Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Trần Hưng Đạo
Wed Jun 06, 2018 4:53 pm by Vân Nhi

» Huyền Chi
Mon Jun 04, 2018 4:35 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue May 29, 2018 7:45 am by Vân Nhi

» Quan Âm Thị Kính
Fri May 25, 2018 2:02 pm by Vân Nhi

» Thanh Tịnh
Mon May 21, 2018 3:25 pm by Vân Nhi

» Thuyền viễn xứ
Thu May 03, 2018 2:19 pm by Vân Nhi

» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

July 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Bùi Giáng
Lý Bạch
Nguyễn Khuyến
Việt Nam Sử Lược Q1
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
nhất Huynh Trọng huyền miền thường nguyễn bính Phong Liên quang dũng

Share | 
 

 Hồ Xuân Hương

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:44 pm

Khấp Vĩnh Tường quan


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường[1] ôi!

Cái nợ phù sinh có thế thôi

Chôn chặt văn chương ba thước đất

Ném tung hồ thỉ[2] bốn phương trời.

Nắm xương dưới đất chau mày khóc

Hòn máu[3] trên tay mỉm miệng cười.

Đã thế thời thôi cho mát mẻ

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi!




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Khấp quan phủ
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Hăm bảy tháng trời là mấy chốc

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khóc ông phủ Vĩnh Tường
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Hạt sương dưới chiếu cau mày khóc
Câu 6: Giọt máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Năm bảy tháng trời là mấy chốc
Câu 8: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 10
Câu 2: Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời
Câu 4: Phá tan hồ thỉ bốn phương trời
Câu 7: Vì chữ tình chung nên phải viếng

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ
Câu 1: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ
Câu 8: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

- Bản Đăng khoa lục sưu giảng
Tựa đề: Điếu quan phủ Vĩnh Tường
Câu 2: Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi
Câu 5: Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc
Câu 6: Chảy máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Phúc quả công danh phó trả trời


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Nguyên là phủ Tam Đái thuộc tỉnh Sơn Tây, đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) mới đổi là Vĩnh Tường.
2. Từ chữ Hán "tang hồ bồng thỉ" (cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng). Tục cổ của người Hán xưa, hễ sinh con trai thì lấy cung dâu tên cỏ bồng bắn ra bốn phương trời, ngụ ý rằng chí làm trai phải tung hoành bốn phương.
3. Nắm xương, hòn máu: hai câu ý nói nhìn cảnh chôn cất ông phủ (nắm xương dưới đất) thì đau lòng mà khóc; nhưng ngẫm đến chuyện có đứa con nhỏ bế trên tay (hòn máu trên tay) thì lại thấy mừng thầm.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:50 pm

Khóc chồng làm thuốc


Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì

Thương chồng nên phải khóc tì ti.

Ngọt ngào thiếp nhớ mùi cam thảo,

Cay đắng chàng ôi vị quế chi.

Thạch nhũ trần bì sao để lại

Quy thân liên nhục [1] tẩm đem đi.

Dao cầu[2] thiếp biết trao ai nhỉ

Sinh ký chàng ôi tử tắc quy.[3]




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Cô lang thuốc khóc chồng
Câu 2: Thương chồng nên nỗi khóc tì ti
Câu 6: Quy thân liên nhục nhớ đem đi
Câu 7: Dao cầu thiếp biết trao ai được

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 42
Câu 2: Khóc gì những tiếng tỉ tì ti
Câu 5: Thạch nhũ trần bì phong để lại
Câu 6: Quy thân liên nhục gói đem đi
Câu 7: Đông hoa thảm đạm hay chăng tá
Câu 8: Sinh giã thương tâm tử giã ly


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục đều là tên các vị thuốc Đông dược. Tuy nhiên, trong hàng trăm vị thuốc, tại sao tác giả chỉ chọn có mấy vị này, chắc không phải tùy tiện. Câu 5 nói đến nhũ (vú), bì (da) phải chăng chỉ người vợ ở lại; câu 6 nói thân (mình mẩy), thịt (nhục) phải chăng chỉ người chồng phải đem tẩm liệm chôn cất.
2. Loại dao chuyên dùng để cắt, thái thuốc.
3. Thành ngữ tiếng Hán, có nghĩa sống là gửi tạm, chết là về cõi vĩnh hằng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:56 pm

Khóc Tổng Cóc [1]


Hỡi chàng ôi, hỡi chàng ôi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.[2]





Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khóc chàng Tổng Cóc
Câu 1: Chàng ơi ới hỡi hỡi chàng ôi
Câu 2: Lửa hương mới bén nửa năm trời
Câu 4: Nghìn vàng khôn chuộc giống bôi vôi

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Khấp phu quân danh Cai Cóc
Câu 1: Chàng ôi chàng hỡi hỡi chàng ôi
Câu 4: Nghìn vàng khôn chuộc giống bôi vôi

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Khấp Cai Cóc
Câu 1: Chàng ôi chàng hỡi hỡi chàng ôi

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Khấp phu Cai tổng Cóc
Câu 1: Chàng Cóc ôi chàng Cóc ôi


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo cụ Dương Văn Thâm sưu tầm tài liệu về giai thoại thơ Hồ Xuân Hương (tài liệu đã dẫn) thì Hồ Xuân Hương làm bài Khóc tổng Cóc trong thời gian đã lấy ông phủ Vĩnh Tường. Do sự rẽ duyên của người vợ cả và gia đình họ hàng nhà Cóc, nên Hồ Xuân Hương mới đưa cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ để giễu: nhái bén, chẫu chàng, nòng nọc, chẫu chuộc, tất nhiên là giễu một tổng Cóc còn sống, chứ không phải là khóc khi tổng Cóc chết, như bấy nay có người hiểu, e rằng bất nhẫn.

Theo bài viết nhan đề "Tổng Cóc với Xuân Hương" của nhà thơ Nguyễn Phú Long (Richmond, VA) đăng trong Tạp Chí Cỏ Thơm số 26 (2004) thì tên thật của Tổng Cóc là Cốc. Tên "Cóc" là do người dân Sơn Tây đặt cho ông để tỏ lòng kính phục ông đã có gan làm những việc phúc đức như vớt thây người chết trôi rồi mai táng lại. Người đời có những câu như "Gan cóc tía" và "Con cóc là cậu ông Trời". Theo chuyện kể của Nguyễn Phú Long thì HXH lấy Tổng Cóc để có nơi nương tựa lúc gia đinh gặp khó khăn. Rồi vì bị vợ lớn ghen nên bà bỏ đi, trở lại Khán Xuân. Lập luận này có hợp lý không khi mà việc bỏ vợ, bỏ chồng vào thời đó cũng phải được luật lệ cho phép? Bộ Luật Hồng Ðức tức Quốc Triều Hình Luật đời Vua Lê Thanh Tôn (1442- 1497) minh thị "người vợ tự ý bỏ nhà chồng, dù là về với bố mẹ ruột, bị coi là phạm trọng tội". Vả lại, bà vốn có ăn học, dòng giõi, nên tuy thích bỡn cợt, nhưng không vì thế mà bởn cợt cả với chồng. Dù sao thì cũng có bài thơ mà không biết có phải của bà không?
2. Theo truyện cổ tích dân gian, Ngọc Hoàng mở khoa thi, các loài cá đua nhau đến. Cóc cũng đến nhưng vì không có vây, không có đuôi như loài cá nên quan chánh chủ khảo không cho dự thi. Cóc cãi rằng vốn trước cũng có đuôi (lúc còn là nòng nọc) nhưng sau rụng mất. Quan chánh chủ khảo nổi giận, cho là cóc cãi bướng, bèn sai lính nọc ra đánh bẹt đầu, bôi vôi vào rồi đuổi về.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:03 pm

Không chồng mà chửa


Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Cả nể cho nên hoá dở dang

Sự này có thấu hỡi chăng chàng.

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,

Phận liễu sao mà nảy nét ngang.[1]

Cái tội trăm năm chàng chịu cả

Chữ tình một khối thiếp xin mang.

Quản chi miệng thế lời chênh lệch

Chẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chửa hoang
Câu 2: Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Câu 7: Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Câu 8: Những kẻ khôn mà có kẻ ngoan

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh người chửa hoang
Câu 1: Cả nể cho nên nỗi dở dang
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 7: Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Câu 8: Không có nhưng mà thế mấy ngoan

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh nữ hoang thai
Câu 1: Quá nể cho nên sự dở dang
Câu 3: Duyên thiên chưa thấy đua đầu dọc
Câu 7: Ai ôi chớ có chê cười nhé
Câu 8: Không có nhưng mà thế mấy ngoan

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Vịnh nữ hoang thai
Câu 1: Quá nể cho nên hoá dở dang
Câu 3: Duyên thiên chưa thấy đua đầu dọc
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 8: Không có nhưng mà có mấy ngoan

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Hoang nữ
Câu 2: Sự này có biết hỡi chăng chàng
Câu 4: Phận liễu sao đà nảy nét ngang
Câu 5: Cái tội trăm năm chàng biết chửa
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 7: Thôi thôi buộc chỉ từ nay nhé
Câu 8: Cấm thỏ đừng cho tới cửa hang


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ phu là chồng, chưa thấy nhô đầu dọc ý nói chưa thành chữ phu, tức chưa có chồng; chữ liễu là xong, đồng âm với chữ liễu là cây liễu ám chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ tử là con. Ý nói chưa có chồng mà đã có con, tức chửa hoang.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca


Tổng số bài gửi : 5652
Join date : 04/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:08 pm

Ký tao nương Mộng Lan
(Gửi nữ sĩ Mộng Lan)


Gió thổi hơi Lan đã mát lừng,

Tự nhiên gặp gỡ cũng vì chưng.

Câu thơ vịnh tuyết còn văng vẳng,

Chén rượu chờ trăng vẫn ngấn lưng.

Cờ muốn thi gan xe pháo mã

Đàn còn lựa gảy tính tình tưng.

Nhắn ai mơ kẻ tri âm đó

Xin ngỏ lời ra chớ ngập ngừng.




Hồ Xuân Hương

(Tạp thảo tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ rượu vẫn còn lưng chén, chưa uống cạn hết.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:15 pm

Lấy chồng chung



Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet



Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Năm chừng mười họa hay chăng chớ,

Một tháng đôi lần có cũng không.

Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng

Cầm bằng làm mướn mướn không công

Nỗi này ví biết dường này nhỉ,

Thời trước thôi đành ở vậy xong.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:

- Bản khắc 1922
Câu 1: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Câu 2: Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Câu 3: Năm thì mười họa hay chăng chớ
Câu 7: Thân này ví biết đường này nhỉ
Câu 8: Thà trước thôi đành ở vậy xong

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh người vợ lẽ
Câu 3: Năm thì mười họa hay chăng chớ
Câu 5: Cố đấm ăn xôi xôi cũng hỏng
Câu 7: Thân này ví biết dường này nhỉ
Câu 8: Thà trước thôi đành ở vậy xong

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh tác nhân thiếp
Câu 2: Chém cha cái số lấy chồng chung
Câu 3: Năm thì mười họa nên chăng chớ
Câu 7: Thân này ví biết dường này nhỉ


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:21 pm

Lỡm học trò


Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

Lại đây chị dạy lối làm thơ

Bướm non ngứa lợi châm hoa rữa

Dê bé buồn sừng húc giậu thưa.





Hồ Xuân Hương

(Quốc văn tùng ký)



Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:42 pm

Miếu Sầm thái thú





Ghé mắt trông lên[1] thấy bảng treo

Kìa đền thái thú[2] đứng cheo leo.

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1922)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo bản khắc ván in năm Khải Định thứ 7 (1922), chữ lên gồm chữ liên ghi âm và chữ thăng chỉ ý lên, không thể đọc ngang như nhiều bản quốc ngữ đã in.
2. Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống, viên tướng giặc Thanh đóng đồn ở Loa Sơn (núi Ốc, tục gọi gò Đống Đa). Do hoảng hốt trước sức tấn công thần tốc của quân Tây Sơn, vào sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789), viên Thái thú họ Sầm đã treo cổ tự tử ngay tại Chỉ huy sở. Vua nhà Nguyễn (có tài liệu nói vua Quang Trung) muốn giao hảo với nhà Thanh đã cho lập miếu thờ Sầm Nghi Đống trên gò Đống Đa. Nhưng về sau nhân dân Hà Nội đã dựng miếu Trung Liệt trên gò Đống Đa để thờ các vị anh hùng đã hy sinh anh dũng khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX. Còn Sầm Nghi Đống thì được Hoa kiều đưa về lập đền thờ tại một ngõ hẻm nơi họ cư trú bên cạnh phố Hàng Buồm, sau ngõ đó thành tên là ngõ Sầm Công. Ngõ Sầm Công nay là ngõ Đào Duy Từ. Trong một ngách nhỏ của ngõ này hiện còn một am thờ nhỏ bên cây hoa đại ở ngay đầu ngách, đó chính là di tích của miếu Sầm Công ngày xưa. Tuy nhiên, hiện nay am này không thờ Sầm Nghi Đống nữa, mà đã chuyển thành miếu thờ Phật bà Quan Âm với dòng chữ Hán "Quan Âm linh miếu".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:50 pm

Mời ăn trầu




Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi[1]

Này của Xuân Hương mới quệt rồi.[2]

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:
bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tặng khách
Câu 1: Quả cau nho nhỏ lá trầu hôi
Câu 3: Có phải duyên nhau thì đỏ thắm



Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Lá trầu không có vị cay hăng nên nói như vậy.
2. Chỉ việc vừa mới quệt vôi, chứng tỏ đây là khẩu trầu mới têm còn tươi ngon.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:53 pm

Ngại ngùng


Ngại ngùng chưng những lúc phân kỳ,

Vó ký dùng dằng bước chẳng đi.

Lưu giản[1] đôi câu sa giọt ngọc

Tương tư nửa gánh nặng vai chì.

Cầm thông[2] sầu gảy năm cung biệt,

Rượu cúc say nghiêng một chén ly.

Tưởng nước non này trăng gió ấy

Thấu tình chăng nhẽ khách tương tri.




Hồ Xuân Hương

(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Làm thơ lưu lại trước lúc chia tay.
2. Gió lùa vào tán lá cây thông nghe như tiếng đàn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:57 pm

Nguyệt hỡi đê mê


Nguyệt hỡi đê mê mấy buổi nay,

Vắng tình đây những ngẩn ngơ thay.

Trà pha liên tử[1] mà không chuộng

Rượu chuốc bồ đào[2] cũng chẳng say.

Giấc bướm mơ màng hơi trống điểm,

Hồn mai[3] phảng phất tiếng sênh[4] bay.

Tình chung ai có hay chăng tá,

Con tạo ghen chi những quấy rầy.




Hồ Xuân Hương

(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Nhị hoa sen, chỉ trà ướp sen.
2. Quả nho, chỉ rượu nho.
3. Theo điển xưa, có người qua đường vào buổi chiều tà, vào quán được người con gái đẹp dọn rượu cho uống, say rồi nằm ngủ; sớm hôm sau tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Sau văn học cổ dùng để chỉ giấc ngủ ngon, mộng đẹp.
4. Tức sênh tiền hoặc còn gọi là sinh tiền, tên cổ gọi phách 6 tiền, là loại nhạc cụ gõ dùng để đệm giữ nhịp trong ca múa nhạc dân gian.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 3:00 pm

Nhĩ Hà tức cảnh [1]


Thấp thoáng đầu ghềnh lún phún mưa,

Đố ai vẽ được cảnh tiêu sơ;

Xanh om cổ thụ tròn như tán,

Trắng xóa tràng giang phẳng ngỡ tờ.

Còi mục thét trăng miền khoáng dã

Lưới ngư chăng gió bãi bình sa.

Chuông ai đứt nối bên kia tá,

Lầm lỡ chung tình một túi thơ.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị: bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Tức cảnh
Câu 6: Chài ngư tung gió bãi bình sa


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Sở dĩ gọi Nhĩ Hà là do khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long uốn lượn cong cong như cái khuyên đeo tai. Nhĩ Hà cũng đọc là Nhị Hà và nay thường gọi là sông Nhị.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 3:13 pm

Núi Ba Đèo


Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Một đèo một đèo lại một đèo[1]

Khen ai khéo vẽ cảnh cheo leo.

Cửa son tía ngắt lơ thơ móc[2]

Đường đá xanh rì lún phún rêu.

Phưởng phất chồi thông cơn gió tốc,

Mịt mờ ngọn cỏ lúc sương gieo.

Hiền nhân quân tử ai là chẳng,

Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Đèo Ba Dội
Câu 2: Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Câu 3: Cửa son đỏ hoét tùm bum nóc
Câu 4: Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Câu 5: Lắt lẻo cành thông cơn gió tốc
Câu 6: Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Câu 8: Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh đèo Ba Dội
Câu 2: Khen ai khéo đặt cảnh cheo leo
Câu 3: Cửa son đỏ hoét tùm um móc
Câu 4: Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Câu 5: Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Câu 6: Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Câu 8: Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

- Bản Xuân hương thi sao
Tựa đề: Vịnh ba đèo
Câu 1: Qua hết một đèo lại một đèo
Câu 2: Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Câu 3: Cửa son tía ngắt lơ thơ nóc
Câu 4: Thềm đá xanh rì lún phún rêu
Câu 5: Vất vưởng cành thông cơn gió thổi
Câu 6: Đầm đìa ngọn cỏ lúc sương gieo
Câu 8: Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Vịnh ba đèo
Câu 1: Qua hết một đèo lại một đèo
Câu 2: Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Câu 3: Cửa son tía ngắt lơ thơ nóc
Câu 4: Thềm đá xanh rì lún phún rêu
Câu 5: Phưởng phất cành thông cơn gió thổi
Câu 6: Đầm đìa ngọn cỏ lúc sương gieo
Câu 8: Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

- Bản Xuân hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh ba đèo
Câu 1: Cách một đèo qua lại một đèo
Câu 2: Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Câu 3: Cửa son tía ngắt lơ thơ nóc
Câu 4: Thềm đá xanh rì lún phún rêu
Câu 5: Vất vưởng cành thông cơn gió thổi
Câu 6: Đầm đìa ngọn cỏ lúc sương gieo
Câu 8: Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Câu thơ nhắc lại 3 lần từ "một đèo" là có ý ngầm chỉ tên đèo Ba Dội. Theo phần "Dư địa chí" trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, thì đèo Ba Dội chính là tên Nôm của núi Tam Điệp. Núi này ở đầu địa giới huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chữ Nôm viết bộ "trúc" trên chữ "mộc", là một loại cây mọc hoang ở sườn núi, lá rất dai, bẹ lá có sợi dùng để khâu nón. Do lá móc rất lâu héo nên nông dân vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ thường dùng cành lá móc để ngụy trang lưới đánh bẫy chim ngói.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 3:18 pm

Núi Kẽm Trống


Hai bên thời núi giữa thời sông,

Có phải đây là Kẽm Trống[1] không.

Gió vật sườn non kêu lắc rắc,

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.





Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:

- Bản khắc 1922
Tựa đề: Kẽm Trống
Câu 3: Gió đập cành cây khua rắc đắc

- Bản Quốc văn tùng ký
Câu 3: Gió thổi cành cây khua lắc cắc
Câu 4: Sóng dồn mặt nước vỗ lung tung

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh cái Kẽm Trống
Câu 2: Có phải này là Kẽm Trống không
Câu 3: Trên núi gió khua cây lắc cắc
Câu 4: Dưới sông sóng vỗ nước long tong

Theo các văn bản tiếng Nôm bài này chỉ có 4 câu, tuy nhiên theo bản quốc ngữ sau này còn 4 câu nữa:

Ở trong hang núi còn hơi hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.



Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Còn có tên chữ là Kiềm Cổ, núi ở xã Nam Kênh, huyện Thanh Liêm, giáp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, nằm bên bờ sông Đáy, ở đây dòng sông bị chẹt lại bởi hai bên vách đá rất hẹp như một con hẻm.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 3:41 pm

Nước Đằng [1]


Ðằng quốc[2] xưa nay vốn nhỏ nhen,

Lại còn Tề Sở ép hai bên.

Ngảnh mặt sang Tề e Sở giận,

Quay đầu về Sở sợ Tề ghen.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:

bản khắc 1922
Tựa đề: Nước Đằng
Câu 2: Lại thêm Tề Sở ép hai bên


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo bản khắc 1921, nguyên tựa đề bài thơ: "Thích Đằng tiểu quốc dã, gián ư Tề Sở, sự Tề hồ, sự Sở hồ tứ cú". Do quá dài dòng nên ghi theo bản khắc 1922.
2. Tên một nước chư hầu thời Xuân Thu (khoảng năm 722 trước CN).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 3:47 pm

Ốc nhồi




Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi

Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.

Quân tử có thương thì bóc yếm,

Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:

bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Con ốc
Câu 1: Bác mẹ sinh ra đít vẫn dồi
Câu 2: Một mình lăn lóc đám rêu hôi


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 4:12 pm

Phiếm chu ngoạn nguyệt
(Giong thuyền chơi trăng)


Hà đông[1] một dải nước trong veo,

Lãng đãng thuyền tình chở nặng chèo.

Gợn sóng nhấp nhô tăm cá lội,

In dòng chấp chới mảnh trăng gieo.

Muốn trôi thơ lá[2] mà than thở

Phải mượn tin băng[3] để dập dìu.

Cây cỏ thêm buồn lòng nước cũ,

Ái ân lạnh lẽo biết bao nhiêu.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Theo bản khắc 1914, tựa đề nguyên chữ Hán "Phiếm chu ngoạn nguyệt" (Giong thuyền chơi trăng), phần thơ là tiếng Nôm.

Khảo dị:
bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Phiếm chu
Câu 3: Dợn sóng nhấp nhô tăm cá lội
Câu 4: In dòng lấp lánh mảnh trăng gieo
Câu 7: Cây cỏ thêm buồn lòng nhạo thủy


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ dòng sông phía đông Hà Nội, tức Nhĩ Hà. Văn bản "Đại Nam đối thi" có bài này và lời dẫn chữ Hán: "Hà đông tức Nhĩ Hà giang dã. Tích Xuân Hương suất tiểu hoa nô ngũ lục nhân, thuyền nhất kiện, phóng du ư Nhĩ Hà giang..." (Hà đông tức sông Nhĩ Hà. Trước đây, Xuân Hương cùng đám hầu gái, với một con thuyền, giong chơi trên Nhĩ Hà...)
2. Theo truyền thuyết Trung Quốc, vào đời Đường có cung nữ đề thơ trên lá đỏ, rồi thả xuống ngòi nước trong cung cho trôi ra. Có chàng trai bên ngoài tình cờ bắt được chiếc lá ấy. Sau vua cho cung nữ ấy đi lấy chồng thì lại lấy được chàng trai nhặt lá đỏ. Do điển tích này mà văn học cổ dùng cụm từ "thơ lá" để chỉ mối tình ngẫu nhiên thành, hoặc chỉ nỗi u hoài của người con gái.
3. Theo điển tích Trung Quốc, xưa có người mơ thấy mình đứng trên băng nói chuyện với người ở dưới băng. Thầy đoán mộng giải rằng trên băng là dương, dưới băng là âm, đây là chỉ việc làm mối cho trai gái lấy nhau... Sau văn học cổ dùng các từ "băng nhân", "băng môi" để chỉ việc mối lái.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 4:41 pm

Quả mít


Thân em như quả mít trên cây,

Da nó xù xì múi nó dày.

Quân tử có yêu xin đóng cọc,[1]

Đừng mân mó nữa nhựa ra tay.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Theo bản khắc 1914, tựa đề nguyên chữ Hán "Phiếm chu ngoạn nguyệt" (Giong thuyền chơi trăng), phần thơ là tiếng Nôm.

Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Câu 3: Quân tử có yêu thì đóng nõ
Câu 4: Xin đừng mân mó nhựa ra tay

- Bản Quốc văn tùng ký
Câu 3: Quân tử có thương thì đóng cọc
Câu 4: Xin đừng mân mó nhựa ra tay

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh quả mít
Câu 1: Của tôi như quả mít trên cây
Câu 3: Quân tử có yêu thì đóng cọc
Câu 4: Xin đừng mân mó nhựa ra tay

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Ba la mật
Câu 1: Dái này hẳn ở chạc ba cây
Câu 3: Quân tử có say xin đóng cọc
Câu 4: Chớ đừng mân mó nhựa ra tay


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo kinh nghiệm dân gian, nếu để mít chín trên cây thì khi bị gió lay quả mít có thể bị tụt nõ rơi xuống đất. Vì thế khi quả mít đã già, người ta thường trảy xuống, đóng cọc tre vào chỗ cuống mít, sau đó đem phơi nắng cho chóng chín.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 7:46 am

Quá Nghệ An hoài giai nhân, hựu thể [1]


Quấy quả chi nhau những những điều

Của ai xem đã đã nên chiều

Trời đem tài sắc cho trông thấy

Người có phong tình mới dám yêu.

Buổi lạ có đâu sàm sỡ mãi,

Lòng riêng nghe những ngậm ngùi nhiều.

Lời này xin nhớ cho ta mấy

Lẩn thẩn đừng màng dạ thấp cao.




Hồ Xuân Hương

(Thi ca Nam âm)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Tựa đề: "Qua Nghệ An nhớ bạn hiền, bài 2"
Giai nhân, ngoài nghĩa chỉ người đẹp, còn tùy văn cảnh, đối tượng mà có những nghĩa khác. Ví dụ: trong Sở từ thì chỉ Sở Hoài Vương, Sở Tương Vương; trong Văn tuyển thì chỉ quần thần; trong thơ Đỗ Phủ "Tuyệt đại hữu giai nhân / U cư tại không cốc" là chỉ người hiền tài.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 7:50 am

Quan Hậu sợ vợ [1]


Tình cảnh ấy nước non này

Dẫu không Bồng Đảo cũng Tiên đây.

Hành Sơn[2] mực điểm đôi hàng nhạn,

Thứu Lĩnh[3] đen trùm một thứ mây.

Lấp ló đầu non vầng nguyệt chếch,

Phất phơ sườn núi lá thu lay.

Hỡi người quân tử đi đâu đó,

Đến cảnh sao mà đứng lượm tay.[4]




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1922)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Quan Hậu là chỉ chức quan hậu bổ, nghĩa là lãnh làm việc quan mà chực chỗ khuyết đợi bổ vào.
2. Chỉ dãy núi phía nam huyện Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Tương truyền vào mùa thu hằng năm, chim nhạn tránh rét phía bắc thường bay xuống phương nam, nhưng không vượt qua được dãy Hành Sơn, nên phải ở lại đấy, đợi mùa xuân mới trở lại phương Bắc.
3. Tức núi Kỳ Xà Quật ở thành Vương Xá, Ấn Độ. Do đỉnh núi giống đầu chim ó (thứu) nên có tên gọi Thứu Đầu Sơn, Thứu Lĩnh. Đức Phật cũng từng thuyết pháp tại đây.
4. Tức chắp tay.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 7:55 am

Quán Sứ tự


Quán Sứ[1] chùa xưa cảnh vắng teo

Thương ôi sư đã hóa ra mèo.[2]

Sáng banh vắng kẻ khua dùi mõ,

Trưa trật không người quét kẽ rêu.

Chí chát chày kình[3] im lại đấm

Lầm rầm tràng hạt đếm cùng đeo.

Buồm từ cũng rắp sang Tây Trúc,

Gió vật cho nên phải lộn lèo.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chùa Quán Sứ
Câu 1: Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Câu 2: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo
Câu 3: Chày kình tiểu để suông không đấm
Câu 4: Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo
Câu 5: Sáng banh không kẻ khua tang mít
Câu 6: Trưa trật nào ai móc kẽ rêu
Câu 7: Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Câu 8: Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo

- Bản Xuân hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh Quán Sứ tự
Câu 1: Quán Sứ chùa nay cảnh vắng teo
Câu 2: Thương ôi sư đã tếch nơi neo
Câu 3: Sớm banh vắng kẻ khua dùi mõ
Câu 4: Trưa trật không người móc kẽ rêu
Câu 5: Chí chát chày kình đâm lại đóng


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chùa dựng ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương, Thăng Long, có từ thời Lê sơ (thế kỷ XV), tiền đường thờ Phật, hậu đường thờ quốc sư triều Lý là thiền sư Không Lộ. Xưa kia trong khu vực này có dựng nhà tiếp sứ thần các nước Lào, Chiêm Thành. Các nước đó đều theo Phật giáo nên nhà vua cho xây chùa ngay cạnh để các sứ thần tiện hành lễ; vì vậy gọi là chùa Quán Sứ. Năm 1936, chùa được xây lại như kiểu cách hiện nay ở phố Quán Sứ, Hà Nội.
2. Theo truyện dân gian mèo là con vật lười biếng, thường xuống xó bếp cuộn tròn mà ngủ; cả câu ý nói sư lười như mèo.
3. Chày đánh chuông đẽo hình cá kình (cá voi).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 8:25 am

Sài Sơn thiên thị
(Chợ trời núi Thầy)


Hóa công xây đắp biết bao đời,

Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời.

Buổi sớm gió tuôn trưa nắng dãi,

Ban chiều mây họp tối trăng soi.

Bày hàng hoa quả quanh năm đủ,

Dãi thẻ[1] giang sơn bốn mặt ngồi.

Bán lợi mua danh nào những kẻ,

Thử lên mặc cả một hai lời.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chợ Trời
Câu 1: Khen thay con tạo khéo trêu ngươi
Câu 2: Bày đặt ra nên cảnh chợ Trời
Câu 3: Buổi sớm gió đưa trưa nắng đứng
Câu 4: Ban chiều mây họp tối trăng chơi
Câu 5: Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn
Câu 6: Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi
Câu 8: Không lên mặc cả một hai lời

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Chợ Trời chùa Thầy
Câu 1: Hóa công xây đắp đã bao đời
Câu 3: Buổi sớm sương tan trưa gió quét
Câu 4: Ban chiều mây họp tối trăng chơi
Câu 6: Quảy gánh giang sơn tám mặt ngồi
Câu 8: Lại đây mặc cả một đôi lời

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh cái chợ Trời
Câu 1: Trải bao vật đổi lại sao dời
Câu 2: Vẫn cứ trơ trơ cái chợ Trời
Câu 3: Buổi sớm mưa tan trưa gió quét
Câu 5: Bày hàng hoa cỏ tư mùa đủ
Câu 6: Mở phố giang sơn tám mặt ngồi
Câu 7: Những kẻ mua danh cùng bán lợi
Câu 8: Không lên mặc cả một đôi lời


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Thành ngữ cũ "ngồi dãi thẻ", tức ngồi duỗi thẳng hai chân, thường chỉ một tư thế ngồi của phụ nữ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 8:47 am

Sư hoạnh dâm


Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,

Làm chi một chút tẻo tèo teo.

Thuyền từ[1] cũng muốn về Tây Trúc,[2]

Trái gió cho nên phải lộn lèo.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tiễn sư
Câu 2: Vị gì một chút tẻo tèo teo
Câu 3: Thuyền từ cũng rắp về Tây Trúc

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 6
Câu 2: Vì chưng chút sự tẻo tèo teo
Câu 3: Buồm về Tây Vực đà nghiêng lá


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Thuyền từ bi chở chúng sinh qua cảnh trầm luân bể khổ.
2. Quê hương Phật Tổ (tức Ấn Độ cổ đại).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 8:50 am

Tặng tình nhân


Rắp hỏi chơi đây những thẹn thùng,

Chữ tình ai nỡ dứt cho xong.

Những người trong cuộc nhiều người lạ,

Là của trên đời vốn của chung.

Duyên phận ngán thay thân yểu điệu,

Tài hoa gầy cả mặt anh hùng.

Này thơ ai tặng ai ai đó

Gặp gỡ rồi ra họa có không.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
bản Thi ca Nam âm
Tựa đề: Quá Nghệ An hoài giai nhân
Câu 4: Mà của trên đời vốn của chung
Câu 5: Duyên phận ngán xem thân thiếu nữ
Câu 7: Thôi thôi còn biết làm chi tá
Câu 8: Thục nữ rồi ra họa có không


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 9:14 am

Tát nước


Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,[1]

Rủ chị em ra tát nước khe.

Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,[2]

Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.[3]

Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,

Nhấp nhổm bên bờ đít vắt ve.

Mải miết làm ăn quên cả mệt,

Dạng hang[4] một lúc đã đầy phè.[5]




Hồ Xuân Hương

(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí)


- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -

1. Mưa tè: tức mưa to, mưa rào.
2. Ba góc chụm: là ba cây cột gầu sòng chụm đầu lại với nhau.
3. Be: là đắp thêm vào.
4. Dạng hang: tức là đứng dạng chân ra.
5. Đầy phè: tức đầy tràn, đầy ắp.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 9:21 am

Thân phận người đàn bà




Hỡi chị em ơi có biết không?

Một bên con khóc một bên chồng.

Bố cu lổm ngồm bò trên bụng,

Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.

Tất cả những là thu với vén

Vội vàng nào những bống cùng bông.

Chồng con cái nợ là như thế,

Hỡi chị em ơi có biết không ?




Hồ Xuân Hương


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 9:28 am

Thị Đểu thi [1]


Kén chọn làm chi thế ối anh

Lấy ai khuynh quốc lại khuynh thành.

Vô duyên nên nỗi người chê Đểu,

Có đẹp chăng thời gái ở tranh.

Ghét mặt cục vàng ra cục đất

Tắt đèn nhà ngói bẵng[2] nhà gianh.

Thay lời mượn bút đem thư gửi,

Nghĩ lại sao cho để được đành.




Hồ Xuân Hương

(Thi ca Nam âm)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Lời Dẫn chữ Hán: "Ngôn kỳ y thị thậm xú. Phu ố chi. Thị dĩ thực ngôn ư Xuân Hương nương. Nương đại tác thử thi di y phu. Kỳ hậu phục tương hòa hợp". (Chuyện kể rằng thị ấy rất xấu xí. Người chồng chán ghét. Thị ấy đem sự thật kể với nàng Xuân Hương. Nàng Xuân Hương bèn thay lời thị ấy, làm bài thơ này gửi cho chồng thị ấy. Sau đó hai vợ chồng lại sống hòa hợp cùng nhau).
2. Từ cổ, có nghĩa như, tựa như, giống như. Đây là câu tục ngữ cổ: "Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 9:38 am

Thơ tự tình


Tiếng gà xao xác gáy trên vòm,[1]

Oán hận trông ra khắp mọi chòm.

[2] thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông[3] sầu chẳng đánh cớ sao om.

Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ

Sau hận vì duyên để mõm mòm.

Tài tử văn nhân ai đó tá

Thân này đâu đã chịu già tom.[4]




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tự than mình
Câu 1: Tiếng gà văng vẳng gáy trên hom
Câu 2: Oán hận trông ra khắp một chòm
Câu 6: Sau giận vì duyên để mõm mòm
Câu 8: Thân này đâu dễ chịu già tom

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Tự thuật
Câu 1: Tiếng điêu văng vẳng gáy trên vòm
Câu 4: Trống sầu chẳng đánh cũng nên tòm
Câu 5: Trước kia vẫn tưởng rằng tình thực
Câu 6: Sau ngẫm thì ra mắc tiếng bom
Câu 7: Quân tử ví dầu không ngó đến
Câu 8: Thân này chắc hẳn đến già nhom



Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Là cái nhà canh trên mặt thành. Các sách quốc ngữ đều ghi là bom và hiểu là phía sau con thuyền. Chúng tôi đã trao đổi với GS Vương Lộc, một chuyên gia hàng đầu về ngữ âm lịch sử tiếng Việt, thì được ông cho biết, khi biên soạn cuốn "Từ điển từ cổ", 2001, ông đã tùy tiện theo ai đó mà ghi tạm: "Phần phía sau của con thuyền, nơi người ta nuôi gà nhốt trong bu". Thế là lấy ý trong câu thơ của HXH - Tiếng gà xao xác gáy trên bom - để giải nghĩa từ "bom". Nhân tiện GS Vương Lộc đã nhờ tôi đính chính lại mục từ này.
2 & 3. Mõ và chuông dùng trong nhà chùa có tác dụng làm nguôi dịu lòng người. Ở đây nhà thơ vận dụng khác. Mõ thảm, chuông sầu: tiếng lòng sầu thảm trong đêm khuya vắng lặng không khua không đánh mà vẫn vang lên dữ dội những âm thanh khô khốc, ầm ĩ, cốc như mõ và om như chuông.
4. Như già nhom, chỉ già nua, gầy nhom.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 9:44 am

Thương




Há dám thương đâu kẻ có chồng,

Thương vì một nỗi hãy còn không.

Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,

Thương cái bèo non giạt bể Ðông.

Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,

Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.

Ấy thương quân tử thương là thế,

Há dám thương đâu kẻ có chồng.




Hồ Xuân Hương



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:00 am

Thương ôi phận gái


Thương ôi phận gái cũng là chồng,

Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông.

Rồng tắm ao tù từng phận tủi,

Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong.

Xót thân hoa nở song lầm[1] cát,

Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng.

Âu hẳn tiền nhân[2] sao đấy tá

Thôi đành một kiếp thế cho xong.




Hồ Xuân Hương

(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Từ cổ, cũng như bùn.
2. Nhân duyên từ kiếp trước.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:03 am

Thương thay phận gái


Thương thay phận gái cũng là người

Nỡ bỏ xuân xanh quá nửa đời.

Ông Nguyệt[1] nỡ nào trêu quải mãi,

Chị Hằng khéo nhẽ éo le thôi.

Hoa còn phong nhụy ong ve vãy

Gió đã phai hương bướm tả tơi.

Quá ngán thợ trời[2] ghê gớm bấy,

Xuân xanh được mấy chút thương ôi.




Hồ Xuân Hương

(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo điển cũ, có người đời Đường là Vi Cố gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng đang kiểm sổ sách và thấy trong chiếc túi ông già mang theo có cuộn dây đỏ. Vi Cố hỏi thì ông già đáp: đây là cuốn sổ hôn nhân và cuộn dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân nam nữ thành vợ thành chồng. Do điển này mà văn học cổ thường dùng: xích thằng, tơ hồng... để chỉ việc kết duyên vợ chồng; và Nguyệt lão, ông Tơ... để chỉ người mai mối hôn nhân.
2. Do từ Hán "hóa công".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:09 am

Tiễn người làm thơ


Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền,[1]

Cũng đòi học nói nói không nên.

Ai về nhắn nhủ phường lòi tói,[2]

Muốn sống đem vôi quét trả đền.[3]




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1922)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tiễn khách
Câu 1: Dắt díu đi đâu đến cảnh chiền
Câu 3: Ai về nhắn bảo phường lòi tói
Câu 4: Muốn sống đem vôi quét cửa đền

VXTĐ: Có một số bản ghi tựa đề bài này là: Bọn đồ dốt


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Cửa chiền tức cửa chùa.
2. Do thành ngữ "thảo lòi tói", nghĩa là viết chữ Hán theo lối thảo nguệch ngoạc, lằng nhằng chẳng ra sao, đây muốn chỉ người học trò dốt nát, học hành kém cỏi, viết chữ xấu, nguệch ngoạc như gà bới.
3. Ý nói làm dơ bẩn cảnh chùa.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:29 am

Tình có theo ai


Tình có theo ai nhớ lấy lời,

Những lời vàng đá phải lời chơi

Đường tuy nửa bước xa ngàn dặm,

Duyên chửa trăm năm cũng một đời.

Tần Tấn[1] đã đành duyên gặp gỡ,

Ngô Lào[2] chi quản chuyện xa xôi.

Trăng thề muôn kiếp trơ trơ đó,

Tình có theo ai nhớ lấy lời.




Hồ Xuân Hương

(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Hai nước đối địch nhau thời Xuân Thu, sau gả con cho nhau mà trở thành thông gia, hòa thuận. Văn học cổ thường dùng để chỉ mối nhân duyên tốt đẹp.
2. Hai nước cách xa về mặt địa lý, mượn hình ảnh để nói tuy xa cách nhưng tình cảm vẫn gắn bó không trở ngại.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:40 am

Trách Chiêu Hổ 2


Sao nói rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra.

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,[1]

Nhớ hái cho xin nắm lá đa.




Hồ Xuân Hương


Chiêu Hổ họa lại:

Rằng gián thì năm, quí có ba[2]

Bởi người thục nữ tính không ra.

Ừ rồi, thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa.



1. Huyền thoại nói: Trên mặt trăng có cây đa và thằng Cuội ngồi dưới gốc. Cuội còn là một nhân vật trong truyện cổ dân gian có đặc tính đã trở thành thành ngữ "Nói dối như Cuội". Ở đây nhắc chuyện lên chơi cung trăng và Chiêu Hổ sẽ cho Hồ Xuân Hương nắm lá đa, có ý nói Chiêu Hổ cũng chẳng khác gì Cuội "nói Cuội".
2. Tiền gián ăn 36 đồng kẽm. Tiền quý ăn 60. Như vậy 5 đồng gián hay 3 đồng quý đều bằng 180 đồng kẽm. Có thể cách hỏi vay của Hồ Xuân Hương với Chiêu Hổ không giao hẹn rõ ràng, cũng có thể cách trả lời chỉ là chữa khéo cho Chiêu Hổ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:50 am

Trào tăng


Nào nón tu lờ nào mũ thâm,

Đi đâu chẳng đội để ong châm.

Đầu sư há phải gì bà cốt

Bá ngọ con ong bé cái nhầm.



Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa: Ong đốt sư
Câu 1: Nào mũ ni nào áo thâm
Câu 3: Đầu sư há phải chi bà cốt

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa: Vịnh ong đốt đầu sư

- Bản Tạp thảo tập
Tựa: Vịnh phong giảo tăng nhân thủ (Vịnh ong đốt đầu sư)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:53 am

Trúc Bạch hồ


Một chiếc thuyền nan một mái chèo

Đáy hồ đứng lặng nước trong veo.

Quanh co thành cỏ[1] đường lai láng,

Chen chóc nhà thôn vẻ gấm thêu.

Ngũ Xá[2] cầu dài đường khách thẳng,

Châu Long[3] thềm rộng mái chùa cao

Đồn rằng Trúc Bạch vui hơn trước,

Nay mới hay rằng lắm thú yêu.




Hồ Xuân Hương

(Xuân Hương thi vịnh)


Khảo dị:
bản Âm ca tập
- Tựa đề: Vịnh Trúc Bạch hồ
- Câu 3: Quanh co chòm cỏ đường lai láng
- Câu 7: Đồn rằng Trúc Bạch vui từ trước


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Khu vực hồ Trúc Bạch nằm ở vùng Cửa Bắc của thành Thăng Long; bản đồ Hà Nội năm Minh Mệnh 12 (1831) còn cho thấy hồ Trúc Bạch và cả hồ Mã Cảnh (hồ Cổ Ngựa) trải dài từ đê Yên Phụ đến giáp Hàng Than, có con đường từ chỗ tường thành ở cổng Chính Bắc ra tận đê Yên Phụ; thành cỏ chính là chỉ bức tường thành có cỏ mọc ở Cửa Bắc này.
3. Chỉ bán đảo Ngũ Xá, gần hồ Trúc Bạch. Gọi Ngũ Xá là do có 5 làng (Đề Cầu, Kim Tháp, Quỳnh Đôi, Lê Xá, An Nhuế) thuộc huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc, hồi cuối Lê về Thăng Long lập nghiệp, chuyên đúc đồng để bán ở Kinh Thành: Lửa đóm ghen Ngũ Xá xây lò (Nguyễn Huy Lượng - Tụng Tây Hồ phú).
2. Tương truyền chùa Châu Long được dựng cuối đời Trần (thế kỷ XIII) trên gò Châu Lăng trong hồ Trúc Bạch, sau gọi chệch thành Châu Long và lấy làm tên chùa. Trong chùa còn bia ghi việc trùng tu vào năm Mậu Thìn, niên hiệu Gia Long thứ 7 (1808).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 10:57 am

Tức sự


Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng

Nín đi kẻo thẹn mấy non sông.

Ai về nhắn nhủ đàn em nhé,

Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chớ lấy chồng quan
Câu 4: Xấu máu đừng tham miếng đỉnh chung

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khuyên chị em
Câu 3: Ai về nhắn nhủ đàn em bé


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008


- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


1. Tục ngữ có câu: Xấu máu đừng thèm ăn của độc. Khem: ăn kiêng khi mới ở cữ nên thường nói kiêng khem hoặc kiêng cữ. Miếng đỉnh chung: của ngon vật lạ thường có ở những nơi quyền quí cao sang. Ý cả câu: Nếu đã xấu máu mà gặp phải của ngon vật lạ có thèm quá không nhịn được thì dùng ít thôi! Dỗ dành khuyên nhủ và nói bỡn.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 1:54 pm

Vịnh bách chu - tức sương nữ [1]


Chiếc bách[2] buồn về phận nổi nênh

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.

Lưng khoang tình nghĩa mong đầy đặn,

Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.

Chèo lái mặc ai lăm đỗ bến,

Buồm lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.

Ấy ai thăm ván[3] cam lòng vậy

Ngán nỗi ôm đàn[4] những tấp tênh.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vô đề 1
Câu 2: Trong dòng chao chát nước lênh đênh
Câu 3: Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng
Câu 5: Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Câu 6: Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh sương phụ
Câu 3: Lưng khoang tình nghĩa dầu dan díu
Câu 4: Nửa mạn phong ba vỗ bập bềnh
Câu 5: Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Câu 6: Kéo buồm thây kẻ rắp xuôi ghềnh


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008


1. Tựa đề nguyên tiếng Hán, có nghĩa "Vịnh thuyền gỗ bách - tức gái góa"
2. Chiếc thuyền bằng gỗ bách; nguyên là tên bài thơ "Bách chu" trong Kinh Thi, nội dung nói chiếc bách lênh đênh, trôi nổi theo dòng nước... Sau văn học cổ dùng từ chiếc bách, thuyền bách để chỉ thân phận lênh đênh, trôi dạt, không nơi nương tựa của người phụ nữ.
3. Do câu tục ngữ "thăm ván bán thuyền"; nghĩa đen chỉ việc muốn bán thuyền cũ đóng thuyền mới; nghĩa bóng chỉ sự phụ bạc, có mới nới cũ...
4. Từ chữ Hán "bão tỳ bà" (ôm đàn tỳ bà) có nghĩa là tái giá. Nguyên gốc từ bài "Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị có câu: Do bão tỳ bà bán già diện (còn ôm đàn tỳ bà che nửa mặt).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 2:15 pm

Vịnh cái quạt


Mười bảy hay là mười tám đây,[1]

Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.

Mỏng dày chừng ấy chành ba góc,

Rộng hẹp ngần nao cắm một cay.[2]

Càng nực bao nhiêu thời càng mát

Yêu đêm chẳng chán lại yêu ngày.

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,[3]

Chúa dấu vua yêu một cái này.




Hồ Xuân Hương

(Quốc văn tùng ký)


Khảo dị:
bản Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập chép câu 5 rất đúng niêm luật
Câu 5: Có nóng bao nhiêu càng có mát


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008



Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


1. Mười bảy, mười tám: chỉ số nan quạt (cũng ám chỉ tuổi của thiếu nữ). Thường thì nan quạt làm theo số chẵn, nhưng một số nhà nho theo cách tính "thịnh, suy, bĩ, thái" lại đặt làm nan quạt theo số lẻ, do đó có loại quạt 17 hoặc 21 nan.
2. Tức lỗ cay.
3. Hồng chỉ quạt giấy màu hồng, cậy chỉ nhựa quả cậy dùng để phất giấy lên các nan quạt. Câu thơ có dụng ý chơi chữ: giấy quạt đẹp như má hồng là nhờ có nhựa quả cậy phất vào nan khít khao (mà hồng và cậy là hai loại quả cùng họ với nhau).

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 2:17 pm

Vịnh dạy con trẻ


Buổi học xong rồi cảnh vắng teo,

Đứng lên nằm xuống lại nằm mèo.

Miệng thèm sờ rượu be hôi rích,

Giọng khát tìm chè lọ mốc meo.

Trầu một vài tuần nhai bỏm bẻm,

Thuốc năm ba điếu hút phì phèo.

Ai về nhắn nhủ cô bay biết,

Cũng chẳng phong lưu cũng chẳng nghèo.




Hồ Xuân Hương



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 2:23 pm

Vịnh đời người


Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày,

Dẫu có ngàn vàng khó đổi thay.

Trong núi ngàn năm cây vẫn có

Dưới trần trăm tuổi dễ không ai.

Nghĩ đường danh lợi lòng thêm chán,

Thấy kẻ gian ngoan bụng lại đầy.

Đắng xót ghê thay mùi tục lụy,

Bực mình theo Cuội tới cung mây.




Hồ Xuân Hương

(Quốc văn tùng ký)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 2:26 pm

Vịnh Hằng Nga


Hỡi chị Hằng Nga náu Quảng Hàn,

Bốn mùa trăng gió mấy giang san.

Áo tiên tuy nhuộm màu Vương Mẫu,[1]

Hương tục còn nồng lửa Hậu Lang.[2]

Mắt phượng nhớ say mùi ngọc thố,

Cung Nghê[3] sao thẹn khúc cầm loan.

Nẻo[4] không duyên nợ người cùng thế,

Xin chớ dầm mình nước hợp hoan.




Hồ Xuân Hương

(Quốc văn tùng ký)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Tức Tây Vương Mẫu.
2. Tức Hậu Nghệ.
3. Theo truyền thuyết Trung Quốc, đêm rằm tháng tám Đường Minh Hoàng được một đạo sĩ đưa lên chơi cung trăng. Tại đây có hàng trăm tiên nữ mặc xiêm áo màu ráng đỏ đang nhảy múa. Vua hỏi thì được trả lời đó là điệu múa "Nghê thường vũ y". Do tích này mà người sau cũng dùng cung Nghê để chỉ cung trăng.
4. Từ cổ, nghĩa là khi, một khi.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 2:50 pm

Vịnh hoa cúc


Chấp cả hàn phong xiết cả sương,

Trước rào xum họp tấm bao vàng.

Yêu vì vãn tuyết hương càng lạ,

Lẫn với phàm hoa sắc cũng thường.

Đào lệnh nòi xưa nghe chửa hết,

Tây Thi giống trước hãy còn ương.

Yêu hoa nên hoạ người say tỉnh,

Rượu chén hoàng hoa ngẫu hứng thương.




Hồ Xuân Hương




Tây Thi ngắm hoa


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 4:00 pm

Vịnh nằm ngủ

Bản (Quốc văn tùng ký)


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,

Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng.

Lược trúc chải cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long.

Ðôi gò Bồng đảo sương còn ngậm

Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Ði thì cũng dở ở sao xong.






Bản phổ biến:

Thiếu nữ ngủ ngày


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông.

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng,

Lược trúc lỏng cài trên mái tóc.

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò Bồng Đảo[1] hương còn ngậm.

Một mạnh Đào Nguyên[2] suối chửa thông

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở ở không xong.





Hồ Xuân Hương

Thơ Hồ Xuân Huơng. NXB Văn học. Hà Nội. 1993. (Lữ Huy Nguyên tuyển chọn và giới thiệu)

Khảo dị:

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 5
Câu 1: Đương cơn giờ ngọ gió nam phong
Câu 2: Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Câu 3: Lược bạc còn cài trên mái tóc
Câu 4: Yếm hồng để trễ dưới lưng ong
Câu 5: Ðôi bầu bạch thạch sương còn đượm
Câu 6: Một dọc Đào nguyên suối chửa thông
Câu 7: Quân tử dùng dằng đi chẳng được
Câu 8: Vậy nên một bút dán bình phong


1. Chỉ đảo Bồng Lai, nơi cõi tiên trong truyện thần tiên Trung Quốc xưa.
2. Theo một bài ký giả tưởng của Đào Tiềm đời Tần kể chuyện về một người đánh cá lạc vào thượng nguồn dòng suối, hai bên toàn hoa đào, ở đấy mọi người sống sung sướng vui vẻ, không biết gì đến cuộc sống của xã hội bên ngoài. Sau người ta thường dùng từ "Đào nguyên" (nguồn đào) để chỉ cõi thần tiên, thế giới cực lạc ngoài vòng trần tục.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5652
Points : 5970
Thanks : 34
Join date : 04/11/2011
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Wed May 16, 2012 4:06 pm

Vịnh nhàn cư


Mặc ai xe ngựa mặc ai hèo,

Ngồi tựa hiên mai vắt tréo kheo.

Bầu rót rượu tiên mời bạn cũ,

Tay nâng thuốc thánh chữa dân nghèo.

Thơ ngâm Lương phụ người ngoại nội,

Đàn gảy Cao Sơn khách ngọn đèo.

Mấy thuở thái bình nay lại gặp,

Vỗ tay đua nhịp tính tình kêu.





Hồ Xuân Hương



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    

Về Đầu Trang Go down
 
Hồ Xuân Hương
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến