Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Xuân Tâm
Thu Jul 06, 2017 1:49 pm by Vân Nhi

» Guitar đường phố: đỉnh của đỉnh
Tue Mar 21, 2017 8:46 am by Vân Nhi

» Nhạc phim: Thiện, Ác, Tà
Tue Mar 21, 2017 8:42 am by Vân Nhi

» Nhac phim: Love story
Tue Mar 21, 2017 8:39 am by Vân Nhi

» Trăng tháng 8
Thu Sep 15, 2016 10:47 am by Vạn Xuân

» Cái đêm hôm ấy... đêm gì?
Tue Aug 16, 2016 8:07 am by Vạn Xuân

» Chuyện của chung
Thu Jul 14, 2016 10:44 pm by Vân Nhi

» Bợm nhậu ký
Mon Jun 27, 2016 8:29 am by Vạn Xuân

» Chuyện vui gia đình
Mon Jun 27, 2016 8:20 am by Vạn Xuân

April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Most Viewed Topics
Lý Bạch
Vũ Hoàng Chương
Việt Nam Sử Lược Q1
Bùi Giáng
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Công Trứ
Lưu Linh
Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Quách Tấn
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Keywords
Trọng nhất nguyễn dũng quang Huynh bính Liên thường Phong miền

Share | 
 

 Hồ Xuân Hương

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 9:11 am

Hồ Xuân Hương
(1772-1822)


Hồ Xuân Hương (胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam.

Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:

Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.

Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.

Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức 1772-1822. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến.

Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.

Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vậy tại sao lại có chuyện "cổ nguyệt đình"?. Bà không dùng chữ nho cũng đâu thể cho rằng bà ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, mà phải xem lại xã hội thời đó, bà là một nhà thơ nên cũng là một minh chứng cho xã hội thời đó về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương.

Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.

Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến).

Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió.

Các tác phẩm

Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.

Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long. Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984. Ngoài ra, Hồ xuân Hương còn viết bài "Bánh trôi nước" rất nổi tiếng.

Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương ký 琉香記, theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương. Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà.


Nguồn: http://vi.wikipedia.org

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 9:32 am

Thư Mục

THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG

Bánh trôi
Cái giếng
Cái quạt
Canh khuya
Cảnh thu
Chế sư
Chi chi chuyện ấy
Chơi hoa
Chơi Khán Đài
Chùa Hương Tích
Chùa Sài Sơn
Con cua
Đá chẹt thi
Đá ông bà chồng
Đàn gảy
Đánh cờ
Đánh đu
Đề nhị mỹ nhân đồ
Dệt cửi đêm
Đọc cho Chiêu Hổ họa
Đồng tiền hoẻn
Du cổ tự
Dữ Phạm tế tửu xướng hoạ, kỳ nhị
Đưa đò
Duyên kỳ ngộ
Già kén kẹn hom
Hạ nhật tầm phu (Ngày hè tìm chồng)
Hang Cắc Cớ
Hàng ư Thanh (Quán hàng ở xứ Thanh)
Hỏi cô hàng sách
Hỏi trăng bài 1
Hỏi trăng bài 2
Hữu cảm
Khấp Vĩnh Tường quan
Khóc chồng làm thuốc
Khóc Tổng Cóc
Không chồng mà chửa
Ký tao nương Mộng Lan (Gửi nữ sĩ Mộng Lan)
Lấy chồng chung
Lỡm học trò
Miếu Sầm thái thú
Mời ăn trầu
Ngại ngùng
Nguyệt hỡi đê mê
Nhĩ Hà tức cảnh
Núi Ba Đèo
Núi Kẽm Trống
Nước Đằng
Ốc nhồi
Phiếm chu ngoạn nguyệt
Quả mít
Quá Nghệ An hoài giai nhân, hựu thể
Quan Hậu sợ vợ
Quán Sứ tự
Sài Sơn thiên thị (Chợ trời núi Thầy)
Sư hoạnh dâm
Tặng tình nhân
Tát nước
Thân phận người đàn bà
Thị Đểu thi
Thơ tự tình
Thương
Thương ôi phận gái
Thương thay phận gái
Tiễn người làm thơ
Tình có theo ai
Trách Chiêu Hổ 2
Trào tăng
Trúc Bạch hồ
Tức sự
Vịnh bách chu - tức sương nữ
Vịnh cái quạt
Vịnh dạy con trẻ
Vịnh đời người
Vịnh Hằng Nga
Vịnh hoa cúc
Vịnh nằm ngủ
Vịnh nhàn cư
Vịnh ni sư
Vịnh ông cắng đánh nhau
Vịnh Thăng Long hoài cổ
Vịnh xuyên cổ (Vịnh trống thủng)
Vô âm nữ
Vài câu thơ ngắn
Vọng Tây Hồ hoài hữu
TPTN: Đền Trấn Quốc



Được sửa bởi Vân Nhi ngày Thu May 17, 2012 10:19 am; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 9:47 am

Bánh trôi (nước)


Thân em thời trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm[1] mấy nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son.[2]



Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Câu 4: Mà em vẫn giữ tấm lòng son

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh hàn thực bính
Câu 1: Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Câu 3: Mềm rắn nhờ tay quân tử vọc
Câu 4: Khăng khăng vẫn giữ tấm lòng son

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Lưu thủy bính
Câu 1: Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Câu 4: Trong lòng vẫn giữ một hòn son

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Vịnh hàn thực bính
Câu 1: Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Câu 2: Bảy nổi ba chìm mấy nước sông
Câu 3: Mềm rắn nhờ tay quân tử trộn
Câu 4: Khăng khăng vẫn giữ tấm lòng son



Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ hiện tượng khi luộc bánh trôi, viên nào chín sẽ nổi trên mặt nước, những viên chưa chín thì vẫn chìm ở đáy nồi.
2. Lòng son sắt, mượn nghĩa từ chữ Hán "đan tâm", hàm ý chỉ nhân bánh trôi là cục đường phên màu đỏ sậm như màu son.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 9:55 am

Cái giếng


Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông

Giếng tót[1] thanh thơi rất lạ lùng.

Cầu trắng phau phau hai ván ghép

Nước trong leo lẻo một dòng thông.

Cỏ gà lún phún leo quanh mép,

Cá diếc le te lội giữa dòng

Giếng ấy thanh tân ai đã biết

Đố ai dám thả nạ rồng rồng.[2]



Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1921)



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Khảo dị:

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh cái giếng thơi
Câu 2: Giếng tót thanh thơi giếng lạ lùng
Câu 3: Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Câu 7: Giếng ấy thanh tân ai ví biết
Câu 8: Thư sinh xin thả nạ rồng rồng

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh cái giếng
Câu 2: Có giếng xinh thay giếng lạ lùng
Câu 3: Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Câu 5: Cỏ gà lún phún chung quanh mọc
Câu 6: Cá diếc thung thăng rạch giữa dòng
Câu 7: Đôi ấy thanh tân ai dám biết
Câu 8: Thư sinh xin thả cá rồng rồng


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Tót là từ cổ, có nghĩa là tột cùng, ý là trong trẻo rất mực.
2. Nạ từ cổ chỉ mẹ, rồng rồng là cá quả, cá sộp con mới nở sống thành đàn. Nhiều bản quốc ngữ ghi dòng dòng/ đòng đòng đều không đúng âm. Trong dân gian, cá sộp là biểu tượng chỉ dương vật, còn cá diếc là biểu tượng chỉ âm vật.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 10:38 am

Cái quạt



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Một lỗ xâu xâu[1] mấy cũng vừa

Duyên này tác hợp tự ngàn xưa

Chành ra ba góc da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

Mát mặt anh hùng khi tắt gió

Che đầu quân tử lúc sa mưa

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng

Phì phạch trong lòng đã sướng chưa.[2]




Hồ Xuân Hương
(Quốc văn tùng ký)

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Lỗ tức "lỗ cay", khi làm quạt giấy, trước hết người ta phải khoan lỗ ở hai nan cái và các nan bọng, sau đó mới "đóng thau" xuyên qua nan để ghép thành khung quạt. Thau là đoạn dây đồng, dây thép nhỏ cứng được cắt rời từng khúc khoảng vài phân, dùng làm cái suốt xâu qua lỗ cay của nan quạt, từ chuyên môn gọi là "đóng thau" hay "cắm suốt".
2. Bài này trong văn bản chỉ có 4 câu đầu, các bản quốc ngữ sau này có thêm 4 câu sau nữa:

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 10:44 am

Canh khuya



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Canh khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan mấy nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy chòm

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình son trẻ tí con con



Hồ Xuân Hương
(Quốc văn tùng ký)



Khảo dị: bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Hữu hoài
Câu 1: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Câu 6: Đâm toạc chân mây đá một hòn
Câu 8: Mối tình san sẻ thí con con


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 10:52 am

Cảnh thu [1]


Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,

Bút thần khôn vẽ cảnh tiếu sơ,

Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.

Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.




Hồ Xuân Hương


1. Tác phẩm tồn nghi. Có sách cho là bài thơ này của Bà huyện Thanh Quan. Ở văn bản Landes 1893, bài thơ này không có đầu đề. Câu thứ hai là "Đố ai vẽ được cảnh tiếu sơ" và có lời dẫn: "Ngày xưa Xuân Hương đi chơi gặp mưa, vào chơi thăm làng Văn Giáp, thấy có một chùa xưa, Xuân Hương và chùa lậy Phật, rồi đi xem ngoài chùa. Thấy bên chùa có cây đa. Ngửng lên xem thì cao ngút không biết tới đâu, cho nên làm bài thơ này (cây đa này đến nay còn)".

Ở bản Đông châu 1917, có lời dẫn: "Một ngày kia đang mùa quý thu, giời lún phún dăm ba hạt mưa, hơi ngăm ngăm rét, quan phủ nhân vô sự, mới sai bày cuộc rượu, cho gọi cô hai ra cùng ngồi uống rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu. Đương khi chén quỳnh đầy vơi, chiều thu hiu hắt, quan phủ liền bảo Xuân Hương vịnh bài tức cảnh. Thơ rằng: "..."".

Bài thơ này cũng có chép trong phần của Bà huyện Thanh Quan.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 10:57 am

Chế sư


Chẳng phải Ngô[1] chẳng phải ta

Đầu thì trọc lốc áo không tà.

Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm

Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.

Khi cảnh khi tiu khi chũm choẹ[2]

Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha

Tu lâu có nhẽ lên sư cụ,

Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.




Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1922)



Khảo dị: bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Nhạo sư
Câu 1: Chẳng phải Ngô mà chẳng phải ta
Câu 6: Giọng thầy giọng khách giọng hi ha


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ người Trung Hoa nói chung.
2. Cảnh, tiu, chũm choẹ là các nhạc khí bằng đồng thuộc bộ gõ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 2:02 pm

Chi chi chuyện ấy



Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Chi chi chuyện ấy đã đành lòng

Vó ký[1] phen này quyết thẳng rong

Non nước chơi hoài non nước đó,

Gió trăng nào phải gió trăng không.

Mặt càng đối mặt tình ngao ngán

Tay chửa rời tay bước ngại ngùng

Lão Nguyệt nhẽ nào trêu quải mãi

Chén đồng[2] xin hẹn khắc đêm đông.




Hồ Xuân Hương
(Quế Sơn thi tập)

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008


1. Ký là loại ngựa khỏe đời xưa, sức chạy ngày ngàn dặm.
2. Chén rượu cùng nhau thề nguyền suốt đời chung sống, một lòng một dạ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 2:56 pm

Chơi hoa


Đã trót chơi hoa phải có trèo,

Trèo lên chớ ngại mỏi xương nhèo.

Cành la cành bổng vin co vít,

Bông chín bông xanh để lộn phèo.




Hồ Xuân Hương





1. Cành thấp.
2. Bông tàn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 3:05 pm

Chơi Khán Đài


Êm ái chiều xuân tới Khán Đài,[1]

Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.

Bốn mùa triêu mộ[2] chuông gầm sóng

Một vũng tang thương nước lộn trời.

Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn

Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi.

Nào là cực lạc là đâu tá

Cực lạc là đây chín rõ mười.




Hồ Xuân Hương
(Quốc văn tùng ký)


Khảo dị:
- Bản Âm tập ca
Tựa đề: Vịnh đăng đài tức cảnh
Câu 3: Bốn mùa chiêu mộ chuông âm sóng
Câu 5: Bể Sở ngàn trùng khôn tát cạn

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Đăng đài tức cảnh
Câu 1: Êm ái chiều xuân tới cửa Đài
Câu 3: Bốn mùa triêu mộ chuông âm sóng
Câu 5: Bể Sở ngàn trùng khôn tát cạn
Câu 8: Độc lạc là đây chín rõ mười (chỉ sự vui thú riêng một mình)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ đài xem duyệt binh của vua Lê Thánh Tông, trên một quả núi đất ở phía tây Hoàng thành. Cũng do sự tích này mà quả núi ấy mang tên là núi Khán (Khán Sơn) và thôn làng ở khu vực ấy cũng mang tên là thôn Khán Sơn. Cho đến đầu thời Nguyễn núi Khán vẫn còn. Khi người Pháp xây dựng một loạt công trình gồm Phủ Toàn quyền, trường trung học Anbe Xarô (Albert Sarraut), Vườn Bách thảo thì núi Khán mới bị san bằng. Thôn Khán Sơn do hợp nhất với thôn Xuân Sơn thành ra làng Khán Xuân, rồi lại đổi thành phường Khán Xuân, thuộc huyện Vĩnh Thuận, chính là nơi sinh trưởng của Hồ Xuân Hương.
2. Sớm chiều.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 3:27 pm

Chùa Hương Tích


Bày đặt vì ai khéo khéo vòm

Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.

Người quen cửa Phật chen chân xọc

Kẻ lạ bầu Tiên[1] mỏi mắt dòm.

Giọt nước hữu tình rơi thánh thót

Con thuyền vô trạo[2] cúi lom khom.

Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại

Rõ khéo trời già đến dở dom.[3]




Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1922)



Khảo dị:

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh động Hương Tích
Câu 1: Bày đặt vì ai thực khéo vòm
Câu 2: Nứt ngang một lỗ hỏm hòm hom
Câu 3: Người quen cảnh Phật chen chân xọc
Câu 6: Cửa hang vô ngạn cúi lom khom

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh Hương Tích tự chỉ có 4 câu
Câu 1: Trời đất sinh ra cũng khéo vòm
Câu 2: Sinh ra một lỗ hỏm hòm hom
Câu 3: Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm
Câu 4: Con đường vô ngạn tối lom om

- Bản Tạp thảo thi
Tựa đề: Vịnh Hương Tích tự chỉ có 4 câu
Câu 1: Trời đất sinh ra cũng khéo vòm
Câu 2: Sinh ra một lỗ hỏm hòm hom
Câu 4: Cái đường vô ngạn tối lom om


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Bầu Tiên: là chỗ Tiên ở.
2. Nghĩa là không có mái chèo. Do vào hang phải tạm cất mái chèo kẻo đụng trần ví như thuyền không có mái chèo.
3. Dở dom: là bày vẻ, bày đặt

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 3:36 pm

Chùa Sài Sơn [1]


Khen thay con tạo khéo khôn phàm

Một đố giương ra biết mấy ngàm.[2]

Triền đá cỏ leo sờ rậm rạp

Lạch khe nước rỉ mó lam nham.

Một sư đầu trọc ngồi khua mõ

Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am.

Đến nơi mới biết rằng Thánh Hoá

Chồn chân mỏi gối hãy còn ham.




Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1922)



Khảo dị:
bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh hang Thánh Hóa - Chùa Thầy
Câu 3: Sườn đá cỏ leo sờ rậm rạp
Câu 4: Lạch khe nước chảy mó lam nham


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chùa Núi Thầy hay chùa Thầy, tên chữ là Thiên Phúc tự, ở địa phận xã Thụy Khê, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây hiện nay, là một quần thể danh lam thắng cảnh gồm 16 ngọn núi cùng chùa chiền, hang động nổi tiếng từ lâu đời của xứ Đoài xưa. Chùa dựng ở chân núi, gối đầu vào sườn ngọn núi cổ có tên Thạch Thất. Vì gắn với sự tích ông thầy chùa nổi tiếng đời Lý là Từ Đạo Hạnh (tục gọi Đức Thánh Từa) có công dạy dân tu nhân tích đức theo đạo Phật, dạy dân nghề múa rối nước, chữa bệnh cho dân... Do đó có tên núi Thầy hoặc núi Phật Tích. Tại quần thể di tích này còn có hang Thánh Hoá, theo truyền thuyết là nơi Đức Thánh Từa giải xác để hoá thân làm vua Lý Thần Tông.
2. Đố: thanh gỗ to hoặc ống tre nằm xen ở bức vách để tăng độ cứng; ngàm: chỗ đầu nối những thanh ngang vào đố. Thành ngữ "ngàm nào đố ấy" nói về cách kiến trúc nhà ở xưa: một mảnh đố tre thì ngàm tre; đố gỗ thì ngàm gỗ. Một đố nhiều ngàm ở đây nói về cấu tạo hang động tự nhiên. Nếu coi cả vách động là một đố, thì vòm động với các hõm to, nhỏ là những ngàm.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 4:20 pm

Con cua




Em có mai xanh, có yếm vàng,

Ba quân[1] khiêng kiệu, kiệu nghêng ngang.

Xin theo ông Khổng về Ðông Lỗ,[2]

Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.[3]




Hồ Xuân Hương
(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí, 1967)


1. Ba quân ở đây là chỉ cái ngoe, cái càng của con cua.
2. Tức Khổng Tử, người nước Lỗ.
3. Bàn Canh và Thang là tên 2 vị vua của nhà Thương bên Tàu. Nhưng cũng có nghĩa có ngụ ý nói tác dụng của cua là nấu canh làm cỗ bàn và dùng làm than để nấu bún than nữa. Sở dĩ có 2 câu này là do người đời thường nói: "học dốt như cua" và "chữ viết như cua bò". Dốt nên theo ông Khổng Tử học.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 4:31 pm

Đá chẹt thi


Cục núi khen cho khéo bất tình

Thò ra đứng chẹt giữa đường Thanh.[1]

Hai bên khép lại hơi gần tí,

Một dải thông qua chút đỉnh đinh.

Thế lộ có đâu ngăn đón mặt

Nhân tình ai chịu cản ngang mình

Bấy nhiêu năm trước nghe còn chẹt,

Mới mở mang ra đã rộng thênh.




Hồ Xuân Hương
(Tạp thảo tập)

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ vùng Thanh Hóa.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Thu May 10, 2012 4:40 pm

Đá ông bà chồng


Khéo khéo bày trò tạo hoá công

Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng[1]

Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,

Thớt dưới sương pha đượm má hồng.

Gan nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt

Khối tình cọ mãi với non sông

Đá kia còn biết xuân già giặn

Chả trách người ta lúc trẻ trung.




Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1922)



Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh đá ông Chồng bà Chồng
Câu 4: Thớt dưới sương pha đạm má hồng
Câu 8: Chẳng trách người ta lúc trẻ trung

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh núi ông Chồng bà Chồng
Câu 1: Trời đất sinh ra cũng lạ lùng
Câu 2: Ông Chồng sao lại có Bà Chồng
Câu 3: Đầu trên tuyết nhuốm phơ râu bạc
Câu 4: Lối dưới sương gieo lõm má hồng
Câu 5: Cột nghĩa vểnh ra phô chị Nguyệt
Câu 6: Mảnh tình khép lại chắn ngang sông
Câu 7: Ô hay hồn đá còn như thế
Câu 8: Chẳng trách đôi ta lúc trẻ trung

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Vịnh núi ông Chồng bà Chồng có thêm phụ đề chữ nhỏ "Hương Tích sơn tự"
Câu 1: Trời đất sinh ra khéo lạ lùng
Câu 2: Ông Chồng sao lại có Bà Chồng
Câu 3: Đầu trên tuyết nhuốm phơ râu bạc
Câu 4: Lối dưới sương gieo lõm má hồng
Câu 5: Cột nghĩa vểnh ra phô chị Nguyệt
Câu 6: Mảnh tình khép lại chắn ngang sông
Câu 7: Ô hay hồn đá còn như thế
Câu 8: Chẳng trách người ta lúc trẻ trung


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo Trần Thanh Mại, núi Ông Chồng Bà Chồng thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang. Theo các sách "Đại Nam nhất thống chí" và phần "Địa dư chí" thì không thấy địa danh thắng cảnh nào là núi Ông Chồng Bà Chồng. Còn theo "Tạp thảo tập" thì ghi núi này thuộc vùng chùa Hương.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 8:25 am

Đàn gảy


Đàn gảy đâu sinh tính tính tình,

Sóng dây mà buộc khéo rằng xinh.

Bóng gương tri kỷ soi thiên cổ

Tiếng trống chung tình gióng ngũ canh.

Mấy dặm non sông chi dám ngại

Trăm năm vàng đá quyết cho đành.

Trăng già có nhẽ trêu nhau mãi,

Cầm sắt[1] phen này quyết tấp tênh.




Hồ Xuân Hương
(Quế Sơn thi tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Tức đàn cầm và đàn sắt thời cổ, thường dùng hòa âm với nhau, văn học cổ thường dùng để chỉ cảnh vợ chồng hòa hợp.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 8:28 am

Đánh cờ


Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thủy không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Ðể đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.
Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Ðem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.




Hồ Xuân Hương



Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008


1. Tức đàn cầm và đàn sắt thời cổ, thường dùng hòa âm với nhau, văn học cổ thường dùng để chỉ cảnh vợ chồng hòa hợp.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 2:09 pm

Đánh đu



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Bốn cột[1] khen ai khéo khéo trồng,

Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,

Trai đu gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,

Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Chơi xuân[2] có biết xuân chăng tá.

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.




Hồ Xuân Hương


1. Bốn cây tre trồng làm cây đu.
2. Cuộc vui chơi đón xuân.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 2:46 pm

Đề nhị mỹ nhân đồ


Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mình,

Chị cũng xinh mà em cũng xinh.

Trăm vẻ như in tờ giấy trắng

Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh.

Phiếu mai[1] chăng dám đường kia nọ

Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.

Có một thú vui sao chẳng vẽ

Trách người thợ ấy khéo vô tình.



Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Tranh Tố Nữ
Câu 1: Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Câu 5: Phiếu mai chi dám tình trăng gió
Câu 7: Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Câu 8: Trách người thợ vẽ khéo vô tình

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh Tố Nữ đồ
Câu 5: Phiếu mai chăng dám đường trăng gió

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh Tố Nữ đồ
Câu 3: Trăm vẻ như in màu giấy trắng
Câu 5: Phiếu mai chẳng dám đường trăng gió

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh tranh hai cô Tố Nữ
Câu 1: Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Câu 3: Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Câu 5: Phiếu mai chi dám tình trăng gió
Câu 7: Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Câu 8: Trách người thợ vẽ khéo vô tình


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Cũng đọc Xiếu mai, có nghĩa quả mai rụng, là tên bài "Phiếu hữu mai" trong Kinh Thi, nội dung nói cây mai đã rụng phần lớn quả, nhưng cũng vẫn còn quả trên cây, ám chỉ người con gái đã lớn tuổi song vẫn còn kịp lấy chồng.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 2:56 pm

Dệt cửi đêm


Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau

Con cò[1] mấp máy suốt đêm thâu.

Hai chân đạp xuống năng năng nhắc

Một suốt[2] đâm ngang thích thích mau

Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả

Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau.

Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,[3]

Chờ đến ba thu[4] mới dãi màu.



Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh khung cửi
Câu 8: Chờ đến ba thu hãy dãi màu

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh chức nữ (Vịnh cô gái dệt cửi)
Câu 1: Mới thoạt dàn ra thấy trắng phau
Câu 2: Cái cò cót két suốt đêm thâu
Câu 3: Hai chân dãi thẳng năng năng nhắc
Câu 4: Một cái thoi đưa thoắt thoắt mau
Câu 5: Rộng hẹp dày thưa tùy mặc ý
Câu 6: Ra vào khuôn khổ cũng như nhau
Câu 7: Cô như muốn tốt ngâm cho kỹ
Câu 8: Được nước vò trong mới đậm màu.


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Miếng gỗ đẽo hình con cò, buộc ở trên cao để mắc dây go trong khung cửi thủ công.
2. Ống nhỏ bằng tre, gỗ hoặc giấy, dùng quấn sợi để cho vào thoi dệt.
3. Chỉ việc ngâm vải (tơ, lụa) trong nước hồ loãng quấy bằng bột gạo để cho vải mịn mặt.
3. Chỉ 3 tháng mùa thu lúc có nắng hanh là lúc thời tiết thuận lợi cho việc đem vải nhuộm màu và dãi nắng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 3:37 pm

Đọc cho Chiêu Hổ họa


Những bấy lâu nay luống nhắn nhe,

Nhắn nhe toan những sự gầm ghè.

Gầm ghè nhưng vẫn còn chưa dám

Chưa dám cho nên phải rụt rè.





Hồ Xuân Hương
(Bản khắc 1921)



Khảo dị:

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Xuân Hương xướng
Câu 1: Từ bấy lâu nay những nhắn nhe
Câu 2: Nhắn nhe toan những sự gùn ghè
Câu 3: Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Xuân Hương hoạ vận (có lẽ ghi nhầm, phải là "xướng vận")
Câu 1: Nào có xa gì phải nhắn nhe
Câu 2: Nhắn nhe ý lại muốn gùn ghè
Câu 3: Gùn ghè nhưng lại tình không dám
Câu 4: Không dám cho nên phải rụt rè

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Xuân Hương hoạ vận (có lẽ ghi nhầm, phải là "xướng vận")
Câu 1: Đấy có xa đâu phải nhắn nhe
Câu 2: Nhắn nhe ý lại muốn gùn ghè
Câu 3: Gùn ghè nhưng lại tình không dám
Câu 4: Không dám cho nên phải rụt rè.


Chiêu Hổ họa lại

Hỡi hỡi cô bay tớ bảo nhe

Bảo nhe không được gậy ông ghè

Ông ghè chẳng vỡ ông ghè mãi

Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.



(Bản khắc 1922)



Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Chiêu Hổ đáp
Câu 4: Ghè mãi lâu lâu cũng phải rè

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Quan Chiêu Hổ xướng vận (cần chỉnh lý văn bản là "Quan Chiêu Hổ hoạ vận")
Câu 1: Hỡi hỡi cô Hương lại bảo nhe
Câu 2: Bảo nhe không được ắt ta ghè
Câu 3: Ta ghè không được ta ghè mãi
Câu 4: Ghè mãi lâu lâu cũng phải rè

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Quan Chiêu Hổ xướng vận (cần chỉnh lý văn bản là "Quan Chiêu Hổ hoạ vận")
Câu 1: Hỡi hỡi cô Hương lại bảo nhe
Câu 2: Bảo nhe không được ắt ta ghè
Câu 3: Ta ghè không được ta ghè mãi
Câu 4: Ghè mãi thời lâu cũng phải rè


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ thái độ gây sự, có phần hơi hung hăng, còn "gùn ghè" chỉ việc gạ gẫm này nọ
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Fri May 11, 2012 3:50 pm

Đồng tiền hoẻn [1]


Cũng lò cũng bễ cũng cùng than,

Mở mặt vuông tròn[2] với thế gian.

Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,

Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.[3]




Hồ Xuân Hương

(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí, 1967)


1. Tiền hoẻn là tiền sét hay rỉ.
2. Đồng tiền xưa hình tròn có lỗ vuông ở giữa.
3. Ý nói dù có sét hay rỉ nhưng chỉ cần đủ 60 đồng là được 1 quan tiền.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 2:10 pm

Du cổ tự


Thầy tớ thong dong dạo cảnh chùa,

Cầm thư lưng túi rượu lưng hồ.

Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác

Chim núi nghe kinh cổ gật gù.

Then cửa từ bi nêm chật cánh

Nén hương tế độ cắm đầy lò

Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí,[1]

Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ.



Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:

bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh thiền
Câu 1: Thầy tớ thong dong tới cửa chùa
Câu 6: Triện hương tế độ cắm đầy lò

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Dụng ý chơi chữ xỏ xiên: có thể hiểu là "hỏi nhà sư một tí", vừa có thể hiểu là hỏi con của nhà sư...
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 2:22 pm

Dữ Phạm tế tửu xướng hoạ, kỳ nhị
(Xướng hoạ với quan Tế tửu họ Phạm, bài 2)


Kìa ai tỉnh, kìa ai say

Kìa ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Khoan khoan xin hãy dừng tay lại

Chớ mó hang hùm nữa mất tay.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:

- Bản khắc 1922
Tựa đề: Cợt ông Chiêu Hổ
Câu 1: Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Câu 2: Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 3: Này này chị bảo cho mà biết
Câu 4: Ấy chốn hang hùm chớ mó tay

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tặng ông Chiêu Hổ
Câu 1: Anh đồ tỉnh hay anh đồ say
Câu 2: Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 3: Này này chị bảo cho mà biết
Câu 4: Ấy chốn hang hùm chớ mó tay

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Xuân Hương xướng vận
Câu 1: Cớ sao tỉnh rượu lại sao say
Câu 2: Cớ sao ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 4: Chớ mó hang hùm nó cắn tay

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Xuân Hương xướng vận
Câu 1: Cớ sao tỉnh tỉnh lại sao say
Câu 2: Cớ sao ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 4: Chớ mó hang hùm nó cắn tay

- Bản Liệt truyện thi ngâm
Tựa đề: Vịnh hý nữ (Vịnh người trêu gái)
Câu 1: Say hay tỉnh, tỉnh hay say
Câu 2: Trêu hoa ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 3: Dịch lại gần đây cho chị bảo
Câu 4: Những chốn hang hùm chớ mó tay


Phạm họa
(Họ Phạm họa lại)

Nào ai tỉnh nào ai say

Nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Ví dầu hang chẳng cho ai mó

Sao có hùm con bỗng trốc tay.


(Bản khắc 1914)



Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chiêu họa
Câu 1: Này ông tỉnh, này ông say
Câu 2: Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 3: Hang hùm ví bẵng không người mó
Câu 4: Sao có hùm con bỗng trót tay

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Chiêu Hổ đáp lại
Câu 1: Ừ thời ông tỉnh ừ ông say
Câu 2: Ừ ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Câu 3: Hang hùm ví bẵng không tay mó

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Quan Chiêu họa vận
Câu 1: Nào ai tỉnh rượu nào ai say
Câu 3: Ví dầu nguyệt chẳng cho ai mó
Câu 4: Sao có con hùm bỗng trốc tay

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Chiêu Hổ họa vận
Câu 1: Nào ai tỉnh rượu nào ai say
Câu 3:Ví khiến hang hùm không kẻ mó
Câu 4: Lấy đâu hùm nhỏ bỗng trên tay

- Bản Liệt truyện thi ngâm
Tựa đề: Hoàng giáp Hoằng Bộ họa nguyên vận
Câu 1: Chẳng tỉnh như mà cũng chẳng say
Câu 2: Chơi đêm không sướng phải chơi ngày
Câu 3: Hang hùm ví chẳng tay người mó
Câu 4: Sao có hùm con bỗng ở tay.


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 2:33 pm

Đưa đò


Chú lái kia ơi, biết chú rồi,

Qua sông rồi lại đấm ngay bài!

Chèo ghe vừa khỏi dòng khúc ngược,

Đấm c... đưa vào ngấn nước xuôi.

Mới biết lên bờ đà vỗ đít,

Nào khi giữa khúc đã co vòi.

Chuyến đò nên nghĩa sao không nhớ?

Sang nữa hay là một chuyến thôi?




Hồ Xuân Hương


Nguồn: Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài, Nguyễn Văn Hanh, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1968

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 2:40 pm

Duyên kỳ ngộ


Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,

Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.

Tấc gang tay họa thơ không dứt,

Gần gụi cung dương lá vẫn lành.

Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,

Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.

Tuy không thả lá trôi dòng ngự,

Chim tới vườn đào thế mới xinh.




Hồ Xuân Hương



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 2:57 pm

Già kén kẹn hom


Bụng làm dạ chịu trách chi ai,

Già kén kẹn hom ví chẳng sai.

Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,

Thừa mâm bánh ngọt để ngâu vầy.

Miệng khôn trôn dại đừng than phận,

Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời!

Ðừng đứng núi này trông núi nọ,

Ðói lòng nên mới phải ăn khoai.




Hồ Xuân Hương



- Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet -


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:05 pm

Hạ nhật tầm phu
(Ngày hè tìm chồng)


Xa xôi chăng quản ngại đường đi

Nắng rực làm chi bấy những hè

Khắc khoải đã đau lòng cái quốc

Âu sầu thêm xót dạ con ve.

Người nằm trướng gấm bồ hôi đượm

Kẻ hái rau tần[1] nước bọt se

Nào khúc Nam huân[2] sao chẳng gảy

Để cho bồ liễu phận le te.




Hồ Xuân Hương

(Liệt truyện thi ngâm)

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Loại rau mọc dưới nước. Trong Kinh Thi có bài "Thái tần" (Hái rau tần) nói về người phụ nữ chăm chỉ hái rau tần rau tảo về cúng gia tiên, nên văn học cổ thường dùng cụm từ "tần tảo" để chỉ người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó chăm lo việc nhà.
2. Nam huân là gió nam ấm áp, ví với cảnh thái bình thịnh trị, có xuất xứ từ Bài ca gió Nam của vua Thuấn. Ở câu thơ này, tác giả mượn tên bài ca xưa để nói về sự mong mỏi có gió nam mát mẻ trong ngày hè.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:23 pm

Hang Cắc Cớ [1]


Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Trời đất sinh ra đá một chòm

Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom.

Kẽ hầm[2] rêu mọc trơ toen hoẻn,

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,

Con đường vô ngạn[3] tối om om.

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,[4]

Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.




Hồ Xuân Hương

(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí)


1. Hang này ở Kẻm Trống, thuộc huyện Kim Bằng tình Ninh Bình.
2. Kẻ hầm: là cửa sâu thăm thằm.
3. Vô ngạn: tức vô bờ vô bến vô tận vô cùng.
4. Xuyên là dùi, khoét. Tạc là đào, xẻ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:31 pm

Hàng ư Thanh
(Quán hàng ở xứ Thanh)


Ðứng tréo trông ra cảnh hắt heo,

Ðường đi thiên thẹo quán cheo leo.

Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác

Xỏ kẽ kèo tre đốt khẳng kheo.

Ba chạc cây xanh hình uốn éo

Một dòng nước biếc cỏ lèo tèo

Thú vui quên cả niềm lo cũ,

Kìa cái diều ai gió lộn lèo.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1922)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tức cảnh
Câu 2: Ðường đi thiên thẹo quán leo teo

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Hựu vịnh (Lại vịnh, tức bài vịnh thứ hai sau bài "Vịnh ba đèo")
Câu 1: Ðứng tréo mà trông lối rậm rèo
Câu 2: Ðường đi thiên thẹo quán xiêu ngheo
Câu 4: Xỏ lỗ kèo tre đốt khẳng kheo
Câu 5: Ba gạc thế cây hình uốn éo
Câu 6: Một vùng nước giếng cỏ lèo tèo
Câu 7: Thú vui quyến hết đường lo cũ
Câu 8: Kìa cái diều ai nó lộn lèo

- Bản Tạp thảo tập
Nội dung giống như bản Xuân Hương thi sao ngoại trừ
Câu 7: Thú vui quên hết đường lo cũ.


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:39 pm

Hỏi cô hàng sách


Cô hàng lấy sách cắp ra đây!

Xem thử truyện nào thú lại say.

Nữ tú có bao xin xếp cả,

Phương hoa phỏng liệu có còn hay...?

Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,

Chinh phụ thế nào bán lấy may.

Kỳ ngộ bích câu [1] xin tiện hỏi,

Giá tiền cả đó tính sao vay.[2]




Hồ Xuân Hương

(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí))


1. Nữ tú, Phương hoa, Tuyển phu, Chinh phụ, Kỳ ngộ bích câu đều là tên những tác phẩm xưa.
2. Tính sao vay: tức tính sao đây chứ không phải vay mượn (Tiếng cổ trong ngôn ngữ VN)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:45 pm

Hỏi trăng - bài 1


Một trái trăng thu chín mõm mòm,

Nảy vừng quế đỏ[1] đỏ lòm lom!

Giữa in chiếc bích[2] khuôn còn méo,

Ngoài khép đôi cung[3] cánh vẫn khòm.

Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,

Ngứa gan thằng Cuội[4] đứng lom khom.

Hỡi người bẻ quế[5] rằng ai đó,

Đó có Hằng Nga[6] ghé mắt dòm.




Hồ Xuân Hương



1. Huyền thoại nói trong mặt trăng có cây quế đỏ.
2. Chiếc ngọc bích hình tròn dẹt, giữa có lỗ, người ta gọi mặt trăng là bích nguyệt.
3. Người ta thường ví đường cong của mặt trăng như người tráng sĩ giương cánh cung.
4. Ca dao: "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời..." ở đây vì tức tối nên thằng Cuội không ngồi mà đứng.
5. Bẻ cành quế đỏ (đan quế) trên cung trăng, chỉ người thi đỗ tiến sĩ.
6. Huyền thoại nói Hằng Nga vợ Hậu Nghệ ăn trộm thuốc tiên của chồng do bà Tây Vương mẫu cho, rồi một mình trốn lên ở cung trăng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Mon May 14, 2012 3:54 pm

Hỏi trăng - bài 2


Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.

Hỏi con bạch thố[1] đà bao tuổi,

Hở chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm tối cớ chi soi gác tía?

Ngày xanh còn thẹn với vừng son?

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nước non?




Hồ Xuân Hương

(Thái Bạch, Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Khai Trí))


Còn thấy có bản khác có một số câu có thay đồi:

Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn,

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?

Hỏi con Ngọc Thỏ đà bao tuổi?

Chứ chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng?

Ngày xanh sao lại thẹn vừng son?

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nước non?



1. Con bạch thố: là cái bóng trên mặt trăng còn gọi là con thiềm thừ hay con cóc.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:38 pm

Hữu cảm


Thảm hại chiều xuân chẳng nể nhau,

Yêu hoa chi để với hoa sầu.

Nửa sân phong nguyệt chưa chồi ngọc

Một bức thư tình lặng hạt châu.

Hồn bướm năm canh bầu bạn thỏ

Cầu ô muôn kiếp vợ chồng Ngâu.

Tương tư biết thuở nào khuây khỏa

Giọt nước duềnh Tương đã đến đâu.




Hồ Xuân Hương

(Xuân Hương thi vịnh)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Hoặc "doành Tương", tức dòng sông Tương ở Hồ Nam, Trung Quốc.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:44 pm

Khấp Vĩnh Tường quan


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường[1] ôi!

Cái nợ phù sinh có thế thôi

Chôn chặt văn chương ba thước đất

Ném tung hồ thỉ[2] bốn phương trời.

Nắm xương dưới đất chau mày khóc

Hòn máu[3] trên tay mỉm miệng cười.

Đã thế thời thôi cho mát mẻ

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi!




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Khấp quan phủ
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Hăm bảy tháng trời là mấy chốc

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khóc ông phủ Vĩnh Tường
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Hạt sương dưới chiếu cau mày khóc
Câu 6: Giọt máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Năm bảy tháng trời là mấy chốc
Câu 8: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 10
Câu 2: Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời
Câu 4: Phá tan hồ thỉ bốn phương trời
Câu 7: Vì chữ tình chung nên phải viếng

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ
Câu 1: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ
Câu 8: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

- Bản Đăng khoa lục sưu giảng
Tựa đề: Điếu quan phủ Vĩnh Tường
Câu 2: Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi
Câu 5: Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc
Câu 6: Chảy máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Phúc quả công danh phó trả trời


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Nguyên là phủ Tam Đái thuộc tỉnh Sơn Tây, đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) mới đổi là Vĩnh Tường.
2. Từ chữ Hán "tang hồ bồng thỉ" (cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng). Tục cổ của người Hán xưa, hễ sinh con trai thì lấy cung dâu tên cỏ bồng bắn ra bốn phương trời, ngụ ý rằng chí làm trai phải tung hoành bốn phương.
3. Nắm xương, hòn máu: hai câu ý nói nhìn cảnh chôn cất ông phủ (nắm xương dưới đất) thì đau lòng mà khóc; nhưng ngẫm đến chuyện có đứa con nhỏ bế trên tay (hòn máu trên tay) thì lại thấy mừng thầm.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:50 pm

Khóc chồng làm thuốc


Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì

Thương chồng nên phải khóc tì ti.

Ngọt ngào thiếp nhớ mùi cam thảo,

Cay đắng chàng ôi vị quế chi.

Thạch nhũ trần bì sao để lại

Quy thân liên nhục [1] tẩm đem đi.

Dao cầu[2] thiếp biết trao ai nhỉ

Sinh ký chàng ôi tử tắc quy.[3]




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Cô lang thuốc khóc chồng
Câu 2: Thương chồng nên nỗi khóc tì ti
Câu 6: Quy thân liên nhục nhớ đem đi
Câu 7: Dao cầu thiếp biết trao ai được

- Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 42
Câu 2: Khóc gì những tiếng tỉ tì ti
Câu 5: Thạch nhũ trần bì phong để lại
Câu 6: Quy thân liên nhục gói đem đi
Câu 7: Đông hoa thảm đạm hay chăng tá
Câu 8: Sinh giã thương tâm tử giã ly


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục đều là tên các vị thuốc Đông dược. Tuy nhiên, trong hàng trăm vị thuốc, tại sao tác giả chỉ chọn có mấy vị này, chắc không phải tùy tiện. Câu 5 nói đến nhũ (vú), bì (da) phải chăng chỉ người vợ ở lại; câu 6 nói thân (mình mẩy), thịt (nhục) phải chăng chỉ người chồng phải đem tẩm liệm chôn cất.
2. Loại dao chuyên dùng để cắt, thái thuốc.
3. Thành ngữ tiếng Hán, có nghĩa sống là gửi tạm, chết là về cõi vĩnh hằng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 1:56 pm

Khóc Tổng Cóc [1]


Hỡi chàng ôi, hỡi chàng ôi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.[2]





Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1921)


Khảo dị:
- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khóc chàng Tổng Cóc
Câu 1: Chàng ơi ới hỡi hỡi chàng ôi
Câu 2: Lửa hương mới bén nửa năm trời
Câu 4: Nghìn vàng khôn chuộc giống bôi vôi

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Khấp phu quân danh Cai Cóc
Câu 1: Chàng ôi chàng hỡi hỡi chàng ôi
Câu 4: Nghìn vàng khôn chuộc giống bôi vôi

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Khấp Cai Cóc
Câu 1: Chàng ôi chàng hỡi hỡi chàng ôi

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Khấp phu Cai tổng Cóc
Câu 1: Chàng Cóc ôi chàng Cóc ôi


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Theo cụ Dương Văn Thâm sưu tầm tài liệu về giai thoại thơ Hồ Xuân Hương (tài liệu đã dẫn) thì Hồ Xuân Hương làm bài Khóc tổng Cóc trong thời gian đã lấy ông phủ Vĩnh Tường. Do sự rẽ duyên của người vợ cả và gia đình họ hàng nhà Cóc, nên Hồ Xuân Hương mới đưa cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ để giễu: nhái bén, chẫu chàng, nòng nọc, chẫu chuộc, tất nhiên là giễu một tổng Cóc còn sống, chứ không phải là khóc khi tổng Cóc chết, như bấy nay có người hiểu, e rằng bất nhẫn.

Theo bài viết nhan đề "Tổng Cóc với Xuân Hương" của nhà thơ Nguyễn Phú Long (Richmond, VA) đăng trong Tạp Chí Cỏ Thơm số 26 (2004) thì tên thật của Tổng Cóc là Cốc. Tên "Cóc" là do người dân Sơn Tây đặt cho ông để tỏ lòng kính phục ông đã có gan làm những việc phúc đức như vớt thây người chết trôi rồi mai táng lại. Người đời có những câu như "Gan cóc tía" và "Con cóc là cậu ông Trời". Theo chuyện kể của Nguyễn Phú Long thì HXH lấy Tổng Cóc để có nơi nương tựa lúc gia đinh gặp khó khăn. Rồi vì bị vợ lớn ghen nên bà bỏ đi, trở lại Khán Xuân. Lập luận này có hợp lý không khi mà việc bỏ vợ, bỏ chồng vào thời đó cũng phải được luật lệ cho phép? Bộ Luật Hồng Ðức tức Quốc Triều Hình Luật đời Vua Lê Thanh Tôn (1442- 1497) minh thị "người vợ tự ý bỏ nhà chồng, dù là về với bố mẹ ruột, bị coi là phạm trọng tội". Vả lại, bà vốn có ăn học, dòng giõi, nên tuy thích bỡn cợt, nhưng không vì thế mà bởn cợt cả với chồng. Dù sao thì cũng có bài thơ mà không biết có phải của bà không?
2. Theo truyện cổ tích dân gian, Ngọc Hoàng mở khoa thi, các loài cá đua nhau đến. Cóc cũng đến nhưng vì không có vây, không có đuôi như loài cá nên quan chánh chủ khảo không cho dự thi. Cóc cãi rằng vốn trước cũng có đuôi (lúc còn là nòng nọc) nhưng sau rụng mất. Quan chánh chủ khảo nổi giận, cho là cóc cãi bướng, bèn sai lính nọc ra đánh bẹt đầu, bôi vôi vào rồi đuổi về.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:03 pm

Không chồng mà chửa


Tranh phác thảo của Bùi Xuân Phái - internet


Cả nể cho nên hoá dở dang

Sự này có thấu hỡi chăng chàng.

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,

Phận liễu sao mà nảy nét ngang.[1]

Cái tội trăm năm chàng chịu cả

Chữ tình một khối thiếp xin mang.

Quản chi miệng thế lời chênh lệch

Chẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan.




Hồ Xuân Hương

(Bản khắc 1914)


Khảo dị:
- Bản khắc 1922
Tựa đề: Chửa hoang
Câu 2: Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Câu 7: Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Câu 8: Những kẻ khôn mà có kẻ ngoan

- Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Vịnh người chửa hoang
Câu 1: Cả nể cho nên nỗi dở dang
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 7: Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Câu 8: Không có nhưng mà thế mấy ngoan

- Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Vịnh nữ hoang thai
Câu 1: Quá nể cho nên sự dở dang
Câu 3: Duyên thiên chưa thấy đua đầu dọc
Câu 7: Ai ôi chớ có chê cười nhé
Câu 8: Không có nhưng mà thế mấy ngoan

- Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Vịnh nữ hoang thai
Câu 1: Quá nể cho nên hoá dở dang
Câu 3: Duyên thiên chưa thấy đua đầu dọc
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 8: Không có nhưng mà có mấy ngoan

- Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Hoang nữ
Câu 2: Sự này có biết hỡi chăng chàng
Câu 4: Phận liễu sao đà nảy nét ngang
Câu 5: Cái tội trăm năm chàng biết chửa
Câu 6: Mảnh tình một khối thiếp xin mang
Câu 7: Thôi thôi buộc chỉ từ nay nhé
Câu 8: Cấm thỏ đừng cho tới cửa hang


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ phu là chồng, chưa thấy nhô đầu dọc ý nói chưa thành chữ phu, tức chưa có chồng; chữ liễu là xong, đồng âm với chữ liễu là cây liễu ám chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ tử là con. Ý nói chưa có chồng mà đã có con, tức chửa hoang.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Vân Nhi
Đại Ca
Đại Ca
avatar

Tổng số bài gửi : 5581
Points : 5890
Thanks : 33
Join date : 04/11/2011
Age : 24
Đến từ : phan thiết

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    Tue May 15, 2012 2:08 pm

Ký tao nương Mộng Lan
(Gửi nữ sĩ Mộng Lan)


Gió thổi hơi Lan đã mát lừng,

Tự nhiên gặp gỡ cũng vì chưng.

Câu thơ vịnh tuyết còn văng vẳng,

Chén rượu chờ trăng vẫn ngấn lưng.

Cờ muốn thi gan xe pháo mã

Đàn còn lựa gảy tính tình tưng.

Nhắn ai mơ kẻ tri âm đó

Xin ngỏ lời ra chớ ngập ngừng.




Hồ Xuân Hương

(Tạp thảo tập)


Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

1. Chỉ rượu vẫn còn lưng chén, chưa uống cạn hết.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương    

Về Đầu Trang Go down
 
Hồ Xuân Hương
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thơ Tuyển Việt Nam :: Nhà Tây Sơn - Cận đại (1778 - 1930)-
Chuyển đến