròng chó chạy, láo nháo xướng thù.
Nhạc tiêu thiều còn lõm bõm khúc xưa, tiếng thanh điểu gọi người đi kẻ lại;
Sắc chương phủ hãy lờ mờ dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.
Con túc vụ[7] mờ mờ về lĩnh quạnh;
Cái cô hồng[8] thăm thẳm tếch sương mù.
Chốn thi đình ve giục mới hè sang bốn vách in sầu thơ bạch nhạn[9];
Mái cầm viện dế kêu liền thu đến, vài gian kết thảm lưới thanh thù.
Đàn dế rúc sương, cung ánh ỏi;
Lửa huỳnh đưa gió, bóng tù mù.
Cát xô lên mặt nước trắng phau phau, nghĩ ấy thầy Tân[10] đem hạc múa;
Trăng lạnh xuống đáy hồ trong vằng vặc, tưởng rằng ông Lý[11] cưỡi kình mò.
Khóc khí vận tối căm con đỗ vũ;
Kêu cơ hoang[12] sớm tủi cái hà mô.
Quyên thét lâu thì luống để hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng[13] phải căm lòng Bắc sĩ;
Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi, trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió, bởi Tây triều[14] mà ghét chí Đông phu[15].
Than với đất cả đoàn ong lũ kiến;
Thở cùng trời từ cái cốc đàn cò.
Thưởng nghiên trà[16] cho cá lội hạc bay, khi hứng vịnh nguyệt dòm quanh bóng quế;
Nhớ thuần lư[17] sẵn ngòi sâu nước rộng, buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.
Kẻ cao sĩ ắt nhiều nơi trực bút;
Đứa tiểu nhân âu lắm lúc hàm hồ.
Phường Khán sơn hoa kết võng vừa rồi, đoàn kỹ nữ bẻ bai hình đến phố;
Chợ Võng thị rượu nồng hương mới chín, lỹ tuý ông tất tưởi dáng sang đò.
Khói viễn thôn khi ngọn gió ra vào, trông thấp thoáng ngỡ nhà ma cửa lấp;
Trông cổ quán lúc tấm mây cuốn mở, thấy xa xa dường núi ngất cây rù.
Chim bay nhảy đầu non vì vụt;
Cá xuống lên mặt nước thập thò.
Cảnh vưa khi quân tướng những ta xưa, thú cỏ hoa thì ai cũng chiều chơi, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng dạ ấy phải biết cho người với;
Người đến buổi quan hà về kẻ khác, thù non sống nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng trong gió mát, mặt mũi nào mà vui với cảnh ru!
Quảy cả văn chương hòn đất lấp;
Chảy băng danh vọng khúc sông nhô.
Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não;
Thần hạn bạt[18] nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu[19].
Cơn binh lửa trải mấy tao dời đổi;
Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua.
Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên đạo cũng vui thay cảnh thú;
Cuộc Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù!
Đường vinh nhục nọ dòng nước chảy;
Áng lợi danh kìa đá lửa khua.
Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi, kẻ tráng sĩ làm thinh đi chẳng dứt;
Vạc quốc bảo khách còn dang cánh kéo, đứa nhâm nhân[20] gắng sức lại mà hò.
Du hồ dễ mấy ai Phạm Lãi[21];
Phù hải âu chẳng một Tử Do[22].
Cửa âm dương khép mở sớm khuya liền, cơ huyền diệu khó lường sinh với tử;
Xe nhật nguyệt dẩy dun xuôi ngược mãi, kiếp phù hư khôn tính hữu hay vô.
Vầng trăng nọ tròn rồi lại khuyết;
Bình nước kia đấy lắm có khi rò.
Nhớ khi thanh dạ tần trăng, sen thoang thoảng đưa phong trà ướp mộc[23];
Tưởng buổi đoan dương quạt gió, lửa bừng bừng đun ấm rượu ngâm bồ[24].
Thanh cung khi hạ tới nắng đương nồng, nhồi phấn phun hương, so thanh lãnh với đông kia chẳng kém;
Lãng uyển buổi thu tàn hoa chửa rã, thêu hồng kết lục, vi phân phương cùng xuân ấy không thua.
Thủa ngự du đưa đĩnh phượng thuyền rồng, thẻ thanh hồng[25] hoa cắm chặt áo tiên, thu được cả vương hầu khanh tướng;
Khi tứ yến bầy đàn loan quân phượng, khúc vũ nghê gió thổi lên cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu.
Nông nỗi ấy kể càng thêm thảm nhỉ;
Cơn cớ này ai hầu dễ biết cho.
Đến nay:
Tan tành phong cảnh;
Nát bét qui mô!
Cơn thảo muội những gặp điều biến cải;
Lúc phong trần khôn thấy hội đô du.
Nhận cố cung phai nhạt màu xưa, tới mộc thạch cũng đeo sầu tiêu xác;
Xem hồ thuỷ thẹn cùng sắc nước, đến cỏ hoa đều ê ủ phân phu[26].
Thấy địa trận lắm nơi xoay gió lốc;
Xem thiên văn đương lúc thẳng sao rua.
Thuở bát chuyên[27] độn lại thêm phiền, Canh Thân[28] ấy ắt còn bền tựa đá;
Quẻ lục hợp[29] bói ra cũng phải, Nhâm Tuất[30] kia âu hẳn nát như tro.
Vận hội ấy nghĩ cũng đà nên biến;
Công lao kia xem chứa chút nào bù.
Nếu ra tay thì núi lở sông reo, thề chí ấy để vững ngôi nhân thế;
Hễ chớp mắt hẳn trời xoay đất chuyển, quyết gan này đem lại đứng thiên khu[31].
Có trung nghĩa hẳn không cùng lưỡng lập;
Để tinh thần cho thấu đến cửu u[32].
Rửa quan hà sạch dấu tanh hôi, vạn vũ[33] được nhờ ca hữu tượng[34];
Quét thành thi hết loài gai góc, bốn phương đều đội đức vô ngu[35].
Bởi con Tạo có tơ gây lắm mối;
Vậy thợ Trời không thắm nhuộm nên ngù.
Kèn Thọ Xương[36] đưa khách bắc nam về, thổi vu ký vu quy hồ hi hí;
Văn Quảng Bá[37] viếng người khanh tướng chết, khó vô cô vô cố vi ô hô!
Kèn thổi thế dễ ai đua ngón được;
Văn khóc kia mấy kẻ đặt lời so.
Nghĩ thời cơ mà thêm cám cảnh thay, thử liếc mắt ngắm cùng con âu lộ[38];
Ngắm thế sự mới cùng ngao ngán nhẽ, sẽ rỉ tai bàn với lũ mục sô[39].
Rằng thiện ác vì ai dùi đứt lưới;
Hỏi thịnh suy nào kẻ đạp toang lò.
Vận hoang niên nào có ít tử hung, được vui thoả hẳn quên câu oán nhạn[40];
Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận[41], lúc no say đà gợi khúc ca phù[42].
Máy trời đất chẳng khác chi bàn rối;
Vòng cổ kim xem tựa giống đèn cù.
Chính sự này đừng nói với ta chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ[43];
Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh[44] dành bắn cái yêu hồ[45].
Gẫm nhân sự biết rằng cơ trị loạn;
Xem hồ quang đã không dấu thanh du.
Con lộc[46] kia nào có phép toàn đâu, ông ngồi mã thượng[47] hãy rình theo, còn quen thói nịnh tà mà chỉ lộc[48];
Khóm do nọ hẳn đến ngày thì cắt, kẻ muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do[49].
Đá khiết bạch khó mài mầu xiểm nịnh;
Nước thanh quang khôn lọt vết tham ô.
Quốc đã nguy mà tướng lại không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
Quân thì ám vả thần du chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điều trù.
Nẻo tiên cũng khó tìm nơi hoá;
Dấu phật du khôn xuống đấy tu.
Võ sự xem ra khổ man di, thẳng bước tới đứa chen vào, chiến trận thế cũng cờ giong trống giục;
Đạo học ngẫm chẳng theo hiền thánh, kẻ bày lời người thưa dịch, thi cử gì mà cửa lệch sân xô.
Khí tượng ấycũng chưa vương được nhỏ;
Anh uy này toan lại đế cho to.
Đây nay:
Chơi thì đã trải;
Ở cũng không thô.
Nghĩ cước sợ lây hơi chung đỉnh[50];
Nên mình còn nhẫn dấu phần du[51].
Giận vì thằng sao nỡ đặt "Tụng Hồ", bênh nguỵ tặc bỏ ơn đời đế thế;
Cho nên đây phải hoạ vần "Chiến tụng", nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ.


Phạm Đan Phượng

  1. Đầm nhiều sương mù, tức Tây Hồ.
  2. Cũng là tên cũ của Tây Hồ.
  3. Phật Ba La gảy đàn sắt để xem cá.
  4. Hư Tĩnh học phép tiên, dùng hương viết vào không khí mà dụ được voi.
  5. Quẻ Kinh Dịch: thịnh vượng, giàu có.
  6. Minh quân lương tướng (vua giỏi tôi hiền).
  7. Quẻ Kinh Dịch: lòng ngay thẳng.
  8. Con le ngủ.
  9. Chim hồng bay một mình.
  10. Thơ Đỗ Phủ có câu "Cố quốc sương tiền bạch nhạn lai" (Nước cũ trước khi có sương chim nhạn trắng lại).
  11. Lã Đồng Tân cưỡi hạc qua bể đi dự yến ở Dao Trì.
  12. Lý Bạch tự xưng là "Hải thượng kỵ kình khách" (Người khách cưỡi cá kình ở trên bể).
  13. Đói và mất mùa.
  14. Tướng phương Nam tức của Tây Sơn.
  15. Triều Tây Sơn.
  16. Sĩ phu ở Đông Kinh (Hà Nội).
  17. "Tẩy nghiễn ngư thôn mặc, phanh trà hạc tị yên" (Rửa nghiên, cá nuốt mực. Đun chè hạc tránh khói).
    Tương Hàn đời Tấn, đến mùa thu nhớ canh rau thuần và gỏi cá lư ở quê mình.
  18. Thần làm đại loạn.
  19. Tô là sống lại, nhu là thuấm nhuần ơn trạch.
  20. Kẻ nịnh hót.
  21. Người đời Xuân Thu, làm tướng nước Việt, giúp Câu Tiễn diệt Ngô, xong không nhận tước phong, bỏ đi chơi ngũ hồ.
  22. Tử Lộ, học trò Khổng Tử. Đức Khổng nói: Tử Lộ có thể cưỡi bè vượt biển theo ngài.
  23. Hoa cây mộc, thường dùng ướp trà, hoặc thuốc hút.
  24. Quả bồ đào.
  25. Thẻ xanh, thẻ đỏ ở thuyền các quan.
  26. Tơi bời.
  27. Tên một quẻ độn.
  28. Năm 1800, năm tác giả làm bài phú.
  29. Quẻ lục hợp là sáu trường hợp hợp nhau: Tí Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tị Thân, Ngọ Mùi.
  30. Năm 1802, tức là năm Tây Sơn suy vong.
  31. Cột trời.
  32. Nơi âm phủ.
  33. muôn cõi.
  34. Có điềm tốt.
  35. Không lo lắng.
  36. Tiếng kèn đám ma: sống gửi thác về, than ôi.
  37. Tiếng khóc người chết oan: không có tội gì, không có cớ gì mà chết.
  38. Con vịt trời, con cò.
  39. Kẻ chăn trâu cắt cỏ.
  40. Kinh thi: oán hận phải phiêu bạt như con chim nhạn.
  41. Mất mùa luá, mùa rau.
  42. Kinh thi: ca hát sung sướng như con diệc được thảnh thơi ở bến nước.
  43. Con chồn yêu quái.
  44. Cung làm bằng thứ gỗ đã thành tinh.
  45. Con chồn yêu quái.
  46. Con hươu. Ví với thiên hạ. Hán thư "Nhà Tần mất con hươu, thiên hạ cùng đuổi theo nó".
  47. Trên ngựa. Do câu" Mã thượng tranh thiên hạ" (ngồi trên ngựa mà giành thiên hạ).
  48. Con hươu. Lý Tư đời Tần là kẻ nịnh thần. Vua chỉ một con vật, hỏi là con gì. Lý Tư biết đó là con hươu, nhưng tâu là con ngựa, vì vua nhà Tần vốn thích ngựa.
  49. Chuộng cỏ do, thứ cỏ có mùi thối, ví với kẻ xấu xa.
  50. Nói cảnh giàu sang. Nhà giàu sang ở bên Tàu xưa co nhiều gia nhân, phải thổi cơm bằng vạc (đỉnh) và đánh chuông (chung) gọi về ăn.
  51. Cây bưởi, cây dâu, chỉ thôn quê.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:29 pm

Vịnh Tố nữ đồ

Đây là một bài thơ độc đáo theo lối thuận nghịch độc, đọc xuôi bằng chữ Hán, đọc ngược bằng chữ Nôm.[1]

Bản chữ Hán

詠素女圖

青春鎖柳冷蕭房,
錦軸停針礙點妝。
清亮度蘚浮沸綠,
淡曦散菊彩疏黃。
情痴易訴簾邊月,
夢觸曾撩帳頂霜。
箏曲強挑愁緒絆,
鶯歌雅詠閣蕭香。
Phiên âm Hán Việt

Vịnh Tố nữ đồ

Thanh xuân khoá liễu lãnh tiêu phòng,
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.
Thanh lượng độ tiên phù phất lục,
Đạm hy tán cúc thái sơ hoàng.
Tình si dị tố liêm biên nguyệt,
Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.
Tranh khúc cưỡng khiêu sầu tự bạn,
Oanh ca nhã vịnh các tiêu hương.

Bản dịch thơ:

Vịnh tranh tố nữ

Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh
Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng
Nguyệt bên rèm, tỏ dễ si tình
Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm
Lục phất phơ, rêu đọ rạng thanh
Trang điểm ngại chăm, dừng trục gấm
Phòng tiêu lạnh lẽo khoá xuân xanh.


Phạm Đan Phượng

1. Bản dịch chính là bản đọc ngược của bài thơ bằng chữ Nôm:
香蕭閣詠雅歌鶯,
絆緒愁挑強曲箏。
霜頂帳撩曾觸夢,
月邊簾訴易痴情。
黃疏彩菊散曦淡,
綠沸浮蘚度亮清。
妝點礙針停軸錦,
房蕭冷柳鎖春青。

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:47 pm

Văn tế Trương Quỳnh Như


Nương tử ơi! Chướng căn ấy bởi vì đâu? Oan thác ấy bởi vì đâu? Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm!

Lại có điều đau đớn thế! Nhà huyên ví có năm có bảy, mà riêng mình nàng đeo phận bạc, thì lửa nguội nước vơi còn có lẽ.

Thương hại thay! Hoa có một cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đóa.

Thân là thân hiếm hoi chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm, làm một kiếp, mà ngơm ngớm chốn non Bồng nước Nhược, chút gì không đoái đến cõi phù sinh!

Ví dụ mà tiên thù với tục, sao xưa kia vâng mệnh xuống trần chi? Nay đã nguyện một thân cho vẹn kiếp, thì ba vạn sáu ngàn ngày sống cho đủ lệ: nọ xuân huyên, này phu tử, góp với trần gian không chút hận, rồi sẽ rong chơi chín suối, cớ sao riêng bóng vội vàng chi?

Ôi! Chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyên suồng sả, những như thân giá ấy, tình cảnh ấy, ngược xuôi kia cũng ngậm ngùi cho. Huống ta cùng nương tử, tuy chẳng thân kia thích nọ nhưng tình duyên ấy, cũng là một chút cương thường: dầu rằng kẻ ấy lạ người đây, song ân ái bấy lâu nay, đã biết bao nhiêu tâm sự!

Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi thời nên nấn ná nhân duyên: mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mạng.

Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm; chua xót cũng vì đâu?

Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sùi sụt hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử!



Phạm Đan Phượng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:50 pm

Khóc cô Trương Quỳnh Như [1]

- Bài 1 -


Xanh kia cao thẳm mấy từng khơi,[2]

Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi.

Nhớ[3] đốt lò vàng hương hạt khói,

Sầu châm chén ngọc rượu không hơi.

Lầu tây nguyệt gác mây lồng bóng

Ái bắc hồng sang bể tuyệt vời.

Một khối chung tình tan mấy mảnh

Suối vàng ai có thấu lòng ai?



Phạm Đan Phượng

1. Có bản ghi tựa là: Thơ tế Trương Quỳnh Như
2. Có bản ghi là: Trời xanh cao thẳm mấy tầng khơi.
3. Có bản ghi là: "Buồn"

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   Fri Mar 23, 2012 2:54 pm

Khóc cô Trương Quỳnh Như

- Bài 2 -

Oanh ru bên trướng giấc hoa nồng,

Chợt tỉnh hồn mai nhớ lại mong.

Non nước mơ màng chừng chỉ lữ,

Mây mưa phảng phất đỉnh Vu Phong.

Quyền về viễn phố hoa rầu rĩ,

Nhạn tếch Hành Dương nguyệt não nùng.

Đàn tiếng ly toan tay ngại gảy,

Lấy ai lần gỡ mối sầu xong!



Phạm Đan Phượng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)   

Về Đầu Trang Go down
 
Phạm Đan Phượng (Phạm Thái)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến